Sunday, May 27, 2018

Lẽ Sống - Sức Mạnh Lời Chúa

(Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu Radio Veritas Asia)

26 Tháng Năm 

Tokichi Ishi-I, một tên giết người không gớm tay, đã đạt được kỷ lục hạ sát nhiều nạn nhân nhất bằng những phương thế dã man không thể tưởng tượng nổi.

Hắn ta tàn nhẫn hạ sát đàn ông, phụ nữ, kể cả trẻ em. Với bàn tay khát máu, hắn đã thủ tiêu bất cứ người nào tình cờ hắn gặp và muốn giết. Nhưng cuối cùng hắn cũng bị bắt và bị kết án tử hình.

Lúc ở nhà tù chờ ngày hành quyết, hai phụ nữ công tác tông đồ thử khuyên nhủ hắn, nhưng tất cả những câu hỏi han, trò chuyện của họ cũng không làm cho hắn mảy may động tâm, trái lại hắn nhìn thẳng vào họ với một cặp mắt dữ tợn như một hung thú.

Cuối cùng, mất hết kiên nhẫn, hai phụ nữ ra về. Họ chỉ để lại cho hắn quyển Tân Ước, với một hy vọng mỏng manh là hắn ta sẽ đọc và Lời Chúa sẽ hoạt động nơi tiếng nói con người trở nên hoàn toàn bất lực. Niềm hy vọng của họ đã trở thành sự thật. Ishi-I đã đọc và những câu chuyện trong Tân Ước hình như có một sự thu hút mãnh liệt khiến hắn cứ tiếp tục đọc, đọc mãi và cuối cùng hắn đọc đến câu chuyện diễn tả cuộc tử nạn của Chúa Giêsu. Câu Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha trên thập giá: "Lạy Cha, xin Cha tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm", đã thắng sự chống trả cuối cùng trong tâm hồn của hắn. Sau đó anh thuật lại: "Ðọc đến câu này tôi mới dừng lại. Con tim tôi hình như bị đánh động, bị đâm thâu bằng một con dao dài. Tôi có thể gọi đó là tình yêu của ông Giêsu hay tôi phải gọi đó là lòng thương xót của Ngài? Tôi không biết, nhưng điều duy nhất tôi biết là sự hung dữ, tàn bạo nơi tôi đã tan biến và tôi đã tin".

Ông Chrgwin, tác giả đã viết câu chuyện trên trong quyển sách mang tựa đề "Thánh Kinh trong thế giới truyền giáo" đã kết thúc câu chuyện bằng sự ngạc nhiên tột độ của những nhân viên nhà giam có phận sự đến dẫn độ Ishi-I đi hành quyết. Họ đã không gặp được tên sát nhân hung bạo như họ chờ đợi, nhưng là một con người hòa nhã, lễ độ. Ishi-I, tên sát nhân đã được Lời Chúa tái sinh.

Lời Chúa có sức mạnh vạn năng. Lời Chúa có thể biến đổi tâm hồn một tên sát nhân giết người không gớm tay như anh Tokichi Ishi-I và bao tâm hồn sa ngã khác. Lời Chúa có thể là động lực cho bao công tác bác ái của các tu sĩ nam nữ, đang dấn thân phục vụ những trẻ con bị bỏ rơi, những người già nua hấp hối không ai chăm sóc, những kẻ phải sống bên lề xã hội.

Sunday, May 20, 2018

Phân biệt Ngôn Sứ giả với Ngôn Sứ thật!

6/26/2012
Thứ Tư sau Chúa Nhật Tuần XII Thường Niên
2 V 22, 8-13 ; 23, 1-3
Tv 118 

Mt 7, 15-20
 

15 Một hôm, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : "Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi.16 Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ?17 Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu.18 Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt.19 Cây nào không sinh quả tốt, thì bị chặt đi và quăng vào lửa. 20 Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai.

Suy niệm

Giáo lý Công Giáo dạy rằng : có hai giống người trên mặt đất :

- Hoặc là dòng giống sinh ra bởi Adam từ đất mà ra.

- Hoặc là dòng giống được tái sinh bởi Chúa Giêsu (Adam cuối cùng), là Thiên Chúa từ trời mà đến.

