Sunday, August 5, 2018

Lẽ Sống - Tha Nhân Không Là Hỏa Ngục

(Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu Radio Veritas Asia)

05 Tháng Tám

Có một chàng thanh niên khao khát trở thành một thánh nhân. Chàng xin vào một dòng tu. Không mấy chốc, chàng khám phá ra tính tình nóng nảy của mình. Nhưng thay vì tìm căn nguyên nơi mình, chàng quy trách cho những người xung quanh. Tha nhân đã trở thành hỏa ngục đối với chàng.

Sau cùng, không còn chịu nổi đời sống tập thể nữa, chàng nghĩ có thể tìm thấy sự yên tĩnh trong sa mạc. Thế là chàng đã lên đường tìm đến một nơi hoang vu vắng vẻ để cắm lều sống đời ẩn sĩ. Mà thật thế, chàng đã tìm lại được sự thanh thản trong tâm hồn...

Tuy nhiên, sự bình an trong cô quạnh ấy không kéo dài được. Ma quỷ đã kéo đến và chúng đã gây xáo trộn trong căn lều xinh xắn của chàng. Không còn giữ được bình tĩnh, chàng đã nổi tam bành và đạp đổ tất cả...

Sau cơn giận dữ, trở lại trạng thái bình thường, chàng mới hồi tâm suy nghĩ: Tôi đã bỏ lại tu viện các anh em của tôi, nhưng tôi lại mang chính tôi vào sa mạc. Không phải anh em tôi là căn nguyên của đau khổ của tôi, nhưng tính tình của tôi mới là đầu mối của mọi đổ vỡ...

Chúng ta được sinh ra trong một gia đình, chúng ta được mời gọi để sống trong xã hội. Tha nhân không phải là một trở ngại, nhưng chính là một trợ giúp để chúng ta phát triển nhân cách và thành toàn.

Tất cả mọi căn nguyên chính của thất bại và thành công đều nằm trong ta. Cuộc chiến cam go nhất và liên lỉ nhất của chúng ta, chính là chiến đấu chống lại bản thân chúng ta. Xã hội có thể thay đổi, cuộc sống có thể tốt đẹp hơn nếu chúng ta biết cải thiện con người của chúng ta trước.

Sunday, July 29, 2018

Ðức Cha Cassaigne Sanh, Giám mục người cùi Việt Nam

Thi Chương

Gioan Cassaigne sinh ngày 30-01-1895, tại Grenade-sur-l’Adour, Landes (miền 40), giáo phận Air et Dax, Pháp. Con trai duy nhất của ông Joseph Cassaigne (1842-1948) làm nghề thử và bán rượu, và bà Nelly Cassaigne (1852-1907). Gia đình còn bà ngoại tên Héloise Cassaigne, qua đời khi cha Cassaigne ở Di Linh (22-4-1929). Là con một, nên được mẹ và bà ngoại chăm sóc giáo dục cẩn thận. Chính mẹ đã dạy con học, đọc kinh, lần chuỗi và dẫn con đi nhà thờ, ghi tên cho con vào nhóm trẻ giúp lễ. Gioan thích và chăm chỉ mỗi khi giúp lễ. Khi còn nhỏ, Gioan theo học nội trú ở trường Saint Bernard, ở Bayonne và sau chuyển qua trường San Sabastien ở Tây Ban Nha. Gioan giỏi Toán, tiếng Pháp, và đứng đầu về thể thao. Năm Gioan 12 tuổi mẹ mất (18-8-1907) và khi đang làm Giám Mục Sàigòn thì cha mất (15-1-1950). Sau khi mẹ mất Gioan phải bỏ học 3 năm, về nhà phụ cha đi ban rượu cho tới năm 1911. Gioan buồn vì phải bỏ học tiếng Latin để học tiếng Tây Ban Nha, cho tiện buôn bán. Ơn gọi của Gioan đến trong trường hợp sau : Thời đó, nhiếu gia đình đọc Journal des Voyages của cha Alexandre de Rhodes (1653 ), và Annales de la Propagation de la foi. Trong đó có nhiều tin tức về công việc truyền giáo ở Ấn Độ, Phi Châu và Đông Dương. Gioan thích ngồi bên mẹ và bà ngoại sau khi đọc báo, nghe kể lại những chuyện bên các xứ truyền giáo, tò mò hỏi bà ngoại về những danh từ Latin. Gioan say mê tiểu sử thày giảng Anrê Phú Yên, vị tử đạo đầu tiên của VN. Một hôm, vào năm 1906, Gioan thấy được một carte postale, từ Tonkin, con dấu tròn của bưu điện ghi ngày 18 Juin 1906. Bên cạnh dấu Bưu điện có ghi : 200. TONKIN - Kebao - Village sur Pilotis en baie d’Along. Gioan nói với mẹ : Con muốn trở thành linh mục, và nhà truyền giáo. Bà ngoại hay chuyện này. Nhưng quyết định là do người cha và phải học tiếng Latin. Gioan cất kỹ carte postale này và luôn kẹp vào sách Missel. Ơn gọi luôn ấp ủ trong lòng cậu bé ngoan, tốt lành. Năm 1908, áp lễ các linh hồn, bà ngoại nói với Gioan : Mai là lễ các linh hồn, cháu nhớ cầu cho mẹ nhiều nhé. Hôm sau tại nhà thờ, Gioan mở Missel ra, có kẹp ảnh mẹ. Gioan đăm chiêu cầu nguyện. Qua Phúc Âm lễ, Gioan linh cảm mẹ đã ‘‘yên vui và hoan lạc trên Quê Trời Cõi Phúc’’ và chứng dám cho ơn gọi của mình. Gioan vui sướng như ý Chúa đã thành. Nhưng biết đến bao giờ, ngày nào, làm gì bây giờ ? Thế rồi, một hôm tại trường học, trong lớp Gioan làm rớt Carte Postale, sư huynh giám thị Zéphyrin lượm được. Qua trao đổi, thày Zéphyrin biết ý định đi tu truyền giáo ở Tonkin của Gioan. Và nhà giáo dục trẻ này đã giúp Gioan đạt ý nguyện. Năm 1913, Gioan vào tu học trường Sư Huynh tại Saint-Lo. Từ năm 1914, Gioan 19 tuổi, nhập ngũ và phục vụ trong sư đoàn 6 ở Vincennes. Gioan đã tham dự tác chiến ở Saint Michel, ở Bar-le-Duc. Trong quân ngũ, Gioan làm việc trong bệnh xá chung với Hội Hồng ThậpTự. Ít nguy hiểm mà dơ bẩn. Nhưng Gioan thích và sốc vác công việc. Áo blouse trắng lúc nào cũng dính đầy máu. Nhiều khi không có băng-ca, Gioan đã cõng hay vác bệnh nhân chạy, tránh bom đạn.

Sau khi giải ngũ, từ 1919-1925 Gioan nhập học chủng viện Thừa Sai Paris và thụ phong linh mục ngày 19-12-1925. Ngày 06-04-1926, Cha mới từ giã ba mẹ tại ga Lyon đi Marseille lấy tàu qua Việt Nam, và tới Sàgòn ngày 05-05-1926, học tiếng Việt ở Cái Mơn và chọn tên VN là Gioan Sanh. Ngày 24-01-1927, Đức Cha Isidore Marie Joseph Dumortier Đượm (MEP. 1869. 1893. 1925. 1940) cử Ngài làm cha sở họ Di Linh. Thánh lễ đầu tiên gồm Cha, chú giúp lễ đem từ Sài-gòn, ông bõ điếc xin theo từ Cái Mơn và vợ chồng người Mọi.

Viên Đá đầu tiên

Vào một ngày thứ Năm, cuối 1927, khi đi săn kiếm thức ăn, Cha gặp một phụ nữ cùi rên la bị gia đình bỏ mặc trong một chòi lá cao, chờ chết. Cha trèo lên đến sát bên an ủi. Hôm sau Cha đem thuốc và đồ ăn tới. Cha tiếp tục thăm và chăm sóc, và rửa tội cho bà, được hai tuần bà chết, ngày 08-12-1927, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm. Trước khi nhắm mắt, bà nói : Ông Lớn ơi, con sẽ nhớ đến Ông Lớn, khi con về Nước Trời. Đó là viên đá đầu tiên trong đời truyền giáo của Cha. Cha đã dâng thánh lễ tạ ơn sốt sắng như lễ mở tay. Nhờ đó Cha biết có nhiều người cùi lang thang trong rừng. Cha tiếp tục tìm kiếm người cùi, thuyết phục họ về sống chung, gần ngài. Từ từ Cha tập trung họ sống thành làng. Cuối tháng 3-1927, cất nhà nguyện bằng lá, bắt đầu có thánh lễ mỗi Chúa nhật. Tháng 7-1927, ban ngày mở lớp học cho trẻ em, vừa dạy chữ vừa giáo lý. Ban đêm cho người lớn. Ngày 19-3-1929, chọn lễ thánh Giuse, làm ngày khai sinh làng cùi, rửa tội cho người thượng đầu tiên tên Giuse Braé. Làng được 23 bệnh nhân cả nam nữ, tại đồi Kala, ở trong 6 nhà lá. Noel 1930, một gia đình được rửa tội, khánh thành tháp chuông. Tiếng chuông đầu tiên vang lên thay cho tiếng cồng. Một mình coi xứ đạo, và làm đủ việc : y tá có khi đỡ đẻ, chạy gạo và thuốc men cho dân làng cùi. Từ đây, Cha nhuốm bệnh sốt rét và lao phổi. Một năm bị sốt tới 10 tháng như cha nói : ‘‘Trong 12 tháng, tôi bị sốt hết 10 tháng. Nhưng tôi không thể nằm nghỉ, vì không chút yên lòng và không có một ai thay thế tôi lo cho bệnh nhân’’. Năm 1938, có thêm 3 nữ tu dòng Bác Ái Vinh Sơn người Pháp đến giúp. Làng cùi đã có tới 100 người.

Cha học và nói thông thạo tiếng thượng Koho và xuất bản tự điển thượng ngữ Koho-Pháp Việt (1929), và Giáo lý (?) và phong tục Thượng (1937), in tại Tân Định. Vào thập niên 60, chính cha tổ chức và phát thanh trên đài phát thanh Đà Lạt chương trình tiếng Koho. Khu vực mục vụ của Cha rất rộng, chạy dài cả 100 cây số dọc theo đường từ Di Linh ngược lên tới Bắc Hội, Cầu Đất, Bảo Lộc, Kala, Công Hinh... Cha làm việc kiệt sức, không chịu nghỉ, người ta bắt đem cha vào nhà thương Đà Lạt (1929), không bớt lại đem Cha về Sàigòn (1930) và bắt Cha phải về Pháp chữa trị (1931). Ở Pháp cha vẫn nóng lòng : ‘‘Mau mau cho tôi về Việt Nam với những đứa con Thượng của tôi. Vì tôi không thể bỏ chúng một mình’’.

Cha đã tả về tình trạng con cái người như sau : Giữa họ có rất nhiều người mắc bệnh cùi mà thiếu ăn nên chết đói. Thiếu thuốc chữa, thiếu nhà ở nên bị bỏ rơi, phải chui rúc dưới bụi cây, ở trong hang lỗ, đau ốm, đói khổ rồi chết (1965)... Cha phùc trình về Pháp : Khi còn làm việc được thì người cùi còn được sống trong gia đình. Khi thân tàn ma dại vì bệnh cùi, nhất là khi các ung thối bắt đầu phá : miệng lở loét, mủ máu vấy đầy, khiến người chung quanh nhờm gớm kinh tởm không chịu được. Lúc ấy dân làng đưa họ vào xó rừng, để họ ở lại đó một mình, sống chết sao mặc kệ. Rồi yếu liệt trong túp lều hiu quạnh, đói khổ, mà chết dần chết mòn... Không kể trường hợp bị cọp tha đi... Người cùi là người biết mình đang chết, nhìn rõ ràng những sinh thúi rục rã của chốn mồ sâu...

Giám mục đơn nghèo

Ngày 20-02-1941, đang lúc băng bó vết thương cho bệnh nhân, Cha nhận được thư Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám Mục Sàigòn. Ngài nói : ‘‘Lần thứ ba, nước mắt lại đến với tôi : mất mẹ, bỏ cha và nay lại xa các con tôi’’. Được tin này, Ngài viết thư cho bố : Con chỉ mong ước làm vị truyền giáo tầm thường, nghèo là vui thỏa lắm rồi. Nay người ta lại đổi áo, đổi chỗ cho con trong Giáo Hội. Khẩu hiệu Giám Mục là Bác Ái và Tình Yêu (Caritas et Amor). Ngày lễ thụ phong giám mục (24-06-1941) người ta lấy làm lạ vì có đoàn con chiên cùi vây quanh Ngài. Cha con vui vẻ. Địa phận Sàigòn rất quen với hình ảnh của Ngài là ‘‘Đức Cha đi xe đạp’’ có khi Ngài đi vespa đi đến các họ đạo, dễ len lỏi vào khu dân cư. Trong thời gian làm Giám Mục, Sàigòn trải qua nhiều đổ nát, chết chóc do cuộc đảo chính của người Nhật 19-3-1945, Việt Minh nổi dậy tuyên bố độc lập 2-9-1945 và chiến tranh Đông Dương kết thúc bằng hiệp định Genève 20-7-1954. Sàigòn đón nhận 6.000 người di cư từ Bắc vào Nam... Tòa Giám mục luôn mở cửa đón nhận và lắng nghe tiếng kêu cứu, nguyện vọng mọi ngưòi, từ mọi nơi. Ngài luôn có mặt tại những nơi hỏa hoạn, giúp đỡ lo cơm, áo mặc cho người tỵ nạn và dân nghèo.

Cả đời, từ khi chịu chức linh mục cho tới qua đời, Ngài sống hết sức đơn nghèo. Ngài thường nói : Nghèo khó là ngọn gió thiêng thổi đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Linh đạo của Ngài là sống nghèo. Vì thế Ngài thương người nghèo. Ngài luôn khước từ những cái dư thừa, chỉ dùng những cái cần thiết. Khi còn làm giám mục ở Sài gòn, Ngài đã xin các cha giúp ngài có lễ để làm, lấy tiền mua vé tàu thủy đi triều yết Đức Giáo Hoàng Pio XII vào ngày 17-10-1947. Sau Roma, Đức Cha về Pháp thăm trụ sở MEP, về quê thăm bố đã 85 tuổi. Hai cha con đi hành hương Lộ Đức. Đồ đạc quần áo hành hương, Ngài để gọn trong chiếc rương mà Hội Thừa Sai Paris đã cho khi qua VN. Gia tài chỉ có thế. Trước khi đi Roma, vì thấy Ngài không có quần áo nào tốt có thể mặc được nên cha quản lý đã may cho Ngài ít quần áo mới để Ngài mang theo. Nhưng cha này sợ Ngài không nhận, nên cha đã gói những quần áo mới này vào trong một bọc riêng, và nhờ Ngài khi tới Marseille chuyển cho linh mục Fabre. Khi Ngài đi rồi, cha quản lý viết thư nói rằng gói quần áo đó để cho Đức Cha dùng, chứ không phải gửi cho cha Fabre nào đâu. Ba tuần sau, Ngài viết thư về : Cám ơn con, nhưng con đã làm không vừa ý Cha. Khi trở lại Sàigòn, Ngài nói số quần áo đó Ngài đã để lại cho những người khác cần hơn mình. Có lần ở Di Linh, Ngài không có tiền để vá bánh xe. Cha sở đưa cho Ngài 100 đồng. Vá xe hết 50 còn 50 đồng, Ngài đem trả lại cho cha sở. Ai đến thăm Ngài ở Di Linh thì thấy căn phòng Ngài rộng 14 m2, là 1 trong 38 phòng của trại, chẳng có gì đáng kể : 1 giường gỗ loại bệnh viện, 1 tủ gỗ nhỏ, 1 bàn với hai ghế thô sơ, 1 rương sắt đem từ Pháp qua. Về già, Ngài tự nấu bữa ăn sáng và tối. Trưa thì nhận phần cơm nhà thương như bệnh nhân khác. Sài gòn vào năm 1951, Ngài đã tổ chức Đại Hội Thánh Thể rất lớn, lôi cuốn hàng trăm ngàn người trong giáo phận về tham dự.

Làm việc ở Sàigòn mà vẫn nhớ tới con chiên ở Di Linh. Tạm rời Kala về Sàigòn làm giám mục, nhưng Đức Cha vẫn nhớ và hướng về con cháu cùi của mình trên cao nguyên giá lạnh. Nơi mà nhiều sách viết gọi là ‘‘Thiên Đàng của Tình Thương và hoan lạc’’ (La cité de l’Amour et de la Joie). Ngài lo lắng và đi ‘‘ăn xin’’ cho đàn con xấu số. Với tư cách là giám mục, lời kêu cầu của Ngài có thế lực và hiệu quả tốt. Chính quyền đương thời nhận trực tiếp giúp đỡ, mở mang trại cùi. Làng cùi được chuyển từ chân lên ngọn đồi, diện tích gần 5 mẫu. Mỗi người cùi được trợ cấp mỗi ngày là 0$50.

Sau 14 năm làm Giám mục, bệnh cùi phát hiện trong người. Ngày 23-6-1943, áp lễ quan thày của Ngài, Ngài đem mở bao thơ ghi kết quả của viện thí nghiệm ngài mắc bệnh Hansen và nói với các cha đến chúc mừng rằng : Đây là quà lễ quan thầy của tôi. Quà mà tôi vừa tiếp nhận. Thật là đẹp. Một cha đọc thấy ghi ‘‘Positif’, liền chảy nước mắt và thưa : Ôi, Đức Cha bị bệnh cùi rồi’’. Đức Cha cười và đáp : Pas du tout ‘‘bị’’ mais c’est ‘’được’’ (đâu phải bị mà được chứ). Với kết quả này, Đức Cha tuyên bố : Tôi bị bệnh phong cùi rồi, Đức Thánh Cha không có lý do gì từ chối đơn xin từ nhiệm của tôi. Trong những ngày ở Di Linh, khi tìm kiếm người cùi, Cha đã từng nói : Tôi muốn được cùi để có thể hiểu và thương người cùi nhiều hơn.

Chọn Việt Nam làm quê hương

Nguyện vọng và vận động của Đức Cha Gioan Sanh là muốn có giám mục VN thay Ngài. Ngày 30-11-1955, Đức Cha trao quyền cho Đức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền (1906-1973). Ngày 03-12-1955, Đức Cha Sanh sung sướng và vui vẻ trở về làng Kala tiếp tục sống rồi chết bên người con cùi. Cha con lại gặp nhau, niềm vui khôn tả. Cha lại tiếp nối con đường cũ, mở rộng làng cùi, có trường học, trạm xá, đường tráng nhựa.

Đề cập đến bệnh nhân cùi, Đức Cha thường khuyên các sơ trẻ mới tiếp xúc với bệnh nhân : Họ quá đau khổ, đừng làm hay có cử chỉ gì khiến họ đau khổ hay buồn tủi thêm. Họ là những người đáng qúi, đáng thương và tha thứ. Phải băng bó họ cả hai vết thương một lúc, thể xác và tinh thần. Ngài kể lại, ngày đầu mới băng vết thương cho người cùi, chưa quen, cha suýt nữa ói mửa. Cha đã chạy vội vào lùm cây bên cạnh nói là đi cầu. Ói xong, lau mặt, cha trở ra tiếp tục băng bó. Làm như vậy, để cho người cùi bớt tủi hổ, vì mình dơ bẩn. Đức Cha rất mực thương bệnh nhân, người giàu, có học hay nghèo, đối xử như nhau. Không quở mắng hay nặng lời với bất cứ bệnh nhân nào. Một hôm vào dịp tết, có hai anh vì say, đánh nhau, Đức Cha đến can, nhưng bị một anh xô té. Người đứng dậy, tươi cười đến vỗ vai anh ta không chút giận hờn. Sợ rằng các sơ biết sẽ quở anh này, Đức Cha đã giữ kín chuyện này. Sau này có người kể lại cho một sơ. Sơ đã hỏi Đức Cha. Đức Cha trả lời : Đâu có gì đáng trách với người bệnh hoạn tật nguyền. Con đừng để ý nữa. Cha muốn vậy. Tội cho cả cha lẫn họ.

Lần khác, môt bệnh nhân bị một sơ quở nặng lời, vì anh phạm lỗi. Đức Cha nghe thấy, liền lên tiếng trách sơ trước mặt bệnh nhân. Sau đó, Ngài đi tìm xin lỗi sơ và nói : Hôm qua cha trách con, cốt ý để cho bệnh nhân đừng tủi, mặc dầu con đã làm phải. Cha đến xin con đừng buồn. Chúng ta không thể làm Chúa Giêsu buồn, thì cũng đừng làm cho người cùi buồn. Vì họ là con Chúa, là hình ảnh Chúa Cứu Thế đau khổ trên Thập Giá. Ba nữ tu VN tận tụy, cánh tay đắc lực, giúp Ngài điều hành lang cùi là : Céleste, Josephine và Angélique. Đức Cha hay nói với các sơ rằng : Cha là người Pháp, nhưng có trái tim Việt Nam.

Đức Cha luôn nghĩ và lo cho bệnh nhân. Hài lòng, thích, cười hả hê và vui khi thấy con cái được chăm sóc chu đáo. Biết ý, nên người phụ trách nhà bếp khi mua được cá hay thịt đều báo cho người hay. Vì quanh năm, trong trại chỉ được ăn cá khô, muối. Năm 1968, hồi Tết Mậu Thân, thiếu gạo, chạy mãi mới mua được 15 bao, ngài mừng và vui cười cả ngày, mặc dầu trong người đang sốt nặng. Các dịp lễ lớn, tết, cả làng được ăn thịt trâu, thịt heo, một loại thực phẩm hiếm. Cha con vui, nhảy múa tưng bừng, như đại hội. Bên cạnh phòng Đức Cha là trại trẻ em. Ngài thường để dành bánh kẹo cho các em, để các em nô đùa ngay trước cửa phòng. Có lần Ngài bị đau nặng, các em chơi to tiếng, các sơ đến la rầy chúng để Ngài nghỉ ngơi. Ngài biết và nói với sơ : Con hãy để chúng vui tự nhiên. Trông chúng vui vẻ là cha đủ nghỉ ngơi rồi. Hãy để chúng đến gần để cha được an ủi. Đức Cha nói tiếp : Nơi nào có trẻ là có Chúa. Không giống như chúng không vào được Nước Chúa. Nếu Chúa tha hình phạt cho thế gian, phần lớn là nhờ sự có mặt của những linh hồn thơ ấu như vậy. Già yếu cần sữa, nhưng mỗi tuần Ngài chỉ dùng một hộp sữa, mà bao giờ cũng để lại một phần cho cậu bé kéo chuông vào cuối tuần. Cứ chiều thứ bảy, cha để sẵn phần sữa ngoài hiên nhà, chú bé kéo chuông đến lấy. Ngài vui khi thấy cậu húp phần sữa này. Một hôm Ngài đi hớt tóc trên Di Linh, để phòng trống. Sơ dọn phòng đã thấy phòng sạch không cần làm gì, vì ngài tự làm lấy hết. Sơ đã thay cái mền quá cũ rách. Trở về, thấy vậy, Đức Cha bảo cất mền mới, để cho bệnh nhân, và phảt trả lại mền cũ cho Ngài.

Về đời sống thiêng liêng. Ngài là gương sáng về lòng sùng kính Đức Mẹ, Thánh Giuse và Thánh Têrêsa. Về tinh thần phó thác cho Đức Mẹ, Ngài nói : Tình tôi yêu mến Đức Mẹ là một tình vô tả, Mẹ chưa bao giờ từ chối một điều gì tôi xin. Năm 12 tuổi, sau khi mẹ chết, Đức Cha kể lại : Lúc ấy tôi đau xót vô lường, rồi nước mắt ngưng khô, vì đã được Đức Mẹ lau sạch. Vì Mẹ đã ''xuống'' ở với tôi thay thế cho mẹ. Đức Cha kể tiếp : Vào buổi chiều mùa Thu trên đất Pháp, Gioan nhớ mẹ quá, mới chạy đến qùi dưới núi Đức Mẹ khóc và kêu gào : Mẹ đứng đó làm gì. Mẹ hãy bỏ núi về nhà con, sống với con. Con mất mẹ và đang cần đến Mẹ thay thế. Đức Cha luôn lần chuỗi Mân Côi. Ba kỷ vật Đức Cha để lại làm kỷ niệm là : một Thánh Giá bằng gỗ qúi, quyển Manuale Christianum, và chuỗi Mân Côi. Trong sách có kẹp câu kinh : Lạy Chúa, là Chúa Trời con, từ bây giờ con bằng lòng và sẵn sàng nhận lãnh bởi tay Chúa cái chết bất cứ cách nào tùy theo Thánh ý Chúa, với nỗi bồi hồi, khốn bức và trần phiền đau đớn nữa. Amen.

Đức Cha có lòng sùng kính đặc biệt thánh Giuse. Ngài thường gọi thánh Giuse là ''Cha Thánh Giuse'', để thay người cha trần gian. Ngài nói : Cha tôi là ông Joseph Cassaigne thương tôi vô cùng, cho tôi tất cả. Nhưng tôi còn một Cha Giuse khác, Cha này thương tôi nhiều hơn. Một nữ tu kể lại : Đức Cha luôn chạy đến với Thánh Cả Giuse. Mỗi khi thấy làng cùi thiếu hụt lương thực, Ngài lại xin với Thánh Giuse. Và không lần nào xin mà không được. Khi nào báo hết gạo, Ngài đáp : Không sao đâu, để cha xin. Rồi Ngài chạy đến khấn xin dưới chân Thánh Giuse. Vài hôm sau là được như ý.

Đường nên thánh của Đức Cha là sống bằng ba tinh thần ''dâng hiến, chấp nhận và phó thác'' của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, quan thầy truyền giáo.

Con đường tu thân tích đức của Thánh Phanxico Xavie là mẫu mực thánh thiện của vị tông đồ người cùi xứ thượng VN. Hàng năm tới ngày lễ Thánh Phanxico, Đức Cha cũng dành một ngày tĩnh tâm và cầu nguyện.

Từ 1972, Đức Cha không còn đủ sức để làm việc vì các căn bệnh hoành hành Cha từ lâu : bệnh sốt rét (từ 1929), cùi (1943), lao xương (1957) và lao phổi (1964). Đời Đức Cha đã bắt chước và hay kể lại gương của thánh Gioan : Một hôm, Thánh Gioan gặp một người cùi lở loét đầy mình, thối tha ghê tởm, Thánh nhân liền ghé lưng cõng anh về nhà riêng, chăm sóc băng bó vết thương. Sáng ra, người cùi biến mất. Thánh nhân cho đó là Chúa Giêsu.

Đức Cha rất quí mến Việt Nam và nói : ‘‘Quê hương Việt Nam chính là quê hương tôi’’ (La patrie Vietnamienne, c’est ma patrie à moi). Vì Chúa đã định như vậy... Tại quê hương này, Cha sung sướng sống giữa các con cái Việt Nam của Cha, dầu cha phải chấp nhận tất cả cực hình về thể xác như hiện giờ. Ngài hay nói : Cha yêu con cái Việt Nam, nhất là người Việt đau khổ. Cha lần chuỗi cho các con. Cha cầu nguyện mỗi ngày cho Việt Nam chúng con. Cha cầu nguyện luôn mãi như vậy. Suốt 48 năm dài, cha đã sống tại Việt Nam, cha đã sống giữa các con và đã dâng hiến tất cả ! Giờ đây, Cha không tiếc một điều gì về sự dâng hiến toàn diện này’’

Đức Cha gửi lại cả tâm tình cho ngườI VN khi nói : "Đời tôi có 3 ước nguyện : Tôi ao ước được đau khổ vì Chúa và vì người anh em. Tôi ao ước được đau khổ như vậy lâu dài, suốt đời và được vững lòng chịu đựng. Tôi ao ước được an nghỉ giữa con cái người cùi của tôi." Đối với người VN Đức Cha hứa :"Trên Thiên đàng, Cha sẽ được biết nhiều. Sẽ rõ hơn về những nhu cầu hồn xác chúng con. Khi ấy Cha sẽ cầu nguyện đắc lực gấp bội cho chúng con."

Di chúc ngày 24-9-1968, để lại có ghi : Khi cha qua đời, hãy chôn cất cha như một người cùi đã được chôn tại đây. Không được tốn kém thêm, nếu đơn giản hơn thì càng tốt. Cha ao ước nằm giữa con cái của cha. Mộ phần bằng đất đỏ của miền Thượng mến yêu này sẽ là phần mộ mà cha đã hằng mong ước từ bấy lâu, từ khi nhận lãnh chức vị Tông Đồ Truyền Giáo, từ ngày cha phải bỏ tất cả mọi người quyến thuộc và cả quê hương. Thánh Giá cắm nơi mộ phần của cha sẽ là một Thập Gía bằng gỗ thô sơ, như Thánh Gíá Chúa Giêsu đã phải vác lấy ngày xưa. Hãy dành mọi chi phí an táng cha để nuôi nấng các con cái của cha. Họ rất đáng thương, họ đang túng thiếu và cần sống. Về nghi thức Giáo Hội dành cho cha khi qua đời cha muốn thật đơn giản.

Vào tháng 3-1973, sau một cơn đau mê, ngài tỉnh và nói lời trối cuối cùng: "Chúng tôi rất nghèo và rất cần sự giúp đỡ của những người có trái tim. Cha hiện đau đớn tột cùng của thể xác. Nhưng cha vui mừng được đau đớn như vậy bởi vì Chúa muốn. Cha xin dâng tất cả sự đau đớn đó để Chúa ban cho con cái cha bớt đau đớn và sớm được phục hồi, để Chúa ban cho chúng mãi mãi được no ấm. Cha cám ơn tất cả những ân nhân của làng cùi, cám ơn hết lòng, lòng của một vị thừa sai."

Đức Cha qua đời ngày 31-10-1973. Thánh lễ an táng ngày 5-11-1973 do Đức TGM Nguyễn Văn Bình chủ lễ với sự hiện diện của Ông Phụ Tá đặc biệt đại diện Tổng Thống VNCH, Đức Khâm sứ Tòa Thánh, cha Bề Trên miền Hội Thừa Sai Paris, một số giám mục, đông linh mục và tu sỹ và khoảng 3.000 người. Linh cữu để trong nhà thờ 5 ngày cho mọi người kính viếng. Dân làng Kala già trẻ đều chít khăn tang trắng. Trong bài tiễn biệt thay cho bệnh nhân, có nói : Gần hai năm đau liệt giường, người kêu lên sự đau đớn thể xác, đau đớn tột cùng. Nhưng tiếng kêu đó lúc nào cũng được xướng lên trong ‘‘niềm vui đức tin’’ và hòa cùng hai câu ‘‘ngợi khen Chúa’’ (Magnificat) và ‘‘Xin vâng ý Chúa’’ (Fiat). Ngài không còn đứng lên được, để cùng con cái dâng thánh lễ thường nhựt, thánh lễ hiến dâng (offectoire) của người không chỉ diễn ra trong vài mươi phút mà đã thực sự kéo dài suốt gần nửa thế kỷ, trong cực hình thể xác mà, người đã diễm phúc dâng hòa cùng khổ hình Thập Giá của Chúa Giêsu xưa kia, trên đồi Golgotha vì phần rỗi thế gian. Những cực hình thể xác đó, bút phàm khó mô tả. Dầu vậy, Đức Cha Gioan luôn luôn vui và vững lòng chấp nhận.

Theo di chúc trên, Đức Cha Gioan Sanh ‘‘Mong được an nghỉ dưới tháp chuông người phung. Phần mộ ngài còn ở Di linh, dưới chân tháp làng cùi Kala. Trên mộ ghi : JEAN CASSAIGNE. 1895-1973. Caritas et Amor.

Những năm sau khi Ngài qua đời, trẻ em cắp sách đi hoc, hay bất cứ ai qua lại phần mộ Ngài, đều dừng chân đọc kinh nguyện cầu. Như tất cả các vị Thừa Sai, Ngài muốn gửi thân xác mình bên cạnh đoàn chiên yêu dấu của mình.

Ðức Cha Gioan Sanh xứng đáng với danh hiệu “Tông đồ người cùi”’ (Apôtre des Lépreux) như Linh Mục Damien de Veuster (Bỉ, 1840-1889), ở Molokai, được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong Chân Phước 1995. Ngày 12-01-1972, trên giường bệnh, Chính phủ VNCH đã tặng Ngài huy chương cao nhất là Đệ Tứ Bảo Quốc Huân Chương. Trong bản văn trao tặng huy chương có viết : Tông đồ bác ái. Đức Giám Mục Jean Cassaigne thuộc hàng Giáo Phẩm Công Giáo. Ngay từ khi đặt chân tới VN đã quan tâm phục vụ lớp người nghèo khó, giúp đỡ tinh thần và vật chất cho các sắc dân thiểu số... Sau 14 năm làm giám mục Sàigòn ... Ngài trở về băng bó vết thương tinh thần và vật chất cho những người con của Ngài ở làng Kala... Công nghiệp, gương sáng và chí lớn của Đức Giám Mục Jean Cassaigne xứng đáng được dân VN tri ơn và ghi nhớ mãi mãi. Hôm ấy Đức Cha vui vẻ, tỉnh táo đón nhận và nói : Tôi chỉ biết đáp ơn bằng lời cầu nguyện mà thôi.

Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình (1919-1995) đã nói về Ngài : Đức Cha Gioan Cassaigne hoàn toàn hy sinh đời mình vì Chúa và người anh em. Ngài là gương sáng phản chiếu trung thực cuộc đời Chúa Cứu Thế. Chớ gì mọi Kitô hữu nhìn vào gương sáng ấy để sống chứng nhân của Thầy Chí Thánh (9-6-1973). Đức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền khi thấy người Cùi Thượng vui tươi, đã xác nhận công trạng của người có công vun trồng : Họ đói thì Đức Cha Gioan cho ăn. Bi bệnh thì Đức Cha băng bó, cho thuốc và chăm sóc. Khi chết được về Trời. Còn gì họ sung sướng bằng.

Từ năm 1972, ở cuối nhà thờ Đức Mẹ Fatima Bình Triệu người ta thấy có bức tượng ‘‘Một giám mục tay trái cầm Thánh Giá, tay phải ôm ngang vai một người cùi, dưới chân trái có em bé khỏe mạnh, cả ba đều ngước mắt lên trời cao’’. Dưới bệ tượng có ghi : Đức Cha Gioan Cassaigne. Ngày nay, bức tượng không còn nữa. Nhưng trên bức tường ngoài hiên của nhà thờ, có gắn nhiều bảng ghi ‘‘Tạ ơn Đức Giám Mục Gioan Sanh’’. Như vậy, chứng tỏ Đức Cha Gioan Cassaigne Sanh còn sống mãi trong lòng từng người Việt Nam. 

Thi Chương
http://giaoxuvnparis.org/bai-viet/164-%C3%90uc-cha-cassaigne-sanh-giam-muc-nguoi-cui-viet-nam.html

Sunday, July 22, 2018

Sỉ nhục là giết tương lai người khác. Chuyển ganh tị thành bạn


Hồng Thủy - Vatican

Khi chúng ta mắng nhiếc người khác, có thể là khi đi xe vào giờ cao điểm, nhưng thường xuyên hơn  là vì ghen tị, chúng ta bắt đầu giết người khác, tước đi quyền được tôn trọng của họ, giết chết tương lai của họ. Sự hòa giải mà Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta thực hiện là sự hòa giải căn bản, ở tận gốc rễ; đó là tôn trọng phẩm giá của người khác và cũng của chính chúng ta. Trong Thánh lễ tại nhà nguyện thánh Marta sáng ngày 14/06, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh điều này khi giải thích đoạn Tin Mừng thánh Matthêu tường thuật lại giáo huấn của Chúa Giêsu về công lý, xúc phạm và hòa giải.

Hãy làm hòa với đối thủ của bạn để anh ta sẽ không giao nộp bạn cho quan tòa, rồi quan tòa giao bạn cho lính canh và bạn sẽ bị ném vào tù.” Lời khuyên của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ ở đây là “sự khôn ngoan của con người: luôn luôn, một thỏa thuận xấu vẫn tốt hơn là một phán xử tốt. Để giúp hiểu được giáo huấn của Ngài về mối quan hệ yêu thương, bác ái với các anh em của chúng ta, Chúa sử dụng một ví dụ của đời sống hàng ngày, để rồi sau đó Chúa đi xa hơn và giải thích về vấn đề lăng mạ sỉ nhục.

Những lời lăng mạ được Chúa Giêsu nhắc đến là những lời lăng mạ cũ rích. Chúng ta có một danh sách những lời lăng mạ hoa mỹ, phổ biến hơn, nhiều màu sắc hơn. Và thật là mạnh mẽ bởi vì bổ sung vào các điều răn không được giết người, Chúa còn thêm: bất cứ ai tức giận với anh em mình thì đáng bị đưa ra tòa; gọi anh em mình “đồ ngốc" hoặc “điên” thì bị lên án. Chúa nói: Sự sỉ nhục không kết thúc trong chính nó; đó là cánh cửa mở ra, bắt đầu một con đường sẽ kết thúc với việc giết chết. Bởi vì xúc phạm là bắt đầu giết chết, là loại trừ người khác, tước đi quyền được tôn trọng, gạt họ sang một bên, giết họ khỏi xã hội.

Chúng ta quen với bầu khí mắng nhiếc sỉ nhục. Chỉ cần lái xe trong giờ cao điểm, sẽ thấy đủ kiểu chửi rủa. Người ta sáng tác các lời chửi mắng. Những câu chửi mắng nhẹ nhẹ người ta thốt ra khi kẹt xe dần dần trở thành những câu mắng nhiếc nặng nề. Chửi mắng tước đi quyền của một người. Nó ném đá họ. Họ không có quyền nói, tiếng nói của họ bị át đi.

Chửi mắng, sỉ nhục là việc rất nguy hiểm, bởi vì nhiều lần nó phát sinh do sự ganh tị. Khi một người khuyết tật thể lý hay tâm trí, không làm hại đến chúng ta, chúng ta không muốn sỉ nhục họ. Nhưng khi một người làm điều gì đó mà chúng ta không thích, chúng ta mắng nhiếc họ và xem họ như người khuyết tật: khuyết tật tâm trí, khuyết tật xã hội, khuyết tật gia đình, không có khả năng hội nhập… Điều này là hành động giết chóc: giết tương lai của một người, giết cuộc đời của một người. Chính ganh tị đố kỵ mở cánh cửa, bởi vì khi một người có điều gì đó đe dọa đến tôi, ganh tị khiến tôi sỉ nhục họ. Hầu như luôn có sự ganh tị đố kỵ ở đó.

Sách Khôn ngoan nói với chúng ta rằng bởi sự ghen tị của ma quỷ mà sự chết đi vào thế gian. Đó là sự ghen tị đưa đến cái chết. Nếu chúng ta nói: tôi không ghen tị với bất kỳ ai, hãy nghĩ kỹ về điều đ!. Sự ghen tị đó bị ẩn đi và khi nó không bị che giấu, nó mạnh mẽ, nó có thể làm cho mặt bạn vàng đi, xanh đi, như dịch của mật khi bạn bị bệnh. Những người có linh hồn màu vàng, màu xanh vì ghen tị làm cho họ sỉ nhục người khác, khiến họ hủy hoại người khác. Nhưng Chúa Giêsu chặn lại cách hành xử này. Không, không được làm điều này. Nếu bạn đi cầu nguyện, đi tham dự Thánh Lễ và bạn nhận ra rằng một trong những anh em của bạn có điều gì đó chống lại bạn, hãy đi hòa giải với họ.

Chúa Giêsu yêu cầu giải quyết tận gốc rễ. Hòa giải không phải là một thái độ có cách hành xử tốt. Nó là một thái độ căn bản, một thái độ cố gắng tôn trọng người khác và cũng là phẩm giá của chính mình. Từ sự sỉ nhục đi đến hòa giải, từ sỉ nhục biến thành tình bạn. Đây là con đường mà Chúa Giêsu dạy chúng ta hôm nay.

https://www.vaticannews.va/vi/pope-francis/mass-casa-santa-marta/2018-06/si-nhuc-la-giet-tuong-lai-nguoi-khac.html

Sunday, July 8, 2018

2 Corinthians 12:9 “My grace is sufficient for you, for my power is made perfect in weakness.”

“My grace is sufficient for you, for power is made perfect in weakness.” (2 Corinthians 12:9, NABRE)

“My grace is enough for you: for power is at full stretch in weakness.”  (2 Corinthians 12:9, NJB)

“My grace is sufficient for you, for my power is made perfect in weakness.”  (2 Corinthians 12:9, RSV-CE)

“My grace is sufficient for thee: for power is made perfect in infirmity.”  (2 Corinthians 12:9, Douay-Rheims)

“Sufficit tibi gratia mea: nam virtus in infirmitate perficitur.”  (2 Corinthians 12:9, Vulgate)

“Ơn phúc Ta đủ cho ngươi rồi, vì quyền phép Ta phải hoàn tất trong sự yếu đuối!”  (II Cô-rinh 5,36, Lm. Trần Đức Huân)

“Ơn Ta là đủ cho ngươi. Vì chưng quyền năng trong yếu đuối mới viên thành!” (2 Corinthô 12,9, Lm. Nguyễn Thế Thuấn)

“Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” (2 Cô-rin-tô 12,9, PD/CGKPV)

Wednesday, June 27, 2018

Matthew 7:15 “Beware of false prophets, who come to you in sheep’s clothing, but underneath are ravenous wolves.”

"Beware of false prophets, who come to you in sheep's clothing, but underneath are ravenous wolves." (Matthew 7:15, NABRE)

"Beware of false prophets who come to you disguised as sheep but underneath are ravenous wolves." (Matthew 7:15, NJB)

"Beware of false prophets, who come to you in sheep's clothing but inwardly are ravenous wolves." (Matthew 7:15, RSV-CE)

"Beware of false prophets, who come to you in the clothing of sheep, but inwardly they are ravening wolves." (Matthew 7:15, Douay-Rheims)

"Hãy coi chừng các tiên tri giả, họ đội lốt chiên mà đến với các ngươi; tựu trung là sói rừng hay cắn xé." (Mát-thêu 7,15, bản dịch của Lm Trần Đức Huân)

"Hãy coi chừng những tiên tri giả, chúng mang lốt chiên mà đến với các ngươi; nhưng bên trong, chúng là mãnh sói tham mồi. " (Matthêô 7
​,​
15, bản dịch của Lm Nguyễn Thế Thuấn)

"Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi." (Mátthêu 7
​,​
15, bản dịch của NPD/CGKPV)

Sunday, May 27, 2018

Lẽ Sống - Sức Mạnh Lời Chúa

(Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu Radio Veritas Asia)

26 Tháng Năm 

Tokichi Ishi-I, một tên giết người không gớm tay, đã đạt được kỷ lục hạ sát nhiều nạn nhân nhất bằng những phương thế dã man không thể tưởng tượng nổi.

Hắn ta tàn nhẫn hạ sát đàn ông, phụ nữ, kể cả trẻ em. Với bàn tay khát máu, hắn đã thủ tiêu bất cứ người nào tình cờ hắn gặp và muốn giết. Nhưng cuối cùng hắn cũng bị bắt và bị kết án tử hình.

Lúc ở nhà tù chờ ngày hành quyết, hai phụ nữ công tác tông đồ thử khuyên nhủ hắn, nhưng tất cả những câu hỏi han, trò chuyện của họ cũng không làm cho hắn mảy may động tâm, trái lại hắn nhìn thẳng vào họ với một cặp mắt dữ tợn như một hung thú.

Cuối cùng, mất hết kiên nhẫn, hai phụ nữ ra về. Họ chỉ để lại cho hắn quyển Tân Ước, với một hy vọng mỏng manh là hắn ta sẽ đọc và Lời Chúa sẽ hoạt động nơi tiếng nói con người trở nên hoàn toàn bất lực. Niềm hy vọng của họ đã trở thành sự thật. Ishi-I đã đọc và những câu chuyện trong Tân Ước hình như có một sự thu hút mãnh liệt khiến hắn cứ tiếp tục đọc, đọc mãi và cuối cùng hắn đọc đến câu chuyện diễn tả cuộc tử nạn của Chúa Giêsu. Câu Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha trên thập giá: "Lạy Cha, xin Cha tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm", đã thắng sự chống trả cuối cùng trong tâm hồn của hắn. Sau đó anh thuật lại: "Ðọc đến câu này tôi mới dừng lại. Con tim tôi hình như bị đánh động, bị đâm thâu bằng một con dao dài. Tôi có thể gọi đó là tình yêu của ông Giêsu hay tôi phải gọi đó là lòng thương xót của Ngài? Tôi không biết, nhưng điều duy nhất tôi biết là sự hung dữ, tàn bạo nơi tôi đã tan biến và tôi đã tin".

Ông Chrgwin, tác giả đã viết câu chuyện trên trong quyển sách mang tựa đề "Thánh Kinh trong thế giới truyền giáo" đã kết thúc câu chuyện bằng sự ngạc nhiên tột độ của những nhân viên nhà giam có phận sự đến dẫn độ Ishi-I đi hành quyết. Họ đã không gặp được tên sát nhân hung bạo như họ chờ đợi, nhưng là một con người hòa nhã, lễ độ. Ishi-I, tên sát nhân đã được Lời Chúa tái sinh.

Lời Chúa có sức mạnh vạn năng. Lời Chúa có thể biến đổi tâm hồn một tên sát nhân giết người không gớm tay như anh Tokichi Ishi-I và bao tâm hồn sa ngã khác. Lời Chúa có thể là động lực cho bao công tác bác ái của các tu sĩ nam nữ, đang dấn thân phục vụ những trẻ con bị bỏ rơi, những người già nua hấp hối không ai chăm sóc, những kẻ phải sống bên lề xã hội.

Sunday, May 20, 2018

Phân biệt Ngôn Sứ giả với Ngôn Sứ thật!

6/26/2012
Thứ Tư sau Chúa Nhật Tuần XII Thường Niên
2 V 22, 8-13 ; 23, 1-3
Tv 118 

Mt 7, 15-20
 

15 Một hôm, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : "Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi.16 Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ?17 Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu.18 Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt.19 Cây nào không sinh quả tốt, thì bị chặt đi và quăng vào lửa. 20 Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai.

Suy niệm

Giáo lý Công Giáo dạy rằng : có hai giống người trên mặt đất :

- Hoặc là dòng giống sinh ra bởi Adam từ đất mà ra.

- Hoặc là dòng giống được tái sinh bởi Chúa Giêsu (Adam cuối cùng), là Thiên Chúa từ trời mà đến.

Ai được tái sinh bởi Chúa Giêsu, thì đều được tham dự vào sứ mệnh ngôn sứ của Ngài.

Nhưng ta phải phân biệt hai loại ngôn sứ: ngôn sứ giả và ngôn sứ thật.

I. NGÔN SỨ GIẢ.

Có ba loại :

* Sinh ra bởi Adam, bởi Eva. 

* Sinh lại bởi Chúa Giêsu, bởi Lời Chúa do Hội Thánh rao giảng, nhưng không thuộc về Hội Thánh Công Giáo.
* Những người mang danh là Công Giáo, nhưng không sống Đức Ái.

1/ Sinh ra bởi Adam, bởi Eva.

Những ai sinh ra bởi Adam, Eva là sinh ra bởi "cây độc" (Mt 7,18). Vì "bởi Adam sự tội đã đột nhập vào thế gian sinh ra sự chết cho cả dòng giống họ" (Rm 5,12t). Đúng như Đức Giêsu đã nói : "Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ? Nên hễ cây tốt lành thì sinh quả tốt lành, cây độc thì sinh quả độc.Cây tốt lành không thể sinh quả độc, cũng như cây độc không thể sinh quả tốt lành. Cây nào không sinh quả tốt, thì bị chặt đi và quăng vào lửa.Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai" (Mt 7,16-19 : Tin Mừng).

2/ Sinh lại bởi Chúa Giêsu (Cv 2,38), bởi Lời Chúa do Hội Thánh rao giảng (Gc 1,18), nhưng không thuộc về Hội Thánh Công Giáo.

Loại người này khác nào như Ismael, con của ông Abraham và nữ tỳ Agar. Dòng giống này Chúa nói cho ông Abraham biết : Nó không được quyền thừa kế, quyền ấy thuộc về Isaac là con chính thức của ông Abraham và bà Sara (x St 15,3-6 : Bài đọc năm lẻ). Vì "Giao Ước đã lập ra muôn đời Chúa nhớ mãi" (Tv 105/104,8a : ĐC năm lẻ).

3/ Những người mang danh là Công Giáo, nhưng không sống Đức Ái.

Loại người này xác nó thuộc về Hội Thánh, hồn ngoài Hội Thánh, vì nó không kiên trì sống Đức Ái, nên không được Chúa cứu độ mà còn bị phạt nghiêm khắc (x HCHT số 14).

Cả ba loại người trên đều bị Chúa Giêsu liệt vào hàng ngôn sứ giả, "nó đã đội lốt chiên mà đến, chúng là sói tham mồi" (Mt 7,15 : Tin Mừng). Tệ nhất là loại ngôn sứ giả thứ ba, vì nó là loại cây độc gấp bảy lần so với hai loại trên (x Mt 12, 43-45).

Thánh Phêrô lưu ý các tín hữu : "Trong dân cũng đã từng xuất hiện những ngôn sứ giả; giữa anh em cũng vậy, sẽ có những thầy dạy giả hiệu, đó là những kẻ sẽ lén lút đưa vào những tà thuyết dẫn tới diệt vong. Vì chối bỏ vị Chúa Tể đã chuộc họ về, họ sẽ mau chóng chuốc lấy hoạ diệt vong. Nhiều người sẽ học đòi các trò dâm đãng của họ, và vì họ, con đường sự thật sẽ bị phỉ báng. Vì tham lam, họ dùng lời lẽ gạt gẫm anh em để trục lợi. Án phạt họ đã sẵn sàng từ lâu, và hoạ diệt vong đã gần kề" (2 Pr 2,1-3). Bởi vì Chúa đã dùng ông Môsê mà lên án những ngôn sứ giả : "Ngôn sứ nào cả gan nhân danh Ta mà nói lời Ta đã không truyền cho nói, hoặc nhân danh những thần khác mà nói, thì ngôn sứ đó phải chết." (Dnl 18,20). Dựa vào lời ấy, ngôn sứ Ezekiel cảnh cáo : "Các thủ lãnh trong xứ này tựa bầy sói xé mồi; chúng gây ra đổ máu, giết người để trục lợi. Các ngôn sứ trong xứ này tô vôi trát phấn lên chúng, cho thấy những thị kiến hão huyền và nói các lời sấm dối trá. Chúng dám nói: "Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này", nhưng thực ra Đức Chúa đã không phán"(Ed 22, 27-28).

Vậy ai tách rời khỏi Chúa Giêsu và Hội Thánh là Thân Thể Mầu Nhiệm của Ngài, thì họ đều là cây độc, là ngôn sứ giả !

II. NGÔN SỨ THẬT.

Những ai sinh lại bởi Chúa Giêsu (x Cv 2,38), và bởi Lời Chúa do Hội Thánh rao giảng (x Gc 1,18), và kiên trì sống Đức Ái (x HCHT số 14), thì họ luôn sám hối tội mình, trông cậy vào lòng thương xót của Chúa Giêsu và sự bầu cử của Hội Thánh, nhất là của Đức Maria, để được thêm nghị lực thực hành Lời Chúa dạy, dù có lúc họ sống bội ước, đáng phải phanh thây như những con vật bị xẻ đôi khi Thiên Chúa lập Giao Ước với tổ phụ Abraham (x St 15,7-12.17-18 : Bài đọc năm lẻ). Nhưng vào thời Tân Ước, kẻ bội ước không bị phanh thây, mà chính Con Một Thiên Chúa lại bị phanh thây thế mạng cho những kẻ bội ước. Thánh Phaolô trước khi được Chúa Giêsu kêu gọi, ông hết lòng trung thành với Luật Môsê. Thế mà ông lại trở thành ngôn sứ giả, độc ác hơn trái cấm bà Eva ăn, vì ông đã xông về thành Đama để triệt hạ các Kitô hữu (x Cv 9). Nhưng khi ông được Chúa Giêsu thương xót kêu gọi, ông đến học giáo lý nơi môn đệ Ngài và được tái sinh làm con Chúa, gia nhập Hội Thánh, ông được tách khỏi cây độc và tháp vào cây nho tốt lành là Chúa Giêsu, từ đó ông trở thành ngôn sứ tuyệt vời không thua các Tông Đồ thượng đẳng (x 2Cr 11,5). Chúa đã sai ông đi làm ngôn sứ cho muôn dân (x Gl 2,7).

Như thế, nhờ tái sinh bởi Chúa Giêsu (x Cv 2,38), và bởi Lời Chúa do Hội Thánh công bố (x Gc 1,18), và kiên trì sống Đức Ái trong Hội Thánh, mới thực là người Công Giáo chân chính, trở nên ngôn sứ thật của Chúa Giêsu. Vì Chúa chỉ giao sứ mệnh ngôn sứ cho Hội Thánh Ngài lập mà thôi (x Mt 11, 25-26 ; 16, 17 ; Lc 10,16 ; 22, 31-32 ; Ga 18, 19-21 ; Gl 1,8).

Chân lý này đã được tiên báo qua vị thượng tế Khin-ki-gia-hu tìm được Sách Luật trong Nhà Chúa, rồi ông nói với ký lục Sa-phan đệ trình đức vua, vua nghe những lời ghi chép trong Sách Luật, ông xé áo mình ra, tỏ dấu sám hối, vì tiền nhân đã không tuân giữ Luật Chúa, làm Chúa bừng bừng nổi cơn thịnh nộ chống lại dân. Thế nên vua tập họp toàn dân cùng với các kỳ mục Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đến. Vua lên Nhà Chúa đọc cho dân nghe tất cảnhững Lời trong Sách Giao Ước đã tìm thấy trong Nhà Chúa. Hôm đó dân cam kết bước theo Chúa hết lòng hết dạ và tuân giữ các lệnh truyền của Ngài (x 2V 22, 8-13 ; 23,1-3 : Bài đọc năm chẵn).

Như thế,dân tộc Do Thái chỉ tìm thấy Lời trong Nhà Chúa, và đã trở thành mối hiệp thông giữa các thành phần trong dân, để cùng với đức vua tôn vinh Thiên Chúa.Đó là lý do mà hôm nay chúng ta chỉ đón nhận được Lời Chúa chính xác qua Phụng Vụ của Hội Thánh (x Hiến Chế Phụng Vụ số 7, số 24 và số 52), thì còn hơn vị tư tế Khin-ki-gia-hu tìm thấy Sách Luật trong Nhà Đức Chúa.

Vậy ngôn sứ thật của Chúa phải luôn cầu nguyện : "Lạy Chúa, xin dạy con đường lối thánh chỉ" (Tv 119/118,33a : ĐC năm chẵn), để được Chúa ở cùng, vì Chúa Giêsu kêu gọi : "Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em. Ai ở lại trong Thầy thì sinh nhiều hoa trái" (Ga 15,4a.5b : Tung Hô Tin Mừng).

THUỘC LÒNG

Ai liên kết với Adam là cây độc, trở thành kẻ trộm cướp ; ta liên kết với Chúa Giêsu là Adam cuối cùng, là cây nho thật, sinh hoa trái sự sống Phục Sinh (theo Mt 7,17).

Linh mục GIUSE ĐINH QUANG THỊNH
http://conggiao.info/phan-biet-ngon-su-gia-voi-ngon-su-that-d-8712

Saturday, May 19, 2018

Ngôn sứ thật – ngôn sứ giả

Posted date: Tháng Hai 23, 2013

Từ xa xưa trong đời sống Do thái giáo đã xuất hiện việc phân định thiêng liêng hay biện phân thần khí. Điều này được hiểu như là hành vi mở lòng ra với Thiên Chúa, lắng nghe Ngài, hầu có thể nhận biết và thực thi ý Ngài. Việc làm này càng trở nên cấp thiết vào thời các ngôn sứ khi có nhiều người nhân danh Đức Chúa và nói Lời của Ngài, khiến cho Dân hoang mang vì khó nhận biết đâu là ngôn sứ thật và đâu là ngôn sứ giả.Trong khuôn khổ bài viết này, như một gợi ý cho việc nhận định thiêng liêng trong đời sống đức tin, người viết xin mạn phép trình bày hiện tượng ngôn sứ thật và ngôn sứ giả trong các sách ngôn sứ Isaia, Giêrêmia và Êdêkien.

Do thái giáo chịu ảnh hưởng sâu xa bởi tôn giáo vùng Cận Đông. Từ rất lâu người ta đã tìm thấy nét tương đồng giữa những nền tôn giáo này, mà cụ thể nhất là đặc tính ngôn sứ. Ngay từ thế kỷ thứ VIII (trước Công nguyên), người ta đã tìm thấy nơi thành phố A-mốt, thuộc xứ Ma-ri, những bia đá ghi lại các sinh hoạt ngôn sứ. Khắp vùng Cận Đông hồi ấy, người ta cũng nghe đến các danh xưng như: thầy thị kiến, người thuộc linh… …Chúng được dùng để chỉ những nhân vