Sunday, July 14, 2019

Sống bác ái - ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

Năm 1983, để cứu sống một người 36 tuổi ở Liên Xô, Bác sĩ Sumadrúp đã nhận một quả thận của một em bé gái từ bệnh viện Hoa Kỳ do Bác sĩ Montona gửi tới. Nhưng phải nhờ bao nhiêu công việc của máy điện toán các nước Balan, Đức, Pháp, Anh, Ý, của hàng ngàn bác sĩ làm việc mới tìm được quả thận của em bé gái tử thương vì tai nạn xe hơi đã hiến cho bệnh viện để cứu sống ai cần. Quả thận chỉ sống được 72 giờ, làm sao từ Hoa Kỳ đến Liên Xô? Mọi luật lệ về kiểm soát an ninh, mọi thủ tục giấy tờ quá cảnh đều được các chính phủ bãi miễn để khẩn cấp đưa quả thận đến kịp cứu chữa một người. Mọi ranh giới chủng tộc, giai cấp và chế độ hận thù cũng dứt bỏ trước sinh mạng của một người.

Luật đạo, luật đời đều có mục đích bảo toàn sự sống con người, sự sống thật quý giá, không có ngọc ngà châu báo nào đổi được. Nhà hiền triết Dương Chu sống đồng thời với Lão Tử đã quả quyết: Dù mất một sợi lông chân được lợi cả thiên hạ, cũng không làm: “bạt nhất mao nhi lợi thiên hạ, bất vi”. Đức Giêsu nhiều lần nhắc nhở chúng ta: “Được lời lãi cả thế gian, mất mạng sống mình nào được ích gì”. Cho nên không lạ gì, người ta đều mơ ước được sống trường thọ, chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu, vẫn chưa đủ, dân tộc nào cũng cho mình phát sinh từ nguồn gốc thần linh bất tử với những chuyện thần tiên hạnh phúc muôn thuở.

Dân tộc Việt Nam tự hào mình là con rồng cháu tiên, với những truyện Từ Thức lên tiên, Lưu Nguyễn lạc vào động thiên thai. Người Tàu cho mình là con cháu ông Bành Tổ vĩ đại, người Nhật nhận thần mặt trời là tổ tông. Người Ấn là con cháu của ba thần chí linh Braluna, Vishnu và Shiva, Người Hy Lạp là con cháu thần Zeus và Apôllô: Thần mỹ thuật, âm nhạc, ánh sáng, trai trẻ và cường tráng. Đế quốc La Mã thờ thần Jupiter dũng mãnh tối cao.

Những khát vọng chung của các dân tộc và của mỗi người không phải là ảo tưởng, hay huyền thoại, nhưng nó là một thứ gen nào đó, một thứ tâm thức sâu thẳm trong vô thức. Nói theo kiểu nhà Phật, đó là những chủng tử nằm sâu trong tạng thức như một thứ bào thai để sinh ra một đời sống mới. Chính những ước vọng đó đã hướng tới sự phục sinh mà Đức Giêsu là đầu, là trưởng tử đã sống lại từ cõi chết để ban cho các tiểu tử, các chi thể của Người được sống đời đời.

Người luật sĩ hỏi Đức Giêsu: “Tôi phải làm gì để được sống đời đời”. Câu hỏi bộc lộ một tâm trạng băn khoăn lo lắng, một thao thức thắc mắc muôn đời, chưa có ai giải quyết nổi, chưa có ai mở đường dẫn lối chính xác, trừ một mình Đấng từ trời xuống nói cho người dưới đất biết những sự trên trời và chỉ đường về trời để được sống đời đời.

Theo Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu chỉ cho ta con đường rất cụ thể tới sự sống đời đời, đó là con đường người Samari đã đi.