Ai được tái sinh bởi Chúa Giêsu, thì đều được tham dự vào sứ mệnh ngôn sứ của Ngài.

Nhưng ta phải phân biệt hai loại ngôn sứ: ngôn sứ giả và ngôn sứ thật.

I. NGÔN SỨ GIẢ.

Có ba loại :

* Sinh ra bởi Adam, bởi Eva. 

* Sinh lại bởi Chúa Giêsu, bởi Lời Chúa do Hội Thánh rao giảng, nhưng không thuộc về Hội Thánh Công Giáo.
* Những người mang danh là Công Giáo, nhưng không sống Đức Ái.

1/ Sinh ra bởi Adam, bởi Eva.

Những ai sinh ra bởi Adam, Eva là sinh ra bởi "cây độc" (Mt 7,18). Vì "bởi Adam sự tội đã đột nhập vào thế gian sinh ra sự chết cho cả dòng giống họ" (Rm 5,12t). Đúng như Đức Giêsu đã nói : "Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ? Nên hễ cây tốt lành thì sinh quả tốt lành, cây độc thì sinh quả độc.Cây tốt lành không thể sinh quả độc, cũng như cây độc không thể sinh quả tốt lành. Cây nào không sinh quả tốt, thì bị chặt đi và quăng vào lửa.Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai" (Mt 7,16-19 : Tin Mừng).

2/ Sinh lại bởi Chúa Giêsu (Cv 2,38), bởi Lời Chúa do Hội Thánh rao giảng (Gc 1,18), nhưng không thuộc về Hội Thánh Công Giáo.

Loại người này khác nào như Ismael, con của ông Abraham và nữ tỳ Agar. Dòng giống này Chúa nói cho ông Abraham biết : Nó không được quyền thừa kế, quyền ấy thuộc về Isaac là con chính thức của ông Abraham và bà Sara (x St 15,3-6 : Bài đọc năm lẻ). Vì "Giao Ước đã lập ra muôn đời Chúa nhớ mãi" (Tv 105/104,8a : ĐC năm lẻ).

3/ Những người mang danh là Công Giáo, nhưng không sống Đức Ái.

Loại người này xác nó thuộc về Hội Thánh, hồn ngoài Hội Thánh, vì nó không kiên trì sống Đức Ái, nên không được Chúa cứu độ mà còn bị phạt nghiêm khắc (x HCHT số 14).

Cả ba loại người trên đều bị Chúa Giêsu liệt vào hàng ngôn sứ giả, "nó đã đội lốt chiên mà đến, chúng là sói tham mồi" (Mt 7,15 : Tin Mừng). Tệ nhất là loại ngôn sứ giả thứ ba, vì nó là loại cây độc gấp bảy lần so với hai loại trên (x Mt 12, 43-45).

Thánh Phêrô lưu ý các tín hữu : "Trong dân cũng đã từng xuất hiện những ngôn sứ giả; giữa anh em cũng vậy, sẽ có những thầy dạy giả hiệu, đó là những kẻ sẽ lén lút đưa vào những tà thuyết dẫn tới diệt vong. Vì chối bỏ vị Chúa Tể đã chuộc họ về, họ sẽ mau chóng chuốc lấy hoạ diệt vong. Nhiều người sẽ học đòi các trò dâm đãng của họ, và vì họ, con đường sự thật sẽ bị phỉ báng. Vì tham lam, họ dùng lời lẽ gạt gẫm anh em để trục lợi. Án phạt họ đã sẵn sàng từ lâu, và hoạ diệt vong đã gần kề" (2 Pr 2,1-3). Bởi vì Chúa đã dùng ông Môsê mà lên án những ngôn sứ giả : "Ngôn sứ nào cả gan nhân danh Ta mà nói lời Ta đã không truyền cho nói, hoặc nhân danh những thần khác mà nói, thì ngôn sứ đó phải chết." (Dnl 18,20). Dựa vào lời ấy, ngôn sứ Ezekiel cảnh cáo : "Các thủ lãnh trong xứ này tựa bầy sói xé mồi; chúng gây ra đổ máu, giết người để trục lợi. Các ngôn sứ trong xứ này tô vôi trát phấn lên chúng, cho thấy những thị kiến hão huyền và nói các lời sấm dối trá. Chúng dám nói: "Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này", nhưng thực ra Đức Chúa đã không phán"(Ed 22, 27-28).

