Saturday, August 17, 2019

James 4:11-12

[11] Thưa anh em, anh em đừng dèm pha nhau. Ai nói hành anh em hoặc phê phán anh em mình, tức là nói hành luật pháp và phê phán luật pháp. Việc phê phán luật pháp thuộc vị thẩm phán chớ không thuộc người giữ luật.
[12] Chỉ có một Vị lập pháp và một Vị thẩm phán : Ngài có thể hủy diệt hay cứu vãn.
(Gia-cô-bê 4,11-12 Lm. Trần Đức Huân)

[11] Ðừng nói hành nói xấu nhau, hỡi anh em! Nói hành hay đoán xét anh em, tức là nói hành Lề luật, và đoán xét Lề luật. Mà nếu ngươi đoán xét Lề luật, thì ngươi không còn là kẻ giữ Lề luật, mà là thẩm phán!
[12] Chỉ có một Ðấng lập Luật, và là Thẩm phán, Ðấng có quyền cứu thoát và tiêu diệt. Còn ngươi là ai mà dám xét đoán người đồng loại!
(Yacôbê 4,11-12 Lm. Nguyễn Thế Thuấn)
http://vntaiwan.catholic.org.tw/vnbible2/thanhthu/yacobe.htm

​[11] Thưa anh em, anh em đừng nói xấu nhau. Ai nói xấu hoặc xét đoán anh em mình là nói xấu và xét đoán Lề Luật. Nếu anh xét đoán Lề Luật, thì anh không còn là kẻ vâng giữ, mà là kẻ xét đoán Lề Luật.
[12] Chỉ có một Đấng ra Lề Luật và xét xử, đó là Đấng có quyền cứu thoát và tiêu diệt. Còn anh là ai mà dám xét đoán người thân cận ?
(Gia-cô-bê 4,11-12 NPD/CGKPV)
https://ktcgkpv.org/bible

[11] Nolite detrahere alterutrum, fratres; qui detrahit fratri, aut qui iudicat fratrem suum, detrahit legi et iudicat legem; si autem iudicas legem, non es factor legis sed iudex.
[12] Unus est legislator et iudex, qui potest salvare et perdere; tu autem quis es, qui iudicas proximum?
(Iacobi 4:11-12, Nova Vulgata)
http://www.vatican.va/archive/bible/nova_vulgata/documents/nova-vulgata_nt_epist-iacobi_lt.html#4

[11] Nolite detrahere alterutrum fratres. Qui detrahit fratri, aut qui judicat fratrem suum, detrahit legi, et judicat legem. Si autem judicas legem, non es factor legis, sed judex.
[12] Unus est legislator et judex, qui potest perdere et liberare.
(Jacobi 4:11-12 Clementine Vulgate)
http://catholicbible.online/side_by_side/NT/Jas/ch_4

[11] Detract not one another, my brethren. He that detracteth his brother, or he that judgeth his brother, detracteth the law, and judgeth the law. But if thou judge the law, thou art not a doer of the law, but a judge.
[12] There is one lawgiver, and judge, that is able to destroy and to deliver.
(James 4:11-12 Douay-Rheims)
http://drbo.org/drl/chapter/66004.htm

[11] Brethren, do not disparage one another. In disparaging one of his brethren, in passing judgement on him, a man disparages the law, passes judgement on the law; and in passing judgement on the law thou art setting thyself up to be its censor, instead of obeying it.
[12] There is only one Lawgiver, only one Judge, he who has power to destroy and to set free.
(James 4:11-12, Knox)
http://www.newadvent.org/bible/

[11] Do not speak evil of one another, brothers. Whoever speaks evil of a brother or judges his brother speaks evil of the law and judges the law. If you judge the law, you are not a doer of the law but a judge.
[12] There is one lawgiver and judge who is able to save or to destroy. Who then are you to judge your neighbor?
(James 4:11-12, New American Bible NAB)
http://www.vatican.va/archive/ENG0839/__P11Y.HTM

[11] Do not speak evil of one another, brothers. Whoever speaks evil of a brother or judges his brother speaks evil of the law and judges the law. If you judge the law, you are not a doer of the law but a judge.
[12] There is one lawgiver and judge who is able to save or to destroy. Who then are you to judge your neighbor?
(James 4:11-12, New American Bible, Revised Edition NABRE)
http://www.usccb.org/bible/james/4:11

[11] Brothers, do not slander one another. Anyone who slanders a brother, or condemns one, is speaking against the Law and condemning the Law. But if you condemn the Law, you have ceased to be subject to it and become a judge over it.
[12] There is only one lawgiver and he is the only judge and has the power to save or to destroy. Who are you to give a verdict on your neighbour?
(James 4:11-12, New Jerusalem Bible NJB)
https://www.catholic.org/bible/book.php?id=66&bible_chapter=4#11

[11] Do not speak evil against one another, brethren. He that speaks evil against a brother or judges his brother, speaks evil against the law and judges the law. But if you judge the law, you are not a doer of the law but a judge.
[12] There is one lawgiver and judge, he who is able to save and to destroy. But who are you that you judge your neighbor?
(James 4:11-12, Revised Standard Version Catholic Edition RSVCE)
https://www.ewtn.com/catholicism/bible

[11] Do not speak evil against one another, brothers and sisters. Whoever speaks evil against another or judges another, speaks evil against the law and judges the law; but if you judge the law, you are not a doer of the law but a judge.
[12] There is one lawgiver and judge who is able to save and to destroy. So who, then, are you to judge your neighbor?
(James 4:11–12, New Revised Standard Version Catholic Edition NRSVCE)
https://www.biblegateway.com/passage/?search=James+4%3A11-12&version=NRSVCE

[11] Do not criticize one another, my friends. If you criticize or judge another Christian, you criticize and judge the Law. If you judge the Law, then you are no longer one who obeys the Law, but one who judges it.
[12] God is the only lawgiver and judge. He alone can save and destroy. Who do you think you are, to judge someone else?
(James 4:11-12, Good News Translation GNT)
https://gnt.bible/

[11] My friends, don't say cruel things about others! If you do, or if you condemn others, you are condemning God's Law. And if you condemn the Law, you put yourself above the Law and refuse to obey either it
[12] or God who gave it. God is our judge, and he can save or destroy us. What right do you have to condemn anyone?
(James 4:11-12, Contemporary English Version CEV)
https://cev.bible/

Đức Thánh Cha Phanxicô gửi thư cám ơn các linh mục nhân kỷ niệm 160 năm Thánh Gioan Vianney qua đời

Linh Tiến Khải - Vatican
https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2019-08/dtc-gui-thu-linh-muc-160-gioan-qua-doi.html
04 tháng tám 2019, 15:18

Trong thư ĐTC đã bầy tỏ sự gần gũi và khích lệ của ngài với các anh em linh mục “trong thinh lặng, không ồn ào, đã bỏ mọi sự để dấn thân trong cuộc sống thường ngày của cộng đoàn, với các linh mục làm việc trong “hầm trú”, với các linh mục tiếp xúc với chúng ta mỗi ngày mà không quá quan trọng hóa mình, để săn sóc và đồng hành với dân Chúa. Ngài viết: “Tôi hướng tới từng người trong anh em, là những người trong biết bao nhiêu dịp, một cách không ai trông thấy, hy sinh trong lao nhọc, bệnh tật và đau buồn, đảm trách sứ mệnh như một việc phục vụ Thiên Chúa và dân Ngài. Và mặc dù với tất cả mọi khó khăn trên đường anh em đang viết lên những trang đẹp nhất trong cuộc đời linh mục”.

Bắt đầu với một cái nhìn tổng quát trên gương mù gương xấu của các vụ lạm dụng tính dục ĐTC viết trong thư: “Trong thời gian qua, chúng ta đã có thể nghe thấy một cách rõ ràng tiếng khóc than, thường thầm lặng và bị bó buộc phải im lặng, của các anh chị em nạn nhân của các vụ lạm dụng quyền bính, lương tâm và tính dục, từ phía các thừa tác viên được truyền chức. Mặc dù không phủ nhận thiệt hại đã gây ra, nhưng sẽ thật là bất công, nếu không thừa nhận biết bao nhiêu linh mục, một cách liên lỉ và toàn vẹn, đã hiến dâng tất cả những gì các ngài là và có cho thiện ích của tha nhân. Các linh mục làm cho cuộc đời mình trở thành một công trình của lòng thương xót trong những vùng đất và các hoàn cảnh thường không thể sống được, xa xôi hẻo lánh và bị bỏ rơi, cả với nguy hiểm bị mất mạng nữa”. ĐTC cám ơn gương can đảm và kiên trì của các linh mục, và khẳng định rằng: “các thời gian thanh tẩy giáo hội, mà chúng ta đang sống, sẽ khiến cho chúng ta tươi vui và đơn sơ hơn, và trong một tương lai không xa sẽ sinh nhiều hoa trái” . Ngài mời gọi các linh mục đừng ngã lòng nản chí, vì Chúa đang thanh tẩy Hiền Thê của Ngài, và đang làm cho chúng ta tất cả trở về với Chúa. Chúa đang làm cho chúng ta sống kinh nghiệm thử thách để chúng ta hiểu rằng không có Chúa chúng ta chỉ là bụi đất”.

Tiếp đến, thư của ĐTC nhắn nhủ các linh mục hãy “luôn biết ơn Thiên Chúa, vì ơn gọi nhưng không Chúa ban. Cần phải trở lại với các thời gian đầy ánh sáng đó, với tiếng “vâng” đáp trả lại lời mời gọi tận hiến cuộc đời phục vụ Chúa. Trong những lúc khó khăn, mỏng giòn, mềm yếu, khi cám dỗ tồi tệ nhất trong các chước cám dỗ là ngồi đó mà nhai lại sự sầu não, thật là định đoạt không mất đi ký ức tràn đầy lòng biết ơn đối với biến cố Chúa đi qua đời ta và đã mời gọi chúng ta dấn thân cho Ngài và cho dân Ngài”. Lòng biết ơn luôn luôn là một khí giới mạnh mẽ. Chỉ khi chúng ta biết chiêm ngưỡng và cám ơn một cách cụ thể vì mọi cử chỉ yêu thương, quảng đại, liên đới và tin tưởng cũng như tha thứ, kiên nhẫn chịu đựng và cảm thương với những người chúng ta tiếp xúc, thì chúng ta mới sẽ để cho Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta làn khí tươi mát có thể canh tân, chứ không chắp vá cuộc sống và sứ mệnh của chúng ta”.


ĐTC cám ơn các cha sở vì lòng trung thành của các vị đối với các nhiệm vụ nhận lãnh: rao giảng Lời Chúa, cử hành các bí tích Thánh Thể và Hòa Giải, cảm thương, đồng hành và giúp tín hữu trở về với chúa, mà không chủ trương nghiêm khắc cũng không dễ dãi nới lỏng. Vì con tim của vị mục tử là con tim đã học sự ưa thích thiêng liêng là một với dân mình, không quên mình đã xuất thân từ đó… với kiểu sống khắc khổ đơn sơ, không chấp nhận các đặc quyền đặc lợi không có mùi vị của Tin Mừng. ĐTC cũng mời gọi các linh mục cảm tạ Chúa vì sự thánh thiện của dân Chúa, được diễn tả ra nơi các cha mẹ đã dưỡng dục con cái với biết bao tình yêu thương, nơi những người nam nữ lam lũ lao động để có thực phẩm nuôi con hằng ngày, nơi các bệnh nhân, các tu sĩ già nua tiếp tục sống tươi vui. Ngài khuyên các linh mục luôn can đảm tiến bước, đừng chán nản ngã lòng khi gặp khổ đau, khốn khó, hiểu lầm. Con tim mục tử được đo lường với cung cách đối phó với khổ đau. ĐTC cũng cảnh báo các linh mục trước mưu mô của ma quỷ khiến cho các vị sống trong buồn sầu. Buồn sầu làm tê liệt lòng can đảm theo đuổi nhiệm vụ và cầu nguyện; nó khiến cho các nỗ lực biến đổi và hoán cải trở thành khô cằn, bằng cách gieo rắc thù hận và hung hăng.

Để có thể luôn can đảm trung thành với ơn gọi và sống tươi vui các linh mục cần để cho Chúa Thánh Thần tác động, và xin Chúa trợ giúp: Ngoài ra cũng cần có một anh em linh mục đồng hành trong cuộc sống thiêng liêng để giúp nhau chia sẻ, thảo luận và phân định, cũng như sống sát với dân Chúa, không tự cô lập, nhưng cởi mở giao tiếp với mọi người.

Sau cùng ĐTC mời gọi các linh mục noi gương Mẹ Maria, luôn cất tiếng chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa, hướng nhìn về tương lại, và trao ban hy vọng cho hiện tại, đặc biệt khi bị cám dỗ đóng kín trong chinh mình, khi bị than phiền, phản đối, chỉ trích hay chế nhạo (REI 3-8-2019)

Friday, August 9, 2019

TẠI SAO ĐẠO CÔNG GIÁO VẪN CHƯA PHÁT TRIỂN?

(Tên cướp đã dạy cho chúng ta- những người Công giáo, từ Giám mục, Linh mục, Tu sỹ đến Giáo dân một bài học xót xa nhưng chí lý. Đó cũng là lý do tại sao số người Công giáo Việt Nam luôn chỉ có khoảng 6-7% dân số trong rất nhiều năm qua. Chúng ta cùng cúi mình đấm ngực, thành tâm sám hối, rồi nhìn lại cung cách sống Đạo của mình).

Chuyện kể rằng, một tên cướp hung hăng dữ tợn, hắn nhăm nhăm cầm súng tiến nhanh thoăn thoắt vào một nhà thờ của một giáo xứ lớn khi 100 người đang dâng Lễ đọc kinh cầu nguyện râm ran vang vọng.

Hắn hùng hổ dí súng vào đám đông cộng đoàn dân Chúa đang đọc kinh cầu nguyện và quát:

TẤT CẢ CÁC NGƯƠI GIƠ TAY LÊN !!!

"Kẻ nào muốn sống thì phải chối Đạo, chối Chúa và bước sang bên phía tay trái của ta đây. Kẻ nào muốn chết và không chối Đạo thì cứ đứng yên tại chỗ và ta sẽ giết hết, bắn hết."

Đám đông run sợ, hoảng loạn, vội vội đùn đẩy nhau bước sang bên phía tay trái hắn và họ đã nhanh chóng chối đạo, chối Chúa không do dự, không thương tiếc, không ngượng mồm. Số bước sang là 90 người.

Chỉ còn lại 10 người bình thản đứng yên tại chỗ. Nét mặt họ vẫn bình an không chút sợ sệt.

Nhanh như cắt, tên cướp dí súng vào đám 10 người này và định bóp cò PẰNG PẰNG PẰNG.

Nhưng lạ thay, hắn khiến mọi người ngỡ ngàng sửng sốt. Miệng hắn cười Hahaha đắc chí nhìn chằm chằm vào đám 90 và quát rằng:

"Các người thấy không? Các người đọc kinh cho chăm vào, đi Lễ cho lắm vào, rước Lễ cho nhiều vào, tuyên xưng Chúa cho hùng hồn vào, cầu nguyện cho vang vào, vang đến nỗi ầm ầm cả nhà thờ.

Vậy mà chỉ 1 câu dọa vớ vẩn vặt vãnh của ta, các người đã sợ đái ra quần, các người sợ chết và đã chối Chúa ngay, chối đạo ngay không do dự, không thương tiếc, không ngượng mồm.

Vậy Đức Tin Cậy Mến của các người ở chỗ nào? Môi mép tuyên xưng mến Chúa, yêu người ở chỗ nào?

Các người chỉ giữ đạo môi mép là giỏi. Mở miệng ra là các người nói lời Chúa thế nọ, lời Chúa thế kia. Nào là yêu Chúa, nào là thương người. Các người nói thì hay lắm nhưng làm thì quá dở. Dở hơn nhiều người không có Đạo.

Các người bên ngoài trông rất thánh thiện đạo đức, nhưng bên trong thì đầy mưu mô hiểm độc. Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp đẽ, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các người bên ngoài thì có vẻ rất công chính, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác! (Mt 23,27-28)

Các người lúc nào cũng nhem nhẻm:

Miệng luôn: Lạy Chúa, Amen...

Mà lòng hiểm độc bon chen hại người.

Ngoài miệng thì niệm nam mô,

Trong lòng thì chứa một bồ dao găm.

Các người nói hành nói xấu gièm pha nhau, sống kiêu căng kiêu ngạo với nhau, sống giả dối giả tạo với nhau, sống giả nhân giả nghĩa với nhau, sống bon chen tính toán với nhau, sống ghen ghét giận hờn nhau, sống ngoại tình phản bội nhau... vân vân.

Lời Chúa dạy các người không thèm thực hiện.

CHÚA DẠY CÁC NGƯỜI MỘT ĐÀNG, CÁC NGƯỜI LẠI LÀM MỘT NẺO. MIỆNG CÁC NGƯỜI NÓI MỘT ĐÀNG, TAY CÁC NGƯỜI LẠI LÀM MỘT NẺO.

Chúa dạy sống sám hối, lại không sám hối. Chúa dạy sống chân thật, lại không chân thật. Chúa dạy sống yêu thương, lại không yêu thương. Chúa dạy sống khiêm nhường, lại không khiêm nhường. Chúa dạy sống tha thứ, lại không tha thứ.

SÁM HỐI, CHÂN THẬT, YÊU THƯƠNG, KHIÊM NHƯỜNG, THA THỨ CỦA CÁC NGƯƠI Ở ĐÂU?

Các người chỉ có Chúa ở trên môi miệng, trên các khẩu hiệu, trong sách vở, trong nhà thờ là giỏi, mà không hề có Chúa trên đôi tay, trong trái tim và trong cuộc sống thường ngày một chút nào.

Lời Chúa sau đây quá ứng nghiệm với các người: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta (Mc 7,6).

MIỆNG CÁC NGƯỜI NÓI LỜI CHÚA, NHƯNG TAY VÀ TÂM CÁC NGƯỜI LẠI BẤT TUÂN LỜI CHÚA. CÁC NGƯỜI CHỈ GIỮ ĐẠO MÔI MÉP LÀ GIỎI.

Trong nhà thờ, các người là những con chiên hiền lành ngoan Đạo, nhưng vừa mới bước ra khỏi cửa nhà thờ, các người liền biến ngay thành những con Cọp hung hăng dữ tợn. Chiên biến thành Cọp. Các người đóng kịch rất giỏi, ngụy trang rất giỏi, làm phép lạ rất giỏi.

Đó là lý do tại sao Đạo Công giáo của các người không phát triển. Vì không có sức thuyết phục."

Các người theo Đạo để làm gì?

Chẳng lẽ chỉ để vỗ ngực tự hào tếu ta đây là người có Đạo, có Chúa? Chẳng lẽ chỉ để huyênh hoang vênh váo ta đây thông Kinh Thánh, tường luật Đạo?

Chẳng lẽ chỉ để ganh đua nhau xây nhà thờ cho to cho cao? Chẳng lẽ chỉ để thi nhau trưng diện hết mốt nọ bộ kia?

Chẳng lẽ chỉ để khoe khoang rước phách rầm rộ quanh làng? Chẳng lẽ chỉ để lăm lăm nhảy múa và hò hát những bài Thánh ca cho vui tai?

Chẳng lẽ chỉ để nhậu nhẹt linh đình, trang trí sầm uất? Chẳng lẽ chỉ để tự hào tự mãn vỗ ngực khoe gia đình ta đây, giáo xứ ta đây nhiều Linh mục, lắm bà sơ, đông các Thánh?

Chẳng lẽ chỉ để đi lễ đọc kinh vang vang vô hồn như 1 con vẹt?

Rồi vào những dịp Lễ lớn, các ngươi che mắt thiên hạ về sự xấu xa của mình bằng cách trưng diện những bộ quần áo mới, ăn nhậu linh đình, tiệc tùng hoành tráng, hò hát vui nhộn, trống kèn vang dội, trang hoàng lộng lẫy, hoa nến rực rỡ, khẩu hiệu ầm ĩ, băng rôn choáng ngợp, hoặc tung hô tâng bốc lẫn nhau.

THAY VÌ LÀ NHÂN CHỨNG, CÁC NGƯỜI LẠI LÀ PHẢN CHỨNG. TA THẤY CÁC NGƯỜI CHẲNG KHÁC GÌ NGƯỜI KHÔNG CÓ ĐẠO. THẬM CHÍ CÁC NGƯỜI CÒN SỐNG THUA XA NHỮNG NGƯỜI KHÔNG BIẾT CHÚA. CHÚA RẤT ĐAU LÒNG & MỆT MỎI VỀ CÁC NGƯỜI.

Đó là chưa kể việc các người ăn cơm ở những nơi công cộng mà không thèm làm dấu và cầu nguyện trước khi ăn.

Đức Thánh Cha Phanxicô từng nói: Thà vô thần hơn Công giáo mà đạo đức giả.

Thật nực cười! Ta khinh bỉ và coi thường các người."

Ta nói hơi thô nhưng mà rất thật lòng. Ta có thể làm mất lòng các ngươi. Nhưng thà mất lòng còn hơn mất Linh hồn.

Rồi hắn chỉ tay vào đám 10 người và nói tiếp:

"Chỉ có 10 người này mới là những Kitô hữu đích thực. Họ luôn thực hành lời Chúa dạy. Họ luôn sống sám hối, chân thật, yêu thương, khiêm nhường và tha thứ.

Họ dám sẵn sàng sống chết với niềm tin họ đã tuyên xưng. Họ thà chết chứ không thà chối Chúa, chối Đạo. Vì trong tâm hồn họ luôn có Chúa.

Cũng may còn có những người này, mà nhiều người đã không mất niềm tin vào Chúa và họ vẫn sẵn sàng gia nhập Đạo”.

Nói xong, tên cướp nhanh chóng tẩu thoát và mọi người mới kịp hoàn hồn rồi thở phào nhẹ nhõm.

Đám 90 liếc mắt nhìn vào đám 10 người với vẻ mặt thẹn thùng và xấu hổ.

(Không biết trong số 10 có cha xứ không, hay ngài ở trong số 90?).

THẬT LÀ ĐAU ĐỚN! THẬT LÀ XÓT XA!

VẬY NẾU TÔI & BẠN Ở TRONG ĐÁM ĐÔNG ĐÓ, TÔI & BẠN SẼ LÀM GÌ? TÔI & BẠN SẼ ĐỨNG YÊN HAY BƯỚC ĐI? TÔI & BẠN SẼ Ở TRONG SỐ 90 HAY SỐ 10?

Chúng ta hãy tự xét lấy.

Chúng ta cũng vậy. Nhiều khi chỉ vì 1 câu nói, 1 việc rất nhỏ, 1 khó khăn tầm thường, 1 thử thách quá vặt vãnh là chúng ta sẵn sàng chối Đạo, chối Chúa, bán Chúa ngay.

TÊN CƯỚP KHÔNG Ở ĐÂU XA. NÓ CÓ THỂ ĐANG TRONG TÂM HỒN MỖI NGƯỜI CHÚNG TA.

ĐỨC TIN KHÔNG CÓ VIỆC LÀM LÀ ĐỨC TIN CHẾT.(Gc 2,17)

VIỆC LÀM Ở ĐÂY KHÔNG CHỈ LÀ ĐỌC KINH CHO NHIỀU, ĐI LỄ CHO CHĂM, RAO GIẢNG CHO GIỎI, MÀ CÒN LÀ LUÔN NỖ LỰC LÀM THEO LỜI CHÚA DẠY.

ĐÓ CHÍNH LÀ LUÔN NỖ LỰC SỐNG SÁM HỐI, CHÂN THẬT, YÊU THƯƠNG, KHIÊM NHƯỜNG & THA THỨ TỪNG GIÂY TỪNG PHÚT.

Tất cả những điều trên chỉ có thể thực hiện được, nếu chúng ta thành tâm cầu nguyện sám hối, cầu nguyện cúi mình.

Không có ơn Chúa, chúng ta sẽ chỉ như những cái cái xác không hồn.

Chính Chúa Giê-su đã phán:

Không có Thầy, các con không thể làm gì được.(Ga 15,5)

Cứ dấu này, mọi người sẽ nhận biết các con là môn đệ của Thầy: là các con có lòng yêu thương nhau. Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con.( Ga 13,34-35)

CHÚNG TA CẦN NHÌN LẠI ĐỨC TIN CỦA CHÍNH MÌNH. CHÚNG TA CẦN NHÌN LẠI MÌNH ĐÃ YÊU NHAU CHƯA?

Để sống đẹp lòng Chúa có quá khó không???

Dạ thưa “không”, vì chính Chúa đã phán: “Ơn Ta luôn đủ cho con”. (2Cr 12,9)

Chỉ có điều là con có chịu sám hối khiêm tốn mở lòng ra để đón nhận ơn của Ta hay không mà thôi.

Đức Giêsu lại còn phán:

“Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa! " là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.

Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?"

“Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!” (Mt 7,21-23)

Ngài lại phán: “Và kìa có những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót.” (Lc 13, 30)

Lạy Chúa, xin tha tội & thương xót chúng con. Vì chúng con đã xúc phạm nặng nề đến Chúa.

Xin cho niềm tin chúng con tuyên xưng ngoài môi miệng luôn thấm nhập vào sợi gân thớ thịt, vào khối óc tâm hồn và luôn được thể hiện cụ thể trong đời sống thường ngày của chúng con.

XIN CHO XÁC CON CÓ ĐỨC TIN VÀ HỒN CON CŨNG CÓ ĐỨC TIN. Amen.

Giuse Kích.
(Nếu thấy ý nghĩa, xin hãy chia sẻ cho người khác)



Saturday, August 3, 2019

CÁCH PHÂN BIỆT LINH MỤC THẬT VÀ LINH MỤC GIẢ

Tác giả: Giuse Kích
https://www.facebook.com/giuse.kich/posts/1463483783762608



👇👇👇👇👇👇👇
(Mục tử giả thì sống nhờ vào đàn chiên. Mục tử thật thì sống vì đàn chiên, sống cho đàn chiên. Đó là lời dạy của Đức Hồng Y Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn, Tổng Giám Mục Hà Nội)

Linh mục quyết định đời sống Đạo của 1 giáo xứ.

Linh mục làm sao, giáo dân làm vậy.

Linh mục đạo đức thánh thiện, giáo dân đạo đức thánh thiện. Linh mục hách dịch trịch thượng, giáo dân kiêu ngạo ngông nghênh.

Linh mục cũng là người quyết định về hình ảnh của Thiên Chúa. Hình ảnh Thiên Chúa tốt lành thánh thiện hay bị méo mó biến dạng là do Linh mục.

LINH MỤC ĐI TRƯỚC, DÂN BƯỚC THEO SAU.

Linh mục thánh thiện, giáo dân sốt sắng.
Linh mục sốt sắng, giáo dân bình thường.
Linh mục bình thường, giáo dân tầm thường.
Linh mục tầm thường, giáo dân bỏ đạo.
Giáo dân bỏ đạo, nhà thờ đóng cửa.

XIN TẠM GỌI LINH MỤC THẬT LÀ NHỮNG LINH MỤC NHƯ LÒNG CHÚA MONG ƯỚC VÀ NHƯ LÒNG DÂN CHÚA MONG CHỜ.

XIN TẠM GỌI LINH MỤC GIẢ LÀ NHỮNG LINH MỤC CỦA THẾ GIAN, TIỀN BẠC VÀ QUYỀN LỰC.

Những nơi có nhiều ơn gọi đi tu, thường là những nơi có cha xứ thánh thiện. Còn những nơi ít ơn gọi đi tu, thường là do cha xứ không ra gì.

Chức Linh mục rất cao trọng & vinh dự. Vinh dự đến nỗi được gọi là Chức Thánh. Vì Linh mục chính là 1 Đức Giê-su khác.

Tuy nhiên:

VINH DỰ CÀNG LỚN, TRÁCH NHIỆM CÀNG CAO.

Như chính Chúa Giê-su đã phán:

AI ĐƯỢC GIAO NHIỀU, THÌ SẼ BỊ ĐÒI NHIỀU.
Giao 10 nén, phải sinh lời 10 nén.

Nếu không sinh lời, thì sẽ bị Chúa Giê-su cảnh cáo rất đanh thép: Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng." (Mt 25,30)

Ngài còn cảnh cáo: "Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.( Lc 6,26)

Ngài lại phán rằng: Kìa có những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót.”( Lc 13,30)

Rồi Ngài minh định: Không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết. (Mt 10,26)

Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật.(Ep 5,7).

Không ai được phép tự mãn về chức Linh mục mình được Chúa quảng đại ban cho , vì Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá trở nên những Linh mục thánh thiện của Ngài. (x Mt 3,9).

Có người nói lý do có nhiều Linh mục giả là vì: "Chủng viện chỉ dạy các Chủng sinh làm “cha” chứ không dạy làm “con”. “

Không biết điều đó có đúng không?

CÁCH PHÂN BIỆT LINH MỤC THẬT VÀ LINH MỤC GIẢ:

Linh mục thật thì luôn là 1 Đức Giêsu khác. Còn Linh mục giả thì lại quá khác Đức Giêsu.

Linh mục thật là phiên bản 2 của Đức Giêsu, còn Linh mục giả thì "Bye Bye" Đức Giêsu.

Linh mục thật thì mang vào mình mùi Chúa và mùi chiên, mùi hôi và mùi thơm. Còn linh mục giả thì mang vào mình mùi tiền và mùi quyền.

Linh mục thật thì ngày càng nên giống Chúa Giêsu. Còn linh mục giả thì ngày càng bị thế gian khống chế.

Linh mục giả thì có bộ sưu tập hoành tráng và đẳng cấp về chim thú, cây cảnh, đồ cổ, hàng độc và động vật quý hiếm... Còn linh mục thật thì có bộ sưu tập đầy tràn các nhân đức thánh thiện, tình yêu thương và vinh dự rửa tội cho rất nhiều tân tòng.

Linh mục giả thì luôn lợi dụng và lạm dụng Chức Thánh cho mục đích ích kỷ của cá nhân mình. Còn linh mục thật thì luôn nỗ lực nâng nui và trân trọng Chức Thánh cho Chúa và cộng đoàn dân Chúa.

Linh mục thật thì ngày càng sống đúng Phúc Âm. Còn Linh mục giả thì ngày càng sống phản Phúc Âm.

Linh mục thật thì rao giảng Tin Mừng, tin vui. Còn Linh mục giả thì rao giảng tin buồn, tin tức.

Linh mục thật thì làm cho dân Chúa được lợi. Còn Linh mục giả thì lợi dụng dân Chúa cho túi tiền và quyền lực của mình.

Linh mục thật thì luôn viết sẵn di chúc và chuẩn bị sẵn sàng cho giờ chết đột ngột của mình để nỗ lực sống tốt lành thánh thiện. Còn linh mục giả thì sống trôi nổi không biết đến ngày mai, không biết sẽ đi đâu về đâu.

Linh mục thật thì vâng lời vô điều kiện Đức giám mục đi bất kỳ giáo xứ nào, bất cứ thời gian nào, kể cả vùng xâu vùng xa, kể cả là giáo xứ nghèo nàn lạc hậu, vùng ven hẻo lánh, vì Chúa ở khắp mọi nơi. Còn linh mục giả thì bất tuân chống đối bài sai hoặc không hài lòng với sự sắp xếp của Đức Giám mục. Hình như giáo xứ đó không có Chúa?

LINH MỤC GIẢ THÌ NGÔNG NGHÊNH, VÊNH VÁO, NGẠO NGHỄ VỀ CHỨC LINH MỤC CỦA MÌNH. CÒN LINH MỤC THẬT THÌ HOẢNG LOẠN, RUN SỢ, KHIÊM NHƯỜNG VÌ MÌNH LÀ LINH MỤC.

Linh mục thật thì mọi vinh quang và danh dự đều quy về Chúa. Còn linh mục giả thì mọi vinh quang và danh dự đều quy về mình.

Linh mục thật thì chăm chỉ ngồi tòa Giải tội để sẵn sàng đón con chiên lạc. Còn linh mục giả thì chăm chỉ thể dục thể thao và vui chơi quá mức.

Linh mục thật thì chân thành thẳng thắn chỉ ra cái sai của giáo dân, để họ ngày càng sống đẹp lòng Chúa. Còn linh mục giả thì dùng câu từ mĩ miều để vuốt ve họ.

Linh mục giả thì sống phong cách hưởng thụ, ăn trên ngồi trốc. Còn linh mục thật thì nỗ lực sống khiêm nhường phục vụ.

Linh mục thật thì rất ngại ngùng khi được gọi là "Cha". Còn linh mục giả thì tự hào kiêu hãnh khi được gọi như vậy.

Linh mục thật thì luôn chỉ cho người ta thấy Chúa để chúc tụng, để ca ngợi và tôn vinh Chúa. Còn linh mục giả thì luôn chỉ cho người ta thấy mình để tôn vinh, để ca ngợi và chúc tụng mình.

Linh mục thật thì sắm xe ôtô vừa đủ để đi mục vụ vì dân Chúa còn nghèo đói. Còn linh mục giả thì sắm xe siêu sang đẳng cấp để ra oai với đời trong khi bần dân đói khổ.

Linh mục thật thì đơn sơ, khiêm nhường, nghiêm trang và cung kính trên bàn Thánh. Còn linh mục giả thì ngông nghênh, vênh váo, ngạo nghễ, hách dịch và trịch thượng.

Linh mục thật thì lo lắng xây dựng giáo xứ trên nền tảng sám hối, bác ái, công bằng, yêu thương, khiêm nhường và tha thứ. Ngài luôn nỗ lực xây dựng Giáo xứ trên nền đá. Nghĩa là mến Chúa và yêu thương tha nhân như chính mình. Còn linh mục giả thì chỉ lăm lăm xây cất, tiệc tùng, trống kèn rước phách om sòm inh ỏi xáo rỗng và trang trí lộng lẫy hình thức phô trương lòe loẹt bề ngoài. Linh mục giả chỉ xây dựng Giáo xứ trên nền cát. Nghĩa là chỉ chú trọng trang trí hình thức bề ngoài. Càng thùng đặc càng thanh tịnh. Càng thùng rỗng càng kêu to. Rồi sẽ bị sụp đổ tan tành.

Linh mục thật thì nói như Chúa đã nói và làm như Chúa đã làm. Còn linh mục giả thì nói khác Chúa đã nói và làm khác Chúa đã làm.

Linh mục giả thì biểu diễn nghệ thuật trên bàn Thánh. Vô xạ ép ra hương. Còn Linh thật thật thì tỏa hương thơm nhân đức trên bàn Thánh. Hữu xạ tự nhiên hương.

Linh mục thật thì chỉ nhận mình là chiếc bình sành dễ vỡ. Còn linh mục giả thì luôn nhận mình là một siêu thần tượng thượng đẳng.

Linh mục giả thì luôn bị chính quyền sỏ mũi, dắt mũi theo ý họ. Còn linh mục thật thì khôn khéo đàm phán với chính quyền để dân Chúa được lợi.

Linh mục thật thì luôn nhận mình chỉ là tội nhân rất cần lòng thương xót của Chúa. Còn linh mục giả thì luôn vỗ ngực tưởng bở tự phong cho mình là một thánh nhân.

Linh mục thật thì luôn phục vụ trong âm thầm khiêm tốn. Còn linh mục giả luôn phục vụ trong khoe khoang kiêu ngạo.

Linh mục thật thì Giáo dân tiếc khi chuyển xứ mới, đi dân Chúa nhớ, ở dân Chúa thương. Còn linh mục giả thì Giáo dân xin mời cha đi nhanh cho nước nó trong.

Linh mục thật thì sống đơn sơ, khó nghèo. Còn linh mục giả thì sống rườm rà, khó mà nghèo.

Linh mục thật thì thích sự phê bình chỉ trích để nhìn lại mình và canh tân. Còn linh mục giả thì chỉ thích được nịnh hót & tâng bốc hão lên tận 9 tầng mây xanh rồi bị ngã xuống cách đau đớn.

Linh mục thật thì thường nghĩ đến bàn Tiệc Thánh. Còn linh mục giả thì chỉ nghĩ đến bàn tiệc nhậu.

Linh mục thật thì làm cho Giáo dân tâm phục khẩu phục. Nói phải củ cải cũng nghe. Còn linh mục giả thì làm cho Giáo dân khẩu phục nhưng tâm không phục. Nói sai ai mà nghe nổi.

Linh mục thật thì luôn cầu nguyện đấm ngực sám hối. Còn linh mục giả thì luôn cầu nguyện vỗ ngực kể công.

Linh mục thật thì luôn cầu xin Chúa Thánh Thần để chuẩn bị kỹ lưỡng bài giảng cho dân Chúa. Còn linh mục giả thì lười biếng không chịu chuẩn bị và giảng luyên thuyên thao thao bất tuyệt.

Linh mục thật thì luôn giảng ngắn gọn, trọng tâm, xúc tích, đầy đủ. Còn linh mục giả thì luôn giảng dài, giảng dai, giảng dở.

Linh mục thật thì làm cho dân Chúa về nhà nhớ lời Chúa dạy bảo. Còn linh mục giả thì làm cho dân Chúa về nhà chỉ thấy nhớ lời mình quát mắng. Lời cha át cả lời Chúa.

Linh mục thật thì cho rằng nhà thờ to đẹp uy nghi lộng lẫy là do mình với cộng đoàn dân Chúa cùng xây. Linh mục giả thì chỉ nhận là công lao của cá nhân mình.

Linh mục giả thì chỉ chơi với đại gia nhà giàu đẳng cấp. Còn linh mục thật thì chơi với tất cả mọi tầng lớp xã hội.

Linh mục giả thì cao siêu kênh kiệu như ông quan xã. Còn linh mục thật thì khiêm nhường ân cần phục vụ như Đức Giêsu.

Linh mục thật thì yêu thích Ánh Sáng. Còn linh mục giả thì đam mê Bóng Tối.

Linh mục thật thì dùng tình thương để cảm hóa dân Chúa. Còn linh mục giả thì dùng quyền để thống trị họ.

Linh mục thật luôn sẵn sàng phục vụ vì Chúa và các Linh hồn. Còn linh mục giả thì chỉ phục vụ cho cái tôi & lợi ích của mình.

Linh mục thật thì luôn bám vào Chúa và Đức Mẹ. Còn linh mục giả thì luôn bám vào của cải và quyền lực thế gian.

Linh mục thật thì coi các Linh mục khác như anh em ruột. Còn linh mục giả thì coi Linh mục khác như kẻ thù.

Linh mục thật thì Thánh lễ là vô giá. Còn linh mục giả thì Thánh lễ phải có giá.

Linh mục giả thì có thời gian đi chơi mà không có thời gian đến thăm hỏi và xức dầu cho bệnh nhân sắp qua đời, bắt phải khiêng bệnh nhân đến nhà thờ mới ban Bí tích Xức dầu. Còn linh mục thật thì luôn sẵn sàng đến tận nhà người bệnh trao Bí tích bất kể ngày đêm.

Linh mục giả thì mở miệng ra là TIỀN TIỀN TIỀN. Còn Linh mục thật thì mở miệng ra là TÌNH TÌNH TÌNH.(tiền bạc và tình thương)

Linh mục giả thì dâng Lễ một cách vô hồn như cái đài, như cái máy, như cái Tivi. Còn linh mục thật thì dâng Lễ sốt sắng, thánh thiện, sống động và lắng đọng tâm hồn dân Chúa.

Linh mục thật thì luôn thiếu thời gian. Còn linh mục giả thì luôn thừa thời gian.

Linh mục giả thì có đến 3 bài giảng trong 1 Thánh lễ nhưng chủ đề chẳng ra đâu vào đâu. Còn linh mục thật thì chỉ có duy nhất 1 bài và những lời nhắc nhở ngắn gọn.

Linh mục giả thì luôn ngự ở trên núi cao, cao vút khiến giáo dân không ai với tới. Còn linh mục thật thì khiêm nhường cúi mình xuống sống chung với mọi người và thậm chí rửa chân cho họ như Chúa Giêsu.

Linh mục thật thì thành tâm đấm ngực ăn năn sám hối 9 lần. Còn linh mục giả thì không thèm đấm ngực ăn năn sám hối.

Linh mục thật thì luôn nỗ lực cố gắng kéo ơn Chúa xuống cho dân Chúa và giúp dân Chúa nhận ra sâu sắc tình yêu & lòng thương xót Chúa. Còn linh mục giả thì kéo dân ra xa Chúa và họ chỉ nhận ra được cái tôi to lớn của chính mình.

Linh mục thật thì được học và luôn hành. Còn linh mục giả thì được học nhưng lại không hành.(Thực hành điều đã học)

Linh mục giả thì luôn vỗ ngực cho mình to nhất Giáo xứ. Còn Linh mục thật thì cho rằng Chúa mới là to nhất Giáo xứ.

Linh mục giả luôn nói thì giỏi nhưng làm thì dở. Còn linh mục thật thì làm giỏi rồi nói giỏi.

Linh mục giả thì say mê hút nghiện rượu, thuốc. Linh mục thật thì say mê hút lấy Ơn Chúa từ Bí tích Thánh Thể.

Linh mục giả thì phân hóa tầng lớp kẻ giàu với người nghèo. Còn linh mục thật thì kết nối họ với nhau.

Linh mục giả thì cậy vào sức mình và tài năng của mình. Còn linh mục thật thì cậy vào Ơn Chúa và Sức Mạnh Chúa.

Linh mục giả thì coi chức Linh mục là của riêng mình. Còn Linh mục thật thì coi chức Linh mục là của Chúa và của hết thảy mọi người.

Linh mục thật thì dạy Kinh Thánh và Giáo lý. Còn linh mục giả thì chỉ dạy điều nọ luật kia của riêng cá nhân mình.

Linh mục thật thì say mê Kinh Thánh, Kinh Phụng vụ và Kinh Mân côi. Còn linh mục giả chỉ say mê nịnh hót đầu môi, yến tiệc linh đình và chơi bời du lịch.

Linh mục thật thì luôn lo lắng bắc những nhịp cầu kết nối sự đoàn kết yêu thương. Còn linh mục giả thì phá những nhịp cầu để tạo ra phe nọ nhóm kia.

Linh mục giả thì chỉ nghĩ đến tiền bạc. Còn linh mục thật thì chỉ nghĩ đến tình thương.

Linh mục thật thì cử hành Bí tích. Còn linh mục giả thì bán Bí tích.

Linh mục thật thì rao giảng lời của Chúa và làm như Chúa đã làm. Còn linh mục giả thì nói lời của cá nhân mình và làm theo ý của riêng mình.

Linh mục thật thì công bằng không thiên tư tây vị bất cứ ai. Linh mục giả thì nhận quà đút lót của dân Chúa để ban ân nọ huệ kia.

Linh mục thật thì luôn quy tụ cộng đoàn Giáo xứ thành 1 gia đình. Còn linh mục giả thì gây chia rẽ cộng đoàn Giáo xứ thành phe nọ nhóm kia.

Linh mục thật thì rao giảng về sám hối, tỉnh thức, hiền lành và khiêm nhường và luôn thực hành. Còn linh mục giả thì rao giảng kiêu căng hách dịch trịch thượng.

Linh mục thật thì chuyên chăm cầu nguyện, sám hối, gặp gỡ, chia vui sẻ buồn, an ủi mọi người không phân biệt sang hèn và chăm chỉ giải tội. Còn linh mục giả thì chỉ thích dùng tiền dân Chúa đi chơi bời du lịch, ăn uống tiệc tùng và thích các cuộc giải trí vô bổ tốn thì giờ.

Linh mục thật thì tất cả là Hồng Ân của Chúa. Linh mục giả thì nhận tất cả là công lao của mình.

LINH MỤC GIẢ NHƯ NGƯỜI MÙ DẮT NGƯỜI MÙ, CẢ HAI SẼ LĂN CÙ XUỐNG HỐ.

LINH MỤC THẬT NHƯ NGƯỜI SÁNG DẮT NGƯỜI SÁNG, CẢ HAI SẼ ĐẾN BẾN VINH QUANG.

LINH MỤC THẬT THÌ LUÔN SỐNG ĐỨC KHÓ NGHÈO, KHIẾT TỊNH VÀ VÂNG PHỤC.

LINH MỤC THẬT THÌ LUÔN TIN ĐIỀU ĐÃ ĐỌC, DẠY ĐIỀU ĐÃ TIN VÀ THI HÀNH ĐIỀU ĐÃ DẠY.

Con lạc đà chui qua lỗ kim, còn dễ hơn Linh mục giàu có vào nước Thiên Đàng.

Thánh Têrêsa Avilla cảnh cáo các LINH MỤC GIẢ cách kinh hoàng & run sợ: NỀN HỎA NGỤC ĐƯỢC LÁT BẰNG SỌ CÁC VỊ LINH MỤC.

LINH MỤC KHÔNG THỂ CHO GIÁO DÂN THỨ MÀ LINH MỤC KHÔNG CÓ.

LINH MỤC CHỈ CÓ THỂ CHO GIÁO DÂN THỨ MÀ LINH MỤC CÓ.

LINH MỤC GIẢ CHO DÂN CHÚA ĐỒ GIẢ
LINH MỤC THẬT CHO DÂN CHÚA ĐỒ THẬT

TẠI SAO ĐẠO CHÚA PHÁT TRIỂN HAY KHÔNG PHÁT TRIỂN? TẠI SAO GIÁO DÂN MẠNH ĐỨC TIN HAY MẤT ĐỨC TIN? XIN QUÝ VỊ HÃY NHÌN KỸ VÀO ĐỜI SỐNG VÀ HỎI CÁC VỊ LINH MỤC.

Đó là lý do số Linh mục ngày càng đông mà số Giáo dân vẫn dậm chân tại chỗ.

👇👇👇👇👇👇👇
NHIỀU GIÁO DÂN GẶP CHÚA DỄ HƠN GẶP LINH MỤC.

Vô lý quá! Tại sao vậy?

VÌ CHÚA THÌ LUÔN Ở TRONG NHÀ THỜ, CÒN LINH MỤC THÌ Ở TRÊN NÚI CAO. CAO QUÁ KHÔNG VỚI TỚI ĐƯỢC.

GẶP CHA KHÓ HƠN GẶP CHÚA.

Linh mục là một Đức Giê-su khác. Vậy kính xin các Linh mục đừng quá khác Đức Giê-su.

Đức Giê-su luôn hiền lành và khiêm nhường. Vậy kính xin các Linh mục cũng luôn nỗ lực sống hiền lành và khiêm nhường.

Lời Chúa dạy các Linh mục cần ghi khắc là:

Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em.

Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em.

Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.” (Mt 20, 26-28)

Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá trở nên những Linh mục của Ngài. (x Mt 3,9).

Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tụy.

Đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên.

Như thế, Khi vị Mục Tử tối cao xuất hiện, anh em sẽ được lãnh triều thiên vinh hiển không bao giờ hư nát. ( 1 Pr 5, 2-4)

“Càng làm lớn, con càng phải tự hạ, như thế, con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa. Vì quyền năng Đức Chúa thì lớn lao: Người được tôn vinh nơi các kẻ khiêm nhường”.(Hc 3.18-20)

Xin cộng đoàn dân Chúa tha thiết cầu cho các Linh mục thành khẩn gần Chúa và chân thành gần dân Chúa hơn nữa, để hình ảnh một Thiên Chúa giàu lòng xót thương và thánh thiện luôn được phản chiếu ngày càng sống động và rõ nét nơi các Linh mục, hầu cho Danh Chúa ngày càng cả sáng. Amen.

Và xin cầu cho nhau.

Giuse Kích


(Nếu thấy ý nghĩa cho chính mình và mọi người, thì xin đừng quên Ngợi khen Chúa rồi nhanh chóng chia sẻ cho người khác. Và xin cầu cho nhau.)



Sunday, July 28, 2019

Ủy ban Phụng Tự giải thích quy định về Giảng lễ, Đặt tay và Rảy nước phép

Đăng lại từ http://www.hdgmvietnam.com/chi-tiet/uy-ban-phung-tu-giai-thich-quy-dinh-ve-giang-le-dat-tay-va-ray-nuoc-phep-35073

13/06/2019
   
1- Theo giáo luật (điều 767, 1), việc giảng lễ chỉ dành riêng cho tư tế hoặc phó tế. Vậy, một linh mục có được phép đưa những người làm chứng lên chia sẻ trong phần bài giảng của mình không?

Thực hành đưa những người làm chứng lên chia sẻ trong phần bài giảng thuộc về phạm trù “giáo dân thuyết giảng”. Đúng là theo giáo luật (điều 767, 1) và được Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma [2002] (số 66) cũng như Huấn thị Bí tích Cứu độ [2004] (các số 64-66; 161) nhắc lại, việc giảng lễ chỉ dành riêng cho tư tế hoặc phó tế và không bao giờ trao cho một giáo dân. Thế nhưng, tín hữu giáo dân lại được phép “chia sẻ” trong thánh lễ [chứ không phải giảng lễ] qua những hướng dẫn và làm chứng của họ bằng việc suy niệm Lời Chúa, giải thích bản văn Kinh Thánh hoặc thuyết trình. Tuy nhiên, ngay cả bài giảng lễ của LM và PT cũng không được xem như thời gian dành cho các ngài chia sẻ chứng tá cá nhân với những câu chuyện riêng tư của mình mà bài giảng lễ phải diễn tả đức tin của GH (Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, Chỉ Nam Giảng Lễ, số 6), bởi vậy, phải thật cẩn trọng khi đưa người làm chứng trong thánh lễ và tuân giữ những gì nói tiếp dưới đây:

1. Thực hành này phải được HĐGM cho phép. Chẳng hạn HĐGM Hoa Kỳ chỉ cho phép giáo dân chia sẻ trong một vài trường hợp như: khi vắng hay thiếu hụt giáo sĩ, khi đòi hỏi phải sử dụng một ngôn ngữ khác biệt hoặc liên quan đến lãnh vực thuộc về chuyên môn hay kinh nghiệm của giáo dân, nhưng không bao giờ giáo dân được giảng trong thánh lễ (USCCB Decree, 13/12/2001, BCL Newletter 37 [2001] 49-50). Nếu như HĐGM không ra chỉ thị về vấn đề này, thì phải tuân theo các quy luật liên quan đến việc giảng thuyết được ban hành bởi ĐGM giáo phận (Bộ Giáo Luật, số 756#2; 772#1);

2. Nếu thấy cần để một giáo dân lên thông báo tin tức hay trình bày một chứng từ đời sống kitô hữu cho các tín hữu tụ họp trong nhà thờ/ nhà nguyện, cách chung nên làm việc này ngoài thánh lễ. Nhưng mà, vì những lý do nghiêm trọng, được phép trình bày loại thông báo hay chứng từ này khi linh mục đã đọc xong lời nguyện Hiệp Lễ chứ không được đưa họ lên làm chứng trong phần bài giảng của thánh lễ. Tuy vậy, một việc làm như thế không được trở thành thói quen, nghĩa là thuộc trường hợp ngoại lệ chứ không phải thường lệ. Hơn nữa, việc chia sẻ và làm chứng phải mang hình thức ngắn gọn, phải luôn luôn hòa hợp với các quy tắc phụng vụ, được trình bày trong những dịp đặc biệt mà thôi (chẳng hạn như ngày của chủng viện, ngày bệnh nhân, v.v…), cũng như không được xem nó như là một sự thăng tiến chính thức của hàng giáo dân. Đồng thời, những thông báo và chứng từ này không được có những đặc tính có thể làm lẫn lộn chúng với bài giảng lễ, và cũng như không là nguyên nhân để loại bỏ hoàn toàn bài giảng (Xc. Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, Huấn thị Bí tích Cứu độ, các số 74, 161; Bộ Giáo sĩ và Các Bộ khác, Huấn thị liên bộ về một số vấn đề liên quan đến việc giáo dân cộng tác vào sứ vụ của các linh mục, Ecclesiae de mysterio, 15/08/1997, số 3: AAS 89 (1997), 852-877)

3. Người chia sẻ hay làm chứng phải là một tín hữu công giáo vì theo Bộ Giáo Luật: (1) Những người giảng Lời Chúa, trước hết hãy trình bày những điều cần phải tin và phải làm nhằm vinh danh Chúa và cứu rỗi nhân loại; (2) Cũng phải trình bày cho tín hữu giáo thuyết Hội Thánh dạy về nhân phẩm và tự do của con người, về sự duy nhất và sự vững bền cùng những trách vụ của gia đình, về những bổn phận của những người công dân sống trong xã hội, và cả về việc điều hành những việc trần thế theo trật tự Chúa đã ấn định (điều 768).

4. Chỉ đôi khi giáo dân mới chia sẻ trong thánh lễ với trẻ em trong trường hợp thánh lễ đó có ít người lớn tham dự nhất là khi vị gỉang lễ tự thấy rằng mình khó có thể thích ứng hay đồng cảm với tâm trí của trẻ em. Việc chia sẻ này được sự đồng ý của cha sở hay quản nhiệm nhà thờ trên căn bản là quyền ban phép thực thụ cho thực hành này chỉ thuộc thẩm quyền của các Đấng Bản Quyền sở tại mà thôi [như đã nói ở số 1) trên], và luôn luôn là ad actum, chứ không thuộc quyền ai khác, kể cả các linh mục hay phó tế (Bộ Phụng Tự, Hướng dẫn Thánh lễ với Trẻ em, 01/11/1973, AAS 66 [1974], 24; Huấn thị Bí tích Cứu độ, số 161). Và chỉ thỉnh thoảng giáo dân mới chia sẻ như một phần phụ thêm vào bài giảng lễ của LM hay PT hoặc có thể thay thế cho bài giảng lễ khi vị giảng lễ (LM hoặc PT) bị ngăn trở về thể lý hay luân lý. Vì dầu sao, sự trợ giúp này không được dự liệu để đảm bảo cho người giáo dân tham dự đầy đủ hơn, nhưng, tự bản tính, nó là bổ sung và tạm thời; còn bổn phận đầu tiên của những người có chức thánh vẫn là rao giảng Lời Chúa cho dân Chúa nhằm thánh hóa họ và để tôn vinh Thiên Chúa (Bộ Giáo Luật, số 213; 756#2; 757; 762 và 772#1; Huấn thị Bí tích Cứu độ, số 151).

2- Nghi thức đặt tay có ý nghĩa gì trong các cử hành phụng vụ? Việc Rẩy Nước phép trong nghi thức phụng vụ được phép thực hiện như thế nào?

A-    Nghi thức đặt tay có ý nghĩa gì trong các cử hành phụng vụ?

Hành động đặt tay bằng cách đặt một tay hay hai tay trên một ai đó hay trên một vật thể nào đó là cử chỉ mang ý nghĩa bí tích. Vì thế, cử điệu này được vị chủ sự cử hành phụng vụ sử dụng trong nhiều nghi thức phụng vụ với những ý nghĩa như sau:

  • Nài xin Chúa Thánh Thần ngự xuống (x. Cv 8,17.19-20; 19,6) thánh hóa lễ phẩm bánh và rượu [trong phần Kinh Nguyện Thánh Thể] để trở nên Mình và Máu Chúa Kitô hoặc diễn tả việc ban phép lành trọng thể cho đoàn dân trong thánh lễ nhưng hai tay của vị chủ tế phải giơ cao hơn những trường hợp khác (Xc. Lễ nghi Giám mục, số 105;106).[1]
  • Sai đi hay trao ban một sứ vụ (x. Cv 6,2-6; 13,2-3; 12Tm 4,14; 2Tm 1,6): như diễn ra trong nghi thức phong chức PT, LM và GM (QCSL, số 4). Cử điệu đặt tay của Đức Giám mục chủ phong trên các tiến chức bấy giờ diễn tả mối tương quan hiệp thông giữa tiến chức với Thiên Chúa và Hội Thánh để nhờ sự nâng đỡ của Thiên Chúa và cộng tác của toàn thể Hội Thánh họ có thể vươn tới Đấng Tuyệt Đối cũng như hoàn thành sứ vụ được trao phó.[2]
  • Ban ơn tha thứ và hòa giải (1Tm 5,22).
  • Chữa lành (x. Mt 7,32; 8,23-24; Mc 16,17-18; Lc 4,40; 13,13; Cv 28,8): như trong phép xức dầu bệnh nhân. Trong trường hợp có số đông bệnh nhân muốn lãnh nhận bí tích này thì không cần LM đặt tay trên từng người mà chỉ đặt tay trên một bệnh nhân đại diện thôi (Sách Lễ nghi Giám mục, số 653).[3] Cử điệu này nhằm 2 mục đích: [i] Cầu nguyện cho tâm hồn và thân xác người bệnh được mạnh mẽ trước những đau đớn và thử thách hiện tại họ phải đương đầu; [ii] Cộng đồng Hội Thánh chia sẻ gánh nặng họ đang phải mang và như muốn nói với bệnh nhân rằng họ không cô đơn khi phải mang vác những gánh nặng như thế.[4]

B-    Việc Rẩy Nước phép trong nghi thức phụng vụ được phép thực hiện như thế nào?

Nước thánh biểu trưng cho sự thanh tẩy. Trong bí tích Rửa tội, người ta dìm, rảy hoặc đổ nước trên thụ nhân bởi nước được coi là chất liệu chính yếu của bí tích này (x. Ga 3,5). Nước thánh là một phụ tích, vì thế được dùng để rảy trên người, trên vật thể và nơi chốn tùy nghi thức như dấu hiệu dùng trong việc ban phép lành và mang nhiều ý nghĩa khác nhau.

Rảy nước thánh trên các tín hữu nhắc nhớ họ về bí tích Tái sinh đã lãnh nhận nhờ đó họ sẽ cùng chết, mai táng và phục sinh với Chúa Kitô, nghĩa là được thông dự vào cuộc chiến thắng của Chúa Kitô trên tội lỗi và sự chết; nghi thức này cũng đề cao “chức tư tế cộng đồng của tín hữu”[5] và nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa bí tích Rửa tội và việc tham dự thánh lễ của họ.[6]

Việc rảy nước thánh trên vật thể và nơi chốn khi làm phép nhắc nhở chúng ta sử dụng các thực thể ấy vào mục đích tốt đẹp theo thánh ý Chúa Cha.[7]

Với ý nghĩa như vậy, việc rẩy nước thánh được phép thực hiện trong nhiều trường hợp, ví dụ như:


  • Ngày Chúa nhật, nhất là trong mùa Phục sinh, thay vì hành động thống hối thường lệ, đôi khi có thể làm phép và rảy nước thánh trên dân (xc. phần phụ lục II của Sách lễ Rôma 2002, 177-181; QCSL 51). Trong lễ Đêm Vọng Phục sinh, các tín hữu được rẩy nước thánh sau khi lập lại những lời cam kết của bí tích Rửa tội.
  • Trong nghi thức an táng, việc rảy nước thánh trên thi hài của tín hữu cũng nhắc nhở bí tích Thánh tẩy người đó đã lãnh nhận và nhờ bí tích này họ được đưa vào đời sống vĩnh cửu.[8]
  • Trong lễ cưới, linh mục làm phép nhẫn cưới với nước thánh không chỉ như một hành vi thanh tẩy mà còn là một dấu hiệu “sương rơi từ trên”. Sương rơi xuống mặt đất sẽ làm trổ sinh sự sống và phong nhiêu, do đó, ý nghĩa của việc làm phép nhẫn là hồng phúc của Thiên Chúa sẽ xuống trên đôi hôn nhân và sự phồn thịnh sẽ đến với gia đình họ.[9]
  • Làm phép và rảy nước thánh trên ảnh tượng thánh; vật dụng thánh dùng trong phụng vụ; lá trong ngày lễ Lá; tro trong ngày thứ tư lễ Tro, nến trong thánh lễ dâng Chúa vào đền thánh (2/2) ...

Những điểm sau đây cần lưu ý khi rảy nước thánh trong thánh lễ:

  • Nghi thức rảy nước thánh thay cho hành động thống (QCSL 51) chỉ được phép diễn ra trong thánh lễ, chứ không bên ngoài thánh lễ như trong hình thức thánh lễ ngoại thường.[10]
  • Nếu một giáo xứ lớn với khá đông người tham dự Thánh lễ và phải mất nhiều thời gian mới rảy xong, nên sử dụng thêm nhiều bình chứa khác. Các thừa tác viên sẽ chia nhau rẩy trong khu vực được phân công cho mình với một giúp lễ cầm bình nước thánh đi theo.[11]
  • Không rảy nước thánh từ phía sau lưng dân chúng.[12]
  • Đừng bao giờ làm nghi thức rẩy nước thánh quá long trọng đến nỗi làm lu mờ việc cử hành Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể.[13]
  • Chủ đề của bài thánh ca đi kèm nghi thức rẩy nước thánh phải liên quan đến ý nghĩa của nước, bí tích Thánh tẩy hay công cuộc canh tân đời sống.[14]


Ủy ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam
Tháng 3 năm 2019

[1] Xc. Peter Elliott, Ceremonies of the Modern Roman Rite, số 191.

[2] Xc. Antonio Donghi, Words and Gesture in the Liturgy, 49.

[3]Xc. Edward McNamara, “Healing Masses” từ The ZENIT Daily Dispatch © Innovative Media, Inc. (21/07/2009).

[4]Xc. Antonio Donghi, Words and Gesture in the Liturgy, 50.

[5] Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội Lumen Gentium, số 10.

[6] Xc. Edward Foley, “The Structure of the Mass, Its Elements and Its Parts”, trong ed. Edward Foley, A Commentary on the General Instruction of the Roman Missal (Collegeville, MN: A Pueblo/ The Liturgical Press, 2007),142.

[7] Xc. Antonio Donghi, Words and Gesture in the Liturgy, dg. William McDonough, Dominic Serra, Ted Bertagni (Collegeville, MN: Liturgical Press, 2009), 48.

[8] Xc. Emilio Higglesden, “Signs and Symboles: A Reflection”, Faith – Vol. 117, No. 4, 1990.

[9] Xc. Ibid.

[10] Xc. Edward McNamara, “Phó tế hoặc thừa tác viên giáo dân rảy nước thánh được không?”, dg. Nguyễn Trọng Đa, từ Zenit.org (24/05/2016).

[11] Xc. Denis C. Smolarski, Q & A: The Mass (Chicago: Liturgy Training Publications, 2002), 6-7.

[12] Ibid.

[13] Ibid.

[14] Dominic Thuần, sss, Cử hành Thánh lễ (Hoa Kỳ: Dân Chúa, 1994), 32.

Sunday, July 21, 2019

Phút Cầu Nguyện: Tìm Chúa trong mọi sự

Trần Đỉnh, SJ

Trước hết việc đi tìm Chúa trong mọi sự khởi đi từ niềm tin rằng Thiên Chúa hiện diện trong mọi việc tôi làm, trong mọi người tôi gặp, trong những thử thách tôi phải đối diện, thậm chí trong những sai lầm và lỗi tội của tôi. Khi nói đến gặp Chúa, người ta thường nghĩ ngay đến việc gặp Chúa trong Thánh lễ, trong cầu nguyện. Nếu thế, Thiên Chúa bị đóng khung trong những ngôi nhà thờ, trong những nơi mà tôi gọi là nơi Chúa ở. Có lẽ, đã đến lúc trả lại cho Ngài cái nhìn đầy đủ và xác đáng: Ngài hiện diện trong mọi sự.

Tôi có thể tìm thấy Ngài cả trong công việc của tôi. Ngài không chỉ ở trên trời cao, nhưng Ngài còn hiện diện nơi cây viết của tôi, nơi cây cuốc của tôi, nơi thuở vườn của tôi… Phải chẳng bởi Thiên Chúa ở nơi mọi sự mà tôi gặp gỡ, hay là bởi Thiên Chúa ở ngay chính trong đôi mắt, trong trái tim và trong suy nghĩ của tôi? Chỉ biết rằng tôi thấy đời mình được gắn bó với Người, và Người ở cùng tôi trong mọi hoàn cảnh.

Thế nhưng, giữa cái đều đặn của nhịp sống hàng ngày, giữa cái ồn ào và vội vã, không dễ để tìm thấy Chúa trong mọi sự. Tìm Chúa trong mọi sự đòi ta phải có hai thái độ căn bản: mở ra và nhận biết. Mở ra để tìm kiếm, mở ra để quan sát và mở ra để lắng nghe. Từ đó, người ấy nhận biết những chuyển động của Thiên Chúa trong cuộc đời mình. Nhận biết ấy không chỉ là cảm nhận của cái đầu, mà ở một cấp độ sâu hơn, bằng con tim và bằng cảm xúc. Lắng nghe những chuyển biến trong lòng mình và dò dẫm những bước đường Chúa muốn tỏ ra.

Tìm kiếm gắn liền với chuyển động. Đó là hai chuyển động: từ phía Thiên Chúa và từ phía người tìm kiếm. Người luôn lên đường tìm kiếm là người sống kinh nghiệm của một người hành hương. Người ấy không dừng lại ở nơi mình thích mà cũng chẳng bỏ đi nơi mình chẳng ưa, nhưng thuận theo Thánh Ý để sắp xếp cuộc đời mình. Muốn làm một người hành hương, người ta cần một đôi tai biết lắng nghe, một con tim biết mở rộng và một tâm trí biết tìm kiếm.

Ý thức những điều Thiên Chúa làm cho mình để không ngừng bước tới, không ngừng lên đường, người ta dần nhận biết mình là ai, và Thiên Chúa là ai trong cuộc đời. Khi càng hiểu biết về mình, người ta càng nhận ra sự mong manh và yếu đuối của phận người, vừa nhận ra sự cao cả và tình thương của Thiên Chúa trong đời mình.

Tìm kiếm Chúa luôn gắn liền với việc sống magis, nghĩa là hơn nữa. Một khi đã tìm kiếm Chúa và thánh ý Người, ta được mời gọi để đáp lại tiếng Người. Đâu là ước muốn của Chúa nếu chẳng phải là yêu tha nhân nhiều hơn nữa. Có lẽ, càng theo Chúa, không phải người ta làm nhiều hơn, mà là biết từ bỏ mình hơn và biết phó thác nhiều hơn cho Ngài.

Tìm kiếm gắn liền với thời gian. Chẳng có điều gì quý giá mà không cần nhiều thời gian để kiếm tìm. Tìm kiếm Thiên Chúa là một hành trình, và hành trình ấy được kết lại từ những chấm nối chấm. Nhìn về quãng đời đã qua, người ta mới thấy tay Chúa dẫn đưa thế nào. Không dễ để hiểu được một con người, và càng không dễ hiểu được ý định của Thiên Chúa. Người ta vẫn bước đi trong thân phận yếu đuối và tội lỗi của mình, nhưng vẫn tiếp tục mở ra để được Chúa dẫn lối đưa đường.

Có lẽ, đến cuối cuộc hành trình cuộc đời, người ta chợt nhận ra, Thiên Chúa đã ở đó trong suốt cuộc đời mình. Người đã ở bên trong các biến cố lớn nhỏ và Người nâng đỡ bước đường của bạn và tôi.

Những nhà thông thái đã lên đường để gặp Chúa khi thấy anh sao. Còn bạn, hôm nay, bạn có muốn tìm ánh sao của mình?

Lạy Chúa,
Con không biết điều gì sẽ xảy đến cho con vào ngày mai.
Nhưng xin cho con biết sẵn sàng đón nhận tất cả mọi điều sẽ đến.
Nếu khi ấy con còn có thể đứng, xin cho con đứng vững,
nếu khi ấy con vẫn còn ngồi, xin cho con biết ngồi yên lặng
nếu khi ấy con đang phải nằm dài, xin cho con biết nằm kiên nhẫn.
nếu khi ấy con không thể làm gì nữa, xin hãy để con can trường sống điều ấy
Lúc này, con chỉ cầu nguyện cho ngày hôm nay,
và cho những người mà con gặp gỡ.
Con sẽ không còn lo lắng, bởi Chúa vẫn ở đó đồng hành với con
Chúa ở đó để con hỏi: con phải làm gì? Quyết định của con có đúng không?
Và đó có phải ý Ngài không?
xin cho con biết luôn lên đường tìm kiếm,
không dừng lại ở những niềm vui hay an ủi mau qua
nhưng là những niềm vui và bình an đích thực,
để tìm kiếm và thi hành ý Chúa trong mọi sự. Amen


(https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2019-07/pcn-038-timchua-trong-moisu.html)

Sunday, July 14, 2019

Sống bác ái - ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

Năm 1983, để cứu sống một người 36 tuổi ở Liên Xô, Bác sĩ Sumadrúp đã nhận một quả thận của một em bé gái từ bệnh viện Hoa Kỳ do Bác sĩ Montona gửi tới. Nhưng phải nhờ bao nhiêu công việc của máy điện toán các nước Balan, Đức, Pháp, Anh, Ý, của hàng ngàn bác sĩ làm việc mới tìm được quả thận của em bé gái tử thương vì tai nạn xe hơi đã hiến cho bệnh viện để cứu sống ai cần. Quả thận chỉ sống được 72 giờ, làm sao từ Hoa Kỳ đến Liên Xô? Mọi luật lệ về kiểm soát an ninh, mọi thủ tục giấy tờ quá cảnh đều được các chính phủ bãi miễn để khẩn cấp đưa quả thận đến kịp cứu chữa một người. Mọi ranh giới chủng tộc, giai cấp và chế độ hận thù cũng dứt bỏ trước sinh mạng của một người.

Luật đạo, luật đời đều có mục đích bảo toàn sự sống con người, sự sống thật quý giá, không có ngọc ngà châu báo nào đổi được. Nhà hiền triết Dương Chu sống đồng thời với Lão Tử đã quả quyết: Dù mất một sợi lông chân được lợi cả thiên hạ, cũng không làm: “bạt nhất mao nhi lợi thiên hạ, bất vi”. Đức Giêsu nhiều lần nhắc nhở chúng ta: “Được lời lãi cả thế gian, mất mạng sống mình nào được ích gì”. Cho nên không lạ gì, người ta đều mơ ước được sống trường thọ, chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu, vẫn chưa đủ, dân tộc nào cũng cho mình phát sinh từ nguồn gốc thần linh bất tử với những chuyện thần tiên hạnh phúc muôn thuở.

Dân tộc Việt Nam tự hào mình là con rồng cháu tiên, với những truyện Từ Thức lên tiên, Lưu Nguyễn lạc vào động thiên thai. Người Tàu cho mình là con cháu ông Bành Tổ vĩ đại, người Nhật nhận thần mặt trời là tổ tông. Người Ấn là con cháu của ba thần chí linh Braluna, Vishnu và Shiva, Người Hy Lạp là con cháu thần Zeus và Apôllô: Thần mỹ thuật, âm nhạc, ánh sáng, trai trẻ và cường tráng. Đế quốc La Mã thờ thần Jupiter dũng mãnh tối cao.

Những khát vọng chung của các dân tộc và của mỗi người không phải là ảo tưởng, hay huyền thoại, nhưng nó là một thứ gen nào đó, một thứ tâm thức sâu thẳm trong vô thức. Nói theo kiểu nhà Phật, đó là những chủng tử nằm sâu trong tạng thức như một thứ bào thai để sinh ra một đời sống mới. Chính những ước vọng đó đã hướng tới sự phục sinh mà Đức Giêsu là đầu, là trưởng tử đã sống lại từ cõi chết để ban cho các tiểu tử, các chi thể của Người được sống đời đời.

Người luật sĩ hỏi Đức Giêsu: “Tôi phải làm gì để được sống đời đời”. Câu hỏi bộc lộ một tâm trạng băn khoăn lo lắng, một thao thức thắc mắc muôn đời, chưa có ai giải quyết nổi, chưa có ai mở đường dẫn lối chính xác, trừ một mình Đấng từ trời xuống nói cho người dưới đất biết những sự trên trời và chỉ đường về trời để được sống đời đời.

Theo Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu chỉ cho ta con đường rất cụ thể tới sự sống đời đời, đó là con đường người Samari đã đi.

Đức Giêsu kể lại một câu truyện có lẽ xảy ra thường xuyên trên con đường từ Giêrusalem xuống Giêricô, dài chừng hơn hai mươi cây số, len lỏi qua rừng núi: Một người từ Giêrusalem đến Giêricô, có lẽ đi lễ về hoặc lo công việc làm ăn, chắc chắn có một số tiền của, nên bọn cướp để ý theo dõi. Chúng đã tàn nhẫn đánh người ấy đến nửa sống nửa chết giữa rừng. Tình cờ, có ba du khách đi qua, người thứ nhất là tư tế thấy vậy lách qua bên kia mà đi, người thứ hai là thầy trợ tế cũng thế. Người thứ ba là người Samari thấy cảnh tượng kẻ lâm nạn đang oằn oại đau đớn. Ông động lòng trắc ẩn, tiến lại gần dù biết kẻ lâm nạn là người Do Thái. Do Thái và Samari rất khinh bỉ nhau, họ không hề tiếp xúc với nhau. Nhưng lạ thay, trước cảnh nguy tử, mọi ranh giới chủng tộc, mọi luật lệ cấm cách, mọi kỳ thị truyền thống, đều chấm dứt, người Samari đã khẩn cấp cứu chữa kẻ thù. Ông đã coi kẻ thù là anh em của mình. Ông chỉ biết yêu thương và hết mình cứu sống. Ông đổ dầu, đổ rượu xoa bóp, băng bó những vết thương bầm tím rỉ máu. Dầu và rượu là phương thuốc kỳ diệu thời đó. Nhưng mới chữa tạm thời thôi. Ông cần phải đỡ người ấy đặt lên lưng lừa của mình, còn ông đi bộ dắt lừa, nhường yên lừa cho kẻ xấu số. Đến quán trọ, ông đã cõng bệnh nhân vào, trao tiền, xin chủ quán tìm thầy chạy thuốc cứu nạn nhân cho khỏi. Khi trở về ông trả mọi tốn kém khác nữa. Qua đoạn Tin Mừng này, chắc chắn Đức Giêsu muốn dạy chúng ta mấy bài học sống bác ái sau đây:

Bài học thứ I: Ai là thân cận, anh em với người rơi vào tay kẻ cướp? Thưa, không phải chỉ là đồng bào, đồng đạo như luật Do Thái dạy, không phải chỉ là ruột thịt, họ hàng, thân thuộc như chư dân đang sống. Nhưng là tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc, tiếng nói, giai cấp, tôn giáo, đảng phải, vì tất cả đều là con một Cha trên trời, Đấng đã dựng nên, cứu độ họ. Chừng nào nhân loại học được bài học bác ái này, chừng đó sẽ không còn kỳ thị, chia rẽ, hận thù, khủng bố, chiến tranh tàn sát. Lúc đó, thế giới này mới là thiên đường cho mọi người.

Bài học thứ II: Tôi đồng hành với ai trên con đường này?

Tôi không thể đồng hành với bọn cướp, vì đam mê tiền của đã làm chúng thành kẻ cướp của, giết người. Tôi cũng không thể đồng hành với tư tế, trợ tế, vì quen giết chiên bò để tế thần đã làm cho họ ra kiêu ngạo, chai đá, tàn nhẫn, lãnh đạm với đau khổ của đồng bào.

Tôi sẵn sàng đồng hành với kẻ lâm nạn đau khổ, nửa sống, nửa chết, vững tin vào Đấng cứu độ như người Samari nhân hậu, giầu lòng thương xót, sẽ đến cứu chữa ta, đưa ta về nhà tình thương Thiên Chúa.

Nhất là tôi phải luôn luôn đồng hành với người Samari nhân hậu có tấm lòng vàng cao thượng, cảm thông, cảm thương cứu chữa kẻ đau khổ, nghèo hèn, cô thế cô thân bị bỏ rơi trong xã hội.

Bài học thứ III: Con đường thiêng liêng đích thực là mến Chúa yêu người luôn đi song song với nhau: Thường xuyên lên Giêrusalem cầu nguyện, lắng nghe lời Chúa, thấm nhuần tình yêu hy sinh của Chúa để trên đường về Giêricô, nơi đầy đau khổ, trộm cướp, chai đá, gặp gỡ họ an ủi, băng bó những vết thương, cải hóa những tật nguyền của họ, đưa họ vào nhà trọ tình thương của Chúa để chăm sóc, cứu chữa. “Anh hãy về và làm như vậy, thì được sống đời đời”. Đó là lời Chúa.

CHÚA LÀM CHO GƯƠNG VỠ LẠI LÀNH.

Trích sách Tập sống vượt lên nỗi sợ, Forgotten among the Lilies, Learning to Love Beyond Our Fears, Ronald Rolheiser

Cách đây mấy năm, có một thanh niên đến xưng tội với tôi. Anh cảm thấy khó khăn khi xưng tội. Anh có quan hệ với một cô và cô đó mang thai. Với rất nhiều lý do, họ không thể làm đám cưới lúc đó. Chuyện mang thai, không thể nào hủy đi được, nó làm xáo trộn cuộc sống của cả hai, chưa kể đến đời sống của đứa bé sắp sinh.

Anh là người tế nhị nên không cần phải nhắc, anh cũng biết trách nhiệm của mình. Anh không cố gắng biện minh, xin tha lỗi hay chạy tội. Anh nhận mình có tội.

Anh cũng nhận biết anh đã gây ra một tình huống không thể thay đổi được nữa và anh đã đánh mất tâm trạng vô tư và ngây thơ của anh, một số chuyện sẽ không bao giờ trở lại như cũ.

Xưng tội xong, anh buồn bã, thất vọng nói: “Chẳng có cách nào để con sống bình thường trở lại, vượt qua được chuyện này. Dù là Chúa, Chúa cũng không làm cho gương vỡ lại lành!”

Theo những gì anh nói, đối với anh, khi nào cũng có bóng ma lởn vởn trong đầu anh. Cuộc sống hàng ngày, với nhịp điệu của nó, sẽ thành khập khiễng và lỗi lầm này sẽ mãi mãi khắc ghi trong suốt cuộc đời anh.

Ngày nay chúng ta sống trong một thế giới và một Giáo Hội mà sự gãy đổ và thái độ như thế đang ngày càng trở thành quy tắc hơn là một trường hợp ngoại lệ. Đối với nhiều người càng ngày càng có một cái gì hệ trọng để sống cách xa, một bóng ma lởn vởn: hôn nhân đổ vỡ, phá thai, không bền đổ, có thai ngoài hôn phối, lòng tin bị bội phản, mối quan hệ bị rạn nứt, tình cảm cay chua, lỗi lầm nghiêm trọng, hối tiếc dằn vặt; đôi lúc có ý thức về tội, đôi lúc không.

Buồn thay, điều này đang xảy ra với nhiều người, như đã xảy ra với anh thanh niên trên, đi cùng với thất vọng là tâm trạng có một cái gì đó đã xảy ra và không lấy lại được.

Có lẽ hơn bất cứ điều gì khác, những gì chúng ta cần hôm nay trong Giáo Hội, là một thần học về gãy đổ, liên quan đến lỗi lầm và tội lỗi, khá nghiêm trọng, cần phải chuộc tội. Thường thường, những gì chúng ta được dạy về chuộc tội chỉ là một cái gì đó còn nhẹ hơn luật nhân quả nghiêm ngặt: một cơ hội trong suốt cuộc đời, chuộc tội khi chúng ta làm đúng, hạnh phúc và thơ ngây chỉ có được khi không có gì để phải tha thứ.

Cuối cùng, chúng ta e sợ Thiên Chúa. Rốt cuộc chúng ta nhìn vào gương vỡ, vào lỗi lầm và tội lỗi của mình, và tin rằng mất mát ơn huệ là chuyện không cứu vãn được, rằng lỗi lầm đã chặn đường chúng ta. Một cách tận căn, chúng ta không còn tin có cơ hội thứ nhì, bỏ qua một bên bảy mươi lần bảy cơ hội, những cơ hội có thể trao tặng cho chúng ta cuộc sống như lúc ban đầu.

Tôi lớn lên trong một nền giáo lý công giáo đậm nét đạo đức. Giữ lời khấn nghiêm nhặt và gọi tội là tội. Dứt khoát, không nhân nhượng trên hầu hết các vấn đề đạo đức. Đòi hỏi mình không được phản bội, phạm tội, mắc sai lầm.

Tôi không cảm thấy hối tiếc về điều đó. Còn thực tế thì tôi cảm thấy khổ tâm vì ngày nay, nhiều người lớn lên trong chủ nghĩa tương đối về mặt đạo đức, biện minh thì nhiều mà thách đố thì ít.

Tuy nhiên, nếu nền giáo lý mà tôi lớn lên có một lỗi nào đó, thì lỗi đó, chính là nó bắt mình không được phép sai lầm. Nó đòi hỏi bạn phải làm đúng ngay lần đầu tiên. Nó nghĩ rằng bạn không cần đến cơ hội thứ nhì. Nếu bạn mắc sai lầm, bạn phải sống với nó và, như chàng thanh niên giàu có trong Phúc âm, bị buộc phải buồn, ít nhất cho đến quãng đời còn lại. Một lỗi lầm nghiêm trọng là một vết dơ vĩnh viễn, một vết hằn bạn phải mang lấy như Ca-in.

Tôi thấy vết hằn đó nơi rất nhiều người: những người ly dị, tu sĩ hoàn tục, những người bỏ đạo, phá thai, ngoại tình, có con ngoài hôn phối, những bậc cha mẹ phạm lỗi nghiêm trọng với con cái, và vô số những người mắc sai lầm nghiêm trọng khác.

Không có nhiều giúp đỡ xung quanh họ. Chúng ta cần một thần học về sự gãy đổ.

Chúng ta cần một nền thần học dạy cho chúng ta, dù gương đã vỡ, thì ơn huệ Chúa cũng làm cho chúng ta sống hạnh phúc với tâm trạng thơ ngây được làm mới lại, khác với bất cứ chiếc gương nào đã bị chúng ta làm vỡ.

Chúng ta cần một nền thần học dạy chúng ta rằng Thiên Chúa không chỉ cho chúng ta một cơ hội, nhưng khi chúng ta đóng cánh cửa này, Ngài mở ra cho chúng ta cánh cửa khác.

Chúng ta cần một nền thần học thách đố chúng ta không nên mắc lỗi lầm, phải xem tội là điều nghiêm nhặt, nhưng nó nói với chúng ta khi phạm tội, khi mắc lỗi lầm, chúng ta có cơ hội cùng đứng với những người gãy đổ, những người sống không hoàn hảo, những người tội lỗi được yêu thương, những người vì họ mà Đức Ki-tô đến trần gian này.

Chúng ta cần một nền thần học nói với chúng ta rằng cơ hội thứ hai, thứ ba, thứ tư, và thứ năm cũng có giá trị như cơ hội thứ nhất.

Chúng ta cần một nền thần học nói với chúng ta rằng lỗi lầm không phải là mãi mãi, suốt đời, rằng thời gian và ơn huệ sẽ gột sạch chúng, rằng không có gì là không thể thay đổi.

Cuối cùng chúng ta cần một nền thần học dạy cho chúng ta Thiên Chúa yêu thương chúng ta như những người tội lỗi và nhiệm vụ của giáo lý Ki-tô không phải là dạy cho chúng ta cách sống, nhưng là dạy cho chúng ta cách để sống lại, và sống lại.

Nguyễn Kim An dịch
http://phanxico.vn/2019/05/15/chua-lam-cho-guong-vo-lai-lanh/

Sunday, July 7, 2019

LÁ BÙA HỘ MỆNH

Lá Bùa Hộ Mệnh : Tôi vô thần nên chẳng tin vào thần thánh, còn vợ tôi là một người con gái bắc, ngoan đạo, thuỷ chung, nết na, đạo hạnh. Ai cũng khen tôi có phước.

Tuy có đạo nhưng vợ tôi có một thói quen mà tôi cho là dị đoan, và tôi cũng chẳng hiểu sao một người theo đạo Chúa mà lại dùng “bùa”.

Sở dĩ tôi đoan chắc vợ tôi dùng bùa vì tôi thấy “cái vật hộ thân” ấy luôn bên cạnh cô ấy, khi thì cầm trên tay, khi thì đeo vào cổ, mỗi sáng thức dậy và trước khi đi ngủ cô ấy luôn mân mê và lầm rầm lặp đi lặp lại một câu thần chú. Đặc biệt mỗi khi tôi đi công tác xa nhà, cô ấy luôn bỏ nó vào túi áo tôi và dặn dò: -Anh không được bỏ rơi vật này, bùa hộ mệnh đấy. Tôi bảo: -Để anh bỏ vào vali. Cô ấy nhất định: - Anh phải để ở trước trái tim đây này, lỡ có mũi tên tình ái nào bắn thì đã có lá bùa này trấn giữ. Chiều lòng vợ tôi cũng cất cẩn thận nơi túi áo ngực trái và không quên bỏ vào túi áo khác khi thay áo. Cũng cần nói thêm, gọi là “lá bùa” nhưng không phải là mảnh giấy, nhưng là một xâu chuỗi với những hạt trắng tròn xinh xắn.

Cho đến một hôm: Sau khi ký kết nghiệm thu hợp đồng trị giá bạc tỷ, đối tác tổ chức một bữa tiệc mừng sự thành công, sau bữa tiệc vui ấy, hơi bia, men rượu làm tâm hồn mọi người phấn chấn. Họ tiếp tục lôi kéo đi thêm tăng hai, tăng ba... Rồi thì việc ắt đến cũng đến...

Trong khi còn chếch choáng men rượu, tôi cảm thấy hưng phấn hơn hẳn vì một cảm giác lạ chưa bao giờ có. Cũng một chút lo lắng, cũng một chút áy náy với vợ, nhưng cảm giác lạ át hẳn sự lo lắng ấy, sự phấn chấn trong tôi càng mạnh mẽ hơn khi tiếp tục được tiếp thêm rượu. Cũng có lúc tôi giật mình nghĩ đến vợ ở nhà, nhưng tôi không đủ sức cưỡng lại...

Chỉ đến khi chiếc áo sơ mi được lột bỏ một cách thô bạo và bị ném lên mặt bàn bên cạnh thì bỗng leng keng, một vật gì rơi xuống đất. Tiếng kêu tuy nhỏ nhưng đanh một cách lạ thường. Tôi ngoái nhìn dưới đất... bỗng tim tôi ngừng đập, bừng tỉnh hoàn toàn khỏi cơn mê khi “lá bùa hộ mệnh” vợ tôi đặt vào túi mỗi khi đi công tác nằm dưới đất như có con mắt nhìn xoáy vào tâm hồn tôi.

Đẩy mạnh “người bạn đồng hành”, tôi vội bước đến cúi xuống nhặt lá bùa hộ mệnh và áp vào ngực trái. “Người đồng hành” với tôi khi nãy nhìn thấy “lá bùa” cũng giật mình và sau ít giây thảng thốt, quỳ sụp xuống miệng cũng lầm râm “câu thần chú” giống vợ tôi.

Rồi người ấy kéo tôi cùng quỳ gối, câu thần chú được đọc to: "Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội...” Nước mắt tuôn rơi, người ấy khóc lóc van xin sự thứ tha của ai đó. Người ấy quỳ gối và cầm chặt lá bùa hộ mệnh của tôi trong tay suốt đêm.

Sáng sớm hôm sau, khi tôi thức dậy “người bạn đồng hành” đêm qua đã biến mất. Kiểm tra hành lý tôi thấy mất “lá bùa hộ mệnh” của vợ tôi, và tìm thấy tờ giấy với những dòng chữ: “Anh nói với chị cho em xin “lá bùa hộ mệnh” của chị, em xin lỗi chị và hứa sẽ trở thành người tốt. Cám ơn chị, chính lá bùa hộ mệnh của chị đã cứu anh và đánh thức em trở về”.

Như tỉnh cơn mê, tôi vội vàng thanh toán tiền khách sạn. Về đến nhà tôi thú nhận tất cả và hỏi về lá bùa. Nhẹ nhàng, không một lời trách móc, cô ấy dắt tôi vào phòng, mở cánh cửa tủ mà tôi chưa mở bao giờ, trong đó có một cây thập giá, một tượng Đức Mẹ nhỏ với tràng chuỗi giống như lá bùa tôi vẫn mang theo bên ngực trái mỗi khi đi công tác.

Sau đó là những ngày Tạ ơn, ..., tìm hiểu, ..., lần chuỗi Mân Côi...

Bây giờ tôi đã là người có đạo. Mỗi tối cả gia đình quây quần với lời ngợi ca: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc...” và lời cầu xin: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con...”

Và tuy là người có đạo tôi cũng “dị đoan” như vợ, cũng vẫn giữ “bùa” và sẵn sàng tặng bạn bè “lá bùa” này kèm câu thần chú : “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con...”

Còn bạn? Hãy thử đi, bạn sẽ thấy tác dụng kì diệu của Kinh Mân Côi.

LNVĐ

(CSTMHĐGDĐM tháng 10.2011)