Đức Giêsu kể lại một câu truyện có lẽ xảy ra thường xuyên trên con đường từ Giêrusalem xuống Giêricô, dài chừng hơn hai mươi cây số, len lỏi qua rừng núi: Một người từ Giêrusalem đến Giêricô, có lẽ đi lễ về hoặc lo công việc làm ăn, chắc chắn có một số tiền của, nên bọn cướp để ý theo dõi. Chúng đã tàn nhẫn đánh người ấy đến nửa sống nửa chết giữa rừng. Tình cờ, có ba du khách đi qua, người thứ nhất là tư tế thấy vậy lách qua bên kia mà đi, người thứ hai là thầy trợ tế cũng thế. Người thứ ba là người Samari thấy cảnh tượng kẻ lâm nạn đang oằn oại đau đớn. Ông động lòng trắc ẩn, tiến lại gần dù biết kẻ lâm nạn là người Do Thái. Do Thái và Samari rất khinh bỉ nhau, họ không hề tiếp xúc với nhau. Nhưng lạ thay, trước cảnh nguy tử, mọi ranh giới chủng tộc, mọi luật lệ cấm cách, mọi kỳ thị truyền thống, đều chấm dứt, người Samari đã khẩn cấp cứu chữa kẻ thù. Ông đã coi kẻ thù là anh em của mình. Ông chỉ biết yêu thương và hết mình cứu sống. Ông đổ dầu, đổ rượu xoa bóp, băng bó những vết thương bầm tím rỉ máu. Dầu và rượu là phương thuốc kỳ diệu thời đó. Nhưng mới chữa tạm thời thôi. Ông cần phải đỡ người ấy đặt lên lưng lừa của mình, còn ông đi bộ dắt lừa, nhường yên lừa cho kẻ xấu số. Đến quán trọ, ông đã cõng bệnh nhân vào, trao tiền, xin chủ quán tìm thầy chạy thuốc cứu nạn nhân cho khỏi. Khi trở về ông trả mọi tốn kém khác nữa. Qua đoạn Tin Mừng này, chắc chắn Đức Giêsu muốn dạy chúng ta mấy bài học sống bác ái sau đây:

Bài học thứ I: Ai là thân cận, anh em với người rơi vào tay kẻ cướp? Thưa, không phải chỉ là đồng bào, đồng đạo như luật Do Thái dạy, không phải chỉ là ruột thịt, họ hàng, thân thuộc như chư dân đang sống. Nhưng là tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc, tiếng nói, giai cấp, tôn giáo, đảng phải, vì tất cả đều là con một Cha trên trời, Đấng đã dựng nên, cứu độ họ. Chừng nào nhân loại học được bài học bác ái này, chừng đó sẽ không còn kỳ thị, chia rẽ, hận thù, khủng bố, chiến tranh tàn sát. Lúc đó, thế giới này mới là thiên đường cho mọi người.

Bài học thứ II: Tôi đồng hành với ai trên con đường này?

Tôi không thể đồng hành với bọn cướp, vì đam mê tiền của đã làm chúng thành kẻ cướp của, giết người. Tôi cũng không thể đồng hành với tư tế, trợ tế, vì quen giết chiên bò để tế thần đã làm cho họ ra kiêu ngạo, chai đá, tàn nhẫn, lãnh đạm với đau khổ của đồng bào.

Tôi sẵn sàng đồng hành với kẻ lâm nạn đau khổ, nửa sống, nửa chết, vững tin vào Đấng cứu độ như người Samari nhân hậu, giầu lòng thương xót, sẽ đến cứu chữa ta, đưa ta về nhà tình thương Thiên Chúa.

Nhất là tôi phải luôn luôn đồng hành với người Samari nhân hậu có tấm lòng vàng cao thượng, cảm thông, cảm thương cứu chữa kẻ đau khổ, nghèo hèn, cô thế cô thân bị bỏ rơi trong xã hội.

Bài học thứ III: Con đường thiêng liêng đích thực là mến Chúa yêu người luôn đi song song với nhau: Thường xuyên lên Giêrusalem cầu nguyện, lắng nghe lời Chúa, thấm nhuần tình yêu hy sinh của Chúa để trên đường về Giêricô, nơi đầy đau khổ, trộm cướp, chai đá, gặp gỡ họ an ủi, băng bó những vết thương, cải hóa những tật nguyền của họ, đưa họ vào nhà trọ tình thương của Chúa để chăm sóc, cứu chữa. “Anh hãy về và làm như vậy, thì được sống đời đời”. Đó là lời Chúa.

CHÚA LÀM CHO GƯƠNG VỠ LẠI LÀNH.

Trích sách Tập sống vượt lên nỗi sợ, Forgotten among the Lilies, Learning to Love Beyond Our Fears, Ronald Rolheiser

Cách đây mấy năm, có một thanh niên đến xưng tội với tôi. Anh cảm thấy khó khăn khi xưng tội. Anh có quan hệ với một cô và cô đó mang thai. Với rất nhiều lý do, họ không thể làm đám cưới lúc đó. Chuyện mang thai, không thể nào hủy đi được, nó làm xáo trộn cuộc sống của cả hai, chưa kể đến đời sống của đứa bé sắp sinh.

Anh là người tế nhị nên không cần phải nhắc, anh cũng biết trách nhiệm của mình. Anh không cố gắng biện minh, xin tha lỗi hay chạy tội. Anh nhận mình có tội.

Anh cũng nhận biết anh đã gây ra một tình huống không thể thay đổi được nữa và anh đã đánh mất tâm trạng vô tư và ngây thơ của anh, một số chuyện sẽ không bao giờ trở lại như cũ.

Xưng tội xong, anh buồn bã, thất vọng nói: “Chẳng có cách nào để con sống bình thường trở lại, vượt qua được chuyện này. Dù là Chúa, Chúa cũng không làm cho gương vỡ lại lành!”
Theo những gì anh nói, đối với anh, khi nào cũng có bóng ma lởn vởn trong đầu anh. Cuộc sống hàng ngày, với nhịp điệu của nó, sẽ thành khập khiễng và lỗi lầm này sẽ mãi mãi khắc ghi trong suốt cuộc đời anh.

Ngày nay chúng ta sống trong một thế giới và một Giáo Hội mà sự gãy đổ và thái độ như thế đang ngày càng trở thành quy tắc hơn là một trường hợp ngoại lệ. Đối với nhiều người càng ngày càng có một cái gì hệ trọng để sống cách xa, một bóng ma lởn vởn: hôn nhân đổ vỡ, phá thai, không bền đổ, có thai ngoài hôn phối, lòng tin bị bội phản, mối quan hệ bị rạn nứt, tình cảm cay chua, lỗi lầm nghiêm trọng, hối tiếc dằn vặt; đôi lúc có ý thức về tội, đôi lúc không.

Buồn thay, điều này đang xảy ra với nhiều người, như đã xảy ra với anh thanh niên trên, đi cùng với thất vọng là tâm trạng có một cái gì đó đã xảy ra và không lấy lại được.

Có lẽ hơn bất cứ điều gì khác, những gì chúng ta cần hôm nay trong Giáo Hội, là một thần học về gãy đổ, liên quan đến lỗi lầm và tội lỗi, khá nghiêm trọng, cần phải chuộc tội. Thường thường, những gì chúng ta được dạy về chuộc tội chỉ là một cái gì đó còn nhẹ hơn luật nhân quả nghiêm ngặt: một cơ hội trong suốt cuộc đời, chuộc tội khi chúng ta làm đúng, hạnh phúc và thơ ngây chỉ có được khi không có gì để phải tha thứ.

Cuối cùng, chúng ta e sợ Thiên Chúa. Rốt cuộc chúng ta nhìn vào gương vỡ, vào lỗi lầm và tội lỗi của mình, và tin rằng mất mát ơn huệ là chuyện không cứu vãn được, rằng lỗi lầm đã chặn đường chúng ta. Một cách tận căn, chúng ta không còn tin có cơ hội thứ nhì, bỏ qua một bên bảy mươi lần bảy cơ hội, những cơ hội có thể trao tặng cho chúng ta cuộc sống như lúc ban đầu.

Tôi lớn lên trong một nền giáo lý công giáo đậm nét đạo đức. Giữ lời khấn nghiêm nhặt và gọi tội là tội. Dứt khoát, không nhân nhượng trên hầu hết các vấn đề đạo đức. Đòi hỏi mình không được phản bội, phạm tội, mắc sai lầm.

Tôi không cảm thấy hối tiếc về điều đó. Còn thực tế thì tôi cảm thấy khổ tâm vì ngày nay, nhiều người lớn lên trong chủ nghĩa tương đối về mặt đạo đức, biện minh thì nhiều mà thách đố thì ít.