Vậy ai tách rời khỏi Chúa Giêsu và Hội Thánh là Thân Thể Mầu Nhiệm của Ngài, thì họ đều là cây độc, là ngôn sứ giả !

II. NGÔN SỨ THẬT.

Những ai sinh lại bởi Chúa Giêsu (x Cv 2,38), và bởi Lời Chúa do Hội Thánh rao giảng (x Gc 1,18), và kiên trì sống Đức Ái (x HCHT số 14), thì họ luôn sám hối tội mình, trông cậy vào lòng thương xót của Chúa Giêsu và sự bầu cử của Hội Thánh, nhất là của Đức Maria, để được thêm nghị lực thực hành Lời Chúa dạy, dù có lúc họ sống bội ước, đáng phải phanh thây như những con vật bị xẻ đôi khi Thiên Chúa lập Giao Ước với tổ phụ Abraham (x St 15,7-12.17-18 : Bài đọc năm lẻ). Nhưng vào thời Tân Ước, kẻ bội ước không bị phanh thây, mà chính Con Một Thiên Chúa lại bị phanh thây thế mạng cho những kẻ bội ước. Thánh Phaolô trước khi được Chúa Giêsu kêu gọi, ông hết lòng trung thành với Luật Môsê. Thế mà ông lại trở thành ngôn sứ giả, độc ác hơn trái cấm bà Eva ăn, vì ông đã xông về thành Đama để triệt hạ các Kitô hữu (x Cv 9). Nhưng khi ông được Chúa Giêsu thương xót kêu gọi, ông đến học giáo lý nơi môn đệ Ngài và được tái sinh làm con Chúa, gia nhập Hội Thánh, ông được tách khỏi cây độc và tháp vào cây nho tốt lành là Chúa Giêsu, từ đó ông trở thành ngôn sứ tuyệt vời không thua các Tông Đồ thượng đẳng (x 2Cr 11,5). Chúa đã sai ông đi làm ngôn sứ cho muôn dân (x Gl 2,7).

Như thế, nhờ tái sinh bởi Chúa Giêsu (x Cv 2,38), và bởi Lời Chúa do Hội Thánh công bố (x Gc 1,18), và kiên trì sống Đức Ái trong Hội Thánh, mới thực là người Công Giáo chân chính, trở nên ngôn sứ thật của Chúa Giêsu. Vì Chúa chỉ giao sứ mệnh ngôn sứ cho Hội Thánh Ngài lập mà thôi (x Mt 11, 25-26 ; 16, 17 ; Lc 10,16 ; 22, 31-32 ; Ga 18, 19-21 ; Gl 1,8).

Chân lý này đã được tiên báo qua vị thượng tế Khin-ki-gia-hu tìm được Sách Luật trong Nhà Chúa, rồi ông nói với ký lục Sa-phan đệ trình đức vua, vua nghe những lời ghi chép trong Sách Luật, ông xé áo mình ra, tỏ dấu sám hối, vì tiền nhân đã không tuân giữ Luật Chúa, làm Chúa bừng bừng nổi cơn thịnh nộ chống lại dân. Thế nên vua tập họp toàn dân cùng với các kỳ mục Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đến. Vua lên Nhà Chúa đọc cho dân nghe tất cảnhững Lời trong Sách Giao Ước đã tìm thấy trong Nhà Chúa. Hôm đó dân cam kết bước theo Chúa hết lòng hết dạ và tuân giữ các lệnh truyền của Ngài (x 2V 22, 8-13 ; 23,1-3 : Bài đọc năm chẵn).

Như thế,dân tộc Do Thái chỉ tìm thấy Lời trong Nhà Chúa, và đã trở thành mối hiệp thông giữa các thành phần trong dân, để cùng với đức vua tôn vinh Thiên Chúa.Đó là lý do mà hôm nay chúng ta chỉ đón nhận được Lời Chúa chính xác qua Phụng Vụ của Hội Thánh (x Hiến Chế Phụng Vụ số 7, số 24 và số 52), thì còn hơn vị tư tế Khin-ki-gia-hu tìm thấy Sách Luật trong Nhà Đức Chúa.

Vậy ngôn sứ thật của Chúa phải luôn cầu nguyện : "Lạy Chúa, xin dạy con đường lối thánh chỉ" (Tv 119/118,33a : ĐC năm chẵn), để được Chúa ở cùng, vì Chúa Giêsu kêu gọi : "Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em. Ai ở lại trong Thầy thì sinh nhiều hoa trái" (Ga 15,4a.5b : Tung Hô Tin Mừng).

THUỘC LÒNG

Ai liên kết với Adam là cây độc, trở thành kẻ trộm cướp ; ta liên kết với Chúa Giêsu là Adam cuối cùng, là cây nho thật, sinh hoa trái sự sống Phục Sinh (theo Mt 7,17).

Linh mục GIUSE ĐINH QUANG THỊNH
http://conggiao.info/phan-biet-ngon-su-gia-voi-ngon-su-that-d-8712

Saturday, May 19, 2018

Ngôn sứ thật – ngôn sứ giả

Posted date: Tháng Hai 23, 2013

Từ xa xưa trong đời sống Do thái giáo đã xuất hiện việc phân định thiêng liêng hay biện phân thần khí. Điều này được hiểu như là hành vi mở lòng ra với Thiên Chúa, lắng nghe Ngài, hầu có thể nhận biết và thực thi ý Ngài. Việc làm này càng trở nên cấp thiết vào thời các ngôn sứ khi có nhiều người nhân danh Đức Chúa và nói Lời của Ngài, khiến cho Dân hoang mang vì khó nhận biết đâu là ngôn sứ thật và đâu là ngôn sứ giả.Trong khuôn khổ bài viết này, như một gợi ý cho việc nhận định thiêng liêng trong đời sống đức tin, người viết xin mạn phép trình bày hiện tượng ngôn sứ thật và ngôn sứ giả trong các sách ngôn sứ Isaia, Giêrêmia và Êdêkien.

Do thái giáo chịu ảnh hưởng sâu xa bởi tôn giáo vùng Cận Đông. Từ rất lâu người ta đã tìm thấy nét tương đồng giữa những nền tôn giáo này, mà cụ thể nhất là đặc tính ngôn sứ. Ngay từ thế kỷ thứ VIII (trước Công nguyên), người ta đã tìm thấy nơi thành phố A-mốt, thuộc xứ Ma-ri, những bia đá ghi lại các sinh hoạt ngôn sứ. Khắp vùng Cận Đông hồi ấy, người ta cũng nghe đến các danh xưng như: thầy thị kiến, người thuộc linh… …Chúng được dùng để chỉ những nhân vật mà dân tin là biết và chuyển giao sứ điệp các thần minh. Ngay trong Kinh thánh Do thái giáo cũng thấp thoáng hình bóng của họ (1V 18,19-40 ; 1Sm 10,5 ; Ed 21,26 ; Is 1,10 … …)

Tính cách phổ biến ấy không những giúp giải thích nguồn gốc truyền thống ngôn sứ Israelmà còn làm nổi bật sự khác biệt giữa những ngôn sứ ở trong và các ngôn sứ ngoài truyền thống này.

Hiện tượng nói thay các thần minh trong văn hóa và tôn giáo xứ Canaan đã dẫn đến tình trạng nhiều người trong Israel tự xưng mình là ngôn sứ. Ngôn sứ nào cũng cho mình là thật. Có những ngôn sứ giả biết mình là giả, lại có những ngôn sứ giả nhưng không biết mình là giả. Để hiểu rõ một ngôn sứ là giả hay thật, ta cần trở về với Cựu Ước, đặc biệt là các sách ngôn sứ nêu trên.

Trước hết, các ngôn sứ giả là những người có lối sống lầm lạc. Họ lừa dối kẻ khác bằng những mánh khóe và phán đoán sai lầm:

"Cả bọn này nữa cũng chếnh choáng vì rượu, lảo đảo vì men: tư tế và ngôn sứ đều choáng vì men …, chếnh choáng trong thị kiến, loạng quạng khi xét xử." (Is 28,7)

Nơi họ còn biểu hiện sự lẫn lộn giữa những hứng khởi, ham muốn riêng tư và ý muốn chân thật của Thiên Chúa:

"Chúng kể cho nhau nghe những giấc chiêm bao có ý làm cho dân Ta quên bẵng danh Ta, giống như cha ông chúng đã quên danh ta mà nhớ Ba-al." (Gr 23,27)

"Chúng kể lại những giấc chiêm bao và làm cho dân Ta lầm lạc… … Chính Ta, Ta đã không phái chúng đi, cũng chẳng truyền lệnh cho chúng."  (Gr 23,32)

Ngược lại, những ngôn sứ thật có đời sống ngay thẳng, một lòng phụng sự Thiên Chúa qua sứ mạng được trao phó (Is 61,1; Xp 2,3). Họ là những ngôn sứ thuộc truyền thống mà tiêu biểu là Mô-sê (Đnl 18,9-21).

Tuy nhiên, với quan điểm Cựu Ước hoạt động ngôn sứ giả cách nào đó lại là phương thế Gia-vê thử luyện dân Ngài (Gr 4,10 ; 1V 22,19-23)

Ngôn sứ giả luôn loan báo theo ý riêng, chứ không theo ý muốn Thiên Chúa. Chốn cung đình, họ tìm nói những điều hợp ý vua quan, không can đảm công bố điều Thiên Chúa truyền dạy. Điều này được miêu tả rõ nét trong cuộc tranh luận giữa Khanania và ngôn sứ Giêrêmia (Gr 28). Đứng trước nguy cơ Israel bị Babylon thôn tính, Khanania, mệnh danh là ngôn sứ, xem ra bình thản và có những lời vuốt ve tình cảm yêu nước. Trong khi đó, Giêrêmia lại khuyên nhà vua thần phục Babylon(Gr 27,8). Thực ra, quan điểm trái nghịch của ông không nhằm khẳng định rằng ngôn sứ loan báo bình an thì không đáng tin, và ngôn sứ tuyên sấm tai họa thì khả tín. Nhưng điều làm nên ý nghĩa ở đây là lời sấm của Giêrêmia được đặt trong truyền thống ngôn sứ Israel, nơi đó ý muốn Thiên Chúa được thể hiện:

"Nhưng xin ông lưu ý những điều tôi sắp nói đây: Các ngôn sứ có trước tôi và ông từ ngàn xưa đã tuyên sấm về nhiều xứ sở, vương quốc hùng mạnh, là sẽ có chiến tranh tai ương và ôn dịch. Còn ngôn sứ nào tuyên sấm có bình an, thì chỉ khi nào lời ngôn sứ ấy ứng nghiệm, ông mới được nhìn nhận là ngôn sứ Đức Chúa sai đến thật" (Gr 28,7-9)

Hơn nữa, trong viễn tượng đức tin, Giêrêmia còn cho biết Babylon sẽ nên "roi vọt" Thiên Chúa dùng để sửa phạt dân vì họ phản bội Ngài và phá vỡ Giao ước (Gr 44,3). Và sự thật đã xảy ra như vậy.

Điều tương tự cũng diễn ra khi Êdêkiel phi bác nhũng lời sấm của những ngôn sứ giả về sự bình an giả tạo (Ed 13,10). Đó chỉ là lời hứa hão huyền nhằm ru ngủ dân. Bình an đích thực không đơn giản hệ tại ở những an toàn bên ngoài, nhưng còn là sự trao hiến hạnh phúc cho đồng loại nhờ mối tương quan tốt đẹp với Thiên Chúa và tha nhân:

"Chúng bô bô bình an vô sự, để xoa dịu những thương tích của dân ta, trong khi chẳng có bình an chi cả. Việc chúng làm thật kinh tởm biết bao, lẽ ra chúng phải xấu hổ, nhưng chúng nào có xấu hổ gì đâu……" (Gr 6,14.15)

Sở dĩ các ngôn sứ loan báo cách lầm lạc như vậy cốt để tìm tư lợi:

"Các ngươi xúc phạm đến Ta nơi dân Ta chỉ vì những nắm lúa mạch, những mẫu bánh …" (Ed 13,19)

Ngoài ra, còn có một đặc tính quan trọng góp phần làm nên phong cách cao đẹp của vị ngôn sứ thật: kinh nghiệm thâm sâu về Lời Thiên Chúa. Chính Lời chạm đến nơi sâu thẳm tâm hồn các ngài, tạo nên rung động và hòa nhịp. Từ đó các ngài đáp trả cách mạnh mẽ, can đảm chịu mọi thử thách và dám sống chết cho Lời:

"Nhưng Lời ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt. Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được." (Gr 20,9)

Trước những đau khổ, các ngài vẫn cậy trông vào Chúa:

"Nhưng Đức Chúa hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng." (Gr 20,11)

Nói tóm lại, từ việc phân tích trên, chúng ta có thể rút ra nguyên tắc nhận biết ngôn sứ giả hay thật. Ngôn sứ thật là người mà trọn đời sống và lời loan báo của họ giúp dân yêu mến Thiên Chúa và thực thi lề luật của Ngài. Trái lại, ngôn sứ giả là kẻ, qua cách sống và sấm ngôn lầm lạc, chỉ dẫn dân rời xa Thiên Chúa:

"Nếu ở giữa anh em xuất hiện một ngôn sứ… …, và nó bảo chúng ta hãy theo và phụng thờ các thần khác, những thần mà anh em không biết, thì anh em đừng nghe những lời của ngôn sứ hay những kẻ chuyên nghề chiêm bao ấy, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, thử thách anh em cho biết anh em có yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ không. Chính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, là Đấng anh em phải theo; chính Người là Đấng anh em phải kính sợ; anh em phải giữ các mệnh lệnh của Người, phải nghe tiếng Người; chính Người là Đấng anh em phải phụng thờ; anh em phải gắn bó với người" (Đnl 13, 2-5)

Từ việc tìm hiểu hiện tượng ngôn sứ thật, ngôn sứ giả trên đây, chúng ta có thể rút ra nguyên tắc nhận định thiêng liêng cho đời sống đức tin hôm nay: Điều nào giúp tôi kết hợp với Chúa thì khởi đi từ Ngài; điều nào khiến tôi xa Ngài thì xuất phát từ quyền lực tăm tối, thế gian. Ước mong việc tìm hiểu này góp phần giúp ích cho người tín hữu lắng nghe, nhận biết, yêu mến và thực thi ý Chúa như giá trị duy nhất và chân thật đem lại sự sống cho chính mình, giữa biết bao những giá trị khác vốn đã và đang được cổ súy mạnh mẽ bởi những trào lưu sống khác nhau./.

Lm. Anrê Phạm Hòa Lạc

http://daichungvienvinhthanh.com/ngon-su-that-ngon-su-gia/

Sunday, May 13, 2018

“Thưa cha, con không đi nhà thờ nữa!”

"Một thanh niên trẻ đến gặp một linh mục và nói:
– Thưa cha, con không đi nhà thờ nữa!
Linh mục hỏi:
– Vậy à, con có thể cho cha biết lý do không?
Người thanh niên trả lời:
– Lạy Chúa tôi, ở đây con thấy cô này nói xấu cô kia; anh đọc Sách Thánh đọc dở; ca đoàn vừa chia rẽ vừa hát sai; người đi xem lễ chỉ chăm chăm nhìn điện thoại, đó là không nói đến ngoài nhà thờ họ là những người ích kỷ, cao ngạo…
Linh mục nói với anh:
– Con có lý. Nhưng trước khi dứt khoát rời nhà thờ, con có thể làm cho cha việc này: con rót một ly nước đầy, rồi đi quanh nhà thờ ba vòng mà không làm đổ một giọt. Sau đó, con có thể bỏ nhà thờ.
Người thanh niên tự nhủ: quá dễ!
Và anh đi ba vòng như cha xứ dặn. Đi xong, anh về nói với cha:
– Rồi, con đi xong rồi.
Linh mục hỏi:
– Khi con đi, con có thấy cô này nói xấu cô kia không?
Người thanh niên trả lời:
– Thưa cha không.
–  Con có thấy người này người kia thờ ơ với nhau không?
Người thanh niên:
– Thưa cha không.
– Con có thấy người này người kia chúi mũi vào điện thoại không?
Người thanh niên:
– Không, con không thấy.
– Con có biết vì sao không con không thấy không: vì con tập trung để ly nước không bị đổ. Con biết… cuộc đời cũng vậy. Khi tâm hồn chúng ta tập trung vào Chúa Kitô, thì chúng ta không có thì giờ để nhìn các sai lầm của người khác. Ai ra khỏi nhà thờ vì các kitô hữu đạo đức giả thì chắc chắn họ cũng không vào nhà thờ vì Chúa Giêsu".

(Nguồn: FB)

Sunday, May 6, 2018

Lẽ Sống - Khác Biệt Giữa Ngày Và Ðêm

(Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu Radio Veritas Asia)

6 Tháng Năm

Một vị đạo sĩ Ấn Giáo nọ hỏi các đệ tử của ông như sau: "Làm thế nào để biết được đêm đã tàn và ngày bắt đầu?"

Một người đệ tử trả lời như sau: "Khi ta trông thấy một con thú từ đằng xa và ta có thể nói: đó là con bò hay con ngựa".

Câu trả lời trên đây đã không làm cho nhà đạo sĩ ưng ý chút nào...

Người đệ tử thứ hai mới lên tiếng nói: "Khi ta thấy một cây lớn từ đằng xa và ta có thể nói nó là cây xoài hay cây mít".

Vị đạo sĩ cũng lắc đầu không đồng ý. Khi các đệ tử nhao nhao muốn biết câu giải đáp, ông mới ôn tồn nói như sau: "Khi ta nhìn vào gương mặt của bất cứ người nào và nhận ra người anh em của ta trong người đó thì đó là lúc đêm tàn và ngày mới bắt đầu. Nếu ta không phân biệt được như thế, thì cho dù đêm có tàn, ngày có bắt đầu, tất cả mọi sự không có gì thay đổi".

Ngày 25 tháng 12, lễ Thần Mặt Trời của dân ngoại đã được Giáo Hội chọn làm ngày sinh của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu quả thực là Mặt Trời Công Chính. Ngài xuất hiện để báo hiệu Ðêm đã tàn và Ngày Mới bắt đầu.

Nhân loại đã chìm ngập trong đêm tối của tội lỗi, đêm tối của trốn chạy khỏi Thiên Chúa và chối bỏ lẫn nhau giữa người với người. Chúa Giêsu đã đến để xóa tan đêm tối ấy và khai mở ngày mới trong đó người nhận ra người, người trở về với Thiên Chúa.

Quả thực, chỉ trong Ðức Giêsu Kitô, mầu nhiệm con người mới được sáng tỏ. Trong đêm tối âm u của khước từ Thiên Chúa và chóii bỏ lẫn nhau, con người đã không biết mình là ai, mình sẽ đi về đâu. Trong ánh sáng của Chúa Giêsu Kitô, con người nhận dạng được chính mình cũng như nhìn thấy người anh em của mình.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó chính là nhìn thấy hình ảnh của Thiên Chúa nơi mọi người cũng như phẩm giá vô cùng cao quý của người đó.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó là nhìn thấy niềm vui, nỗi khổ, sự bất hạnh và ngay cả lỗi lầm của người đso như của chính mình.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó chính là sẵn sàng tha thứ cho người đó ngay cả khi người đó xúc phạm đến ta và không muốn nhìn mặt ta.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó cũng có nghĩa là không thất vọng về khả năng hướng thiện của người đó.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó cũng có nghĩa là muốn nói với người đó rằng, cách này hay cách khác, ta cần người đó để được sống xứng với ơn gọi làm người hơn.

(Nguồn: http://vntaiwan.catholic.org.tw/lesong/06lesong5.htm)