Tuy nhiên, nếu nền giáo lý mà tôi lớn lên có một lỗi nào đó, thì lỗi đó, chính là nó bắt mình không được phép sai lầm. Nó đòi hỏi bạn phải làm đúng ngay lần đầu tiên. Nó nghĩ rằng bạn không cần đến cơ hội thứ nhì. Nếu bạn mắc sai lầm, bạn phải sống với nó và, như chàng thanh niên giàu có trong Phúc âm, bị buộc phải buồn, ít nhất cho đến quãng đời còn lại. Một lỗi lầm nghiêm trọng là một vết dơ vĩnh viễn, một vết hằn bạn phải mang lấy như Ca-in.

Tôi thấy vết hằn đó nơi rất nhiều người: những người ly dị, tu sĩ hoàn tục, những người bỏ đạo, phá thai, ngoại tình, có con ngoài hôn phối, những bậc cha mẹ phạm lỗi nghiêm trọng với con cái, và vô số những người mắc sai lầm nghiêm trọng khác.

Không có nhiều giúp đỡ xung quanh họ. Chúng ta cần một thần học về sự gãy đổ.

Chúng ta cần một nền thần học dạy cho chúng ta, dù gương đã vỡ, thì ơn huệ Chúa cũng làm cho chúng ta sống hạnh phúc với tâm trạng thơ ngây được làm mới lại, khác với bất cứ chiếc gương nào đã bị chúng ta làm vỡ.

Chúng ta cần một nền thần học dạy chúng ta rằng Thiên Chúa không chỉ cho chúng ta một cơ hội, nhưng khi chúng ta đóng cánh cửa này, Ngài mở ra cho chúng ta cánh cửa khác.

Chúng ta cần một nền thần học thách đố chúng ta không nên mắc lỗi lầm, phải xem tội là điều nghiêm nhặt, nhưng nó nói với chúng ta khi phạm tội, khi mắc lỗi lầm, chúng ta có cơ hội cùng đứng với những người gãy đổ, những người sống không hoàn hảo, những người tội lỗi được yêu thương, những người vì họ mà Đức Ki-tô đến trần gian này.

Chúng ta cần một nền thần học nói với chúng ta rằng cơ hội thứ hai, thứ ba, thứ tư, và thứ năm cũng có giá trị như cơ hội thứ nhất.

Chúng ta cần một nền thần học nói với chúng ta rằng lỗi lầm không phải là mãi mãi, suốt đời, rằng thời gian và ơn huệ sẽ gột sạch chúng, rằng không có gì là không thể thay đổi.

Cuối cùng chúng ta cần một nền thần học dạy cho chúng ta Thiên Chúa yêu thương chúng ta như những người tội lỗi và nhiệm vụ của giáo lý Ki-tô không phải là dạy cho chúng ta cách sống, nhưng là dạy cho chúng ta cách để sống lại, và sống lại.

Nguyễn Kim An dịch
http://phanxico.vn/2019/05/15/chua-lam-cho-guong-vo-lai-lanh/

Sunday, July 7, 2019

LÁ BÙA HỘ MỆNH

Lá Bùa Hộ Mệnh : Tôi vô thần nên chẳng tin vào thần thánh, còn vợ tôi là một người con gái bắc, ngoan đạo, thuỷ chung, nết na, đạo hạnh. Ai cũng khen tôi có phước.

Tuy có đạo nhưng vợ tôi có một thói quen mà tôi cho là dị đoan, và tôi cũng chẳng hiểu sao một người theo đạo Chúa mà lại dùng “bùa”.

Sở dĩ tôi đoan chắc vợ tôi dùng bùa vì tôi thấy “cái vật hộ thân” ấy luôn bên cạnh cô ấy, khi thì cầm trên tay, khi thì đeo vào cổ, mỗi sáng thức dậy và trước khi đi ngủ cô ấy luôn mân mê và lầm rầm lặp đi lặp lại một câu thần chú. Đặc biệt mỗi khi tôi đi công tác xa nhà, cô ấy luôn bỏ nó vào túi áo tôi và dặn dò: -Anh không được bỏ rơi vật này, bùa hộ mệnh đấy. Tôi bảo: -Để anh bỏ vào vali. Cô ấy nhất định: - Anh phải để ở trước trái tim đây này, lỡ có mũi tên tình ái nào bắn thì đã có lá bùa này trấn giữ. Chiều lòng vợ tôi cũng cất cẩn thận nơi túi áo ngực trái và không quên bỏ vào túi áo khác khi thay áo. Cũng cần nói thêm, gọi là “lá bùa” nhưng không phải là mảnh giấy, nhưng là một xâu chuỗi với những hạt trắng tròn xinh xắn.

Cho đến một hôm: Sau khi ký kết nghiệm thu hợp đồng trị giá bạc tỷ, đối tác tổ chức một bữa tiệc mừng sự thành công, sau bữa tiệc vui ấy, hơi bia, men rượu làm tâm hồn mọi người phấn chấn. Họ tiếp tục lôi kéo đi thêm tăng hai, tăng ba... Rồi thì việc ắt đến cũng đến...

Trong khi còn chếch choáng men rượu, tôi cảm thấy hưng phấn hơn hẳn vì một cảm giác lạ chưa bao giờ có. Cũng một chút lo lắng, cũng một chút áy náy với vợ, nhưng cảm giác lạ át hẳn sự lo lắng ấy, sự phấn chấn trong tôi càng mạnh mẽ hơn khi tiếp tục được tiếp thêm rượu. Cũng có lúc tôi giật mình nghĩ đến vợ ở nhà, nhưng tôi không đủ sức cưỡng lại...

Chỉ đến khi chiếc áo sơ mi được lột bỏ một cách thô bạo và bị ném lên mặt bàn bên cạnh thì bỗng leng keng, một vật gì rơi xuống đất. Tiếng kêu tuy nhỏ nhưng đanh một cách lạ thường. Tôi ngoái nhìn dưới đất... bỗng tim tôi ngừng đập, bừng tỉnh hoàn toàn khỏi cơn mê khi “lá bùa hộ mệnh” vợ tôi đặt vào túi mỗi khi đi công tác nằm dưới đất như có con mắt nhìn xoáy vào tâm hồn tôi.

Đẩy mạnh “người bạn đồng hành”, tôi vội bước đến cúi xuống nhặt lá bùa hộ mệnh và áp vào ngực trái. “Người đồng hành” với tôi khi nãy nhìn thấy “lá bùa” cũng giật mình và sau ít giây thảng thốt, quỳ sụp xuống miệng cũng lầm râm “câu thần chú” giống vợ tôi.

Rồi người ấy kéo tôi cùng quỳ gối, câu thần chú được đọc to: "Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội...” Nước mắt tuôn rơi, người ấy khóc lóc van xin sự thứ tha của ai đó. Người ấy quỳ gối và cầm chặt lá bùa hộ mệnh của tôi trong tay suốt đêm.

Sáng sớm hôm sau, khi tôi thức dậy “người bạn đồng hành” đêm qua đã biến mất. Kiểm tra hành lý tôi thấy mất “lá bùa hộ mệnh” của vợ tôi, và tìm thấy tờ giấy với những dòng chữ: “Anh nói với chị cho em xin “lá bùa hộ mệnh” của chị, em xin lỗi chị và hứa sẽ trở thành người tốt. Cám ơn chị, chính lá bùa hộ mệnh của chị đã cứu anh và đánh thức em trở về”.

Như tỉnh cơn mê, tôi vội vàng thanh toán tiền khách sạn. Về đến nhà tôi thú nhận tất cả và hỏi về lá bùa. Nhẹ nhàng, không một lời trách móc, cô ấy dắt tôi vào phòng, mở cánh cửa tủ mà tôi chưa mở bao giờ, trong đó có một cây thập giá, một tượng Đức Mẹ nhỏ với tràng chuỗi giống như lá bùa tôi vẫn mang theo bên ngực trái mỗi khi đi công tác.

Sau đó là những ngày Tạ ơn, ..., tìm hiểu, ..., lần chuỗi Mân Côi...

Bây giờ tôi đã là người có đạo. Mỗi tối cả gia đình quây quần với lời ngợi ca: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc...” và lời cầu xin: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con...”

Và tuy là người có đạo tôi cũng “dị đoan” như vợ, cũng vẫn giữ “bùa” và sẵn sàng tặng bạn bè “lá bùa” này kèm câu thần chú : “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con...”

Còn bạn? Hãy thử đi, bạn sẽ thấy tác dụng kì diệu của Kinh Mân Côi.

LNVĐ

(CSTMHĐGDĐM tháng 10.2011)

Thursday, July 4, 2019

Đức Thánh Cha: giám mục là người đầy tớ chứ không phải là ông hoàng

Tác giả: Trần Đỉnh, SJ – Vatican

Giáo Hội không phải được sinh ra là đã hoàn toàn ổn định

Giáo Hội được sinh ra trong sự nhiệt thành và hỗn độn nhưng cũng có nhiều điều tuyệt vời đã được hoàn tất. Luôn có sự lẫn lộn giữa sức mạnh của Thánh Thần và sự hỗn độn nhưng chúng ta không cần phải sợ hãi vì đó là một dấu hiệu tốt.

Giáo Hội không bao giờ được sinh ra mà đã hoàn toàn trong ổn định, tốt đẹp, không có vấn đề gì. Nhưng Giáo Hội luôn được sinh ra trong sự hỗn độn, lộn xộn và rồi dần đi vào ổn định. Điều ấy đúng bởi những lộn xộn ấy phải được đặt trong trật tự; Ví dụ, chúng ta thử nghĩ nghĩ về Công đồng đầu tiên tại Gierusalem: đã có mâu thuẫn giữa những người Do-thái và không phải Do-thái… Công đồng đã diễn ra và ổn định những điều ấy.

Giám mục, người quản lý của Thiên Chúa chứ không phải của cải

Vì thế, thánh Phao-lô để ông Tito lại Creta để ông ổn định tổ chức và nhắc nhớ ông điều quan trọng nhất là đức tin. Đồng thời, ngài cũng đưa ra những tiêu chuẩn và chỉ dẫn về chân dung vị giám mục như là giám quản của Thiên Chúa.

Thánh Phao-lô định nghĩa giám mục là “người quản lý của Thiên Chúa”, chứ không phải của cải, quyền lực, hay kinh tế. Không, ngài là quản lý của Thiên Chúa. Ngài phải luôn tu sửa mình và tự vấn: “tôi có phải là quản lý của Thiên Chúa hay tôi là một viên chức?”. Giám mục là quản lý của Thiên Chúa. Ngài phải là người không thể chê trách được: lời này chính là điều Thiên Chúa đã yêu cầu Abraham: “hãy đi trước mặt Ta và hãy nên trọn lành.” Đó là lời nền tảng của một người lãnh đạo.

Bản phác thảo cho việc chọn lựa giám mục

Như thế nào thì không phải là một giám mục? Ngài không ngạo mạn và kiêu căng, không nóng nảy và không nghiện rượu, một trong những thói xấu thường thấy trong thời thánh Phaolo, không trục lợi mà cũng không dính bén với tiền bạc. Thật là tai hại cho Giáo Hội nếu có một giám mục thuộc loại đó hoặc ngay cả nếu ngài có một trong những khiếm khuyết ấy. Những đặc tính của người phụng sự Thiên Chúa phải là: khả năng hiếu khách, yêu mến sự thiện, chừng mực, công chính, thánh thiện, tự chủ, trung thành với những Lời đáng tin cậy đã được chỉ chỉ dạy cho ngài”

Vị giám mục là như thế. Đây là bản phác thảo chân dung của giám mục. Và khi điều tra để chọn lựa giám mục, việc hỏi những điều này ngay từ đầu chẳng phải rất tốt để biết liệu người ấy có thể tiếp tục với những cuộc điều tra khác hay sao? Nhưng, trên hết, người ta thấy vị giám mục cần phải khiêm tốn, hiền lành, là một người phục vụ, chứ không phải ông hoàng. Đó chính là Ngôi lời của Thiên Chúa.“ ”Thưa cha, đúng rồi, điều này đã được thực hiện từ sau công đồng Vaticano II…” -  “Không, nó được thực hiện từ ngay sau thời thánh Phaolo!”. Đây không phải điều gì mới thời hậu công đồng. Điều này có từ đầu, khi Giáo Hội tự nhận thấy cần phải ổn định với những vị giám mục như thế.

Trong Giáo Hội, chúng ta không thể ổn định mà không có những tâm tình này của các giám mục. Trước mặt Chúa, điều đáng giá không phải là dễ thương, giảng hay, nhưng là sự khiêm nhường và phục vụ. Xin thánh Giosaphát, giám mục tử đạo, chuyển cầu cho các giám mục, vì các ngài cần phải có những đức tính như thế, như thánh Phao-lô đã đòi hỏi.”

12 tháng mười một 2018

Nguồn: https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2018-11/santamarta-121118-giam-muc-dayto-khongphai-hoangtu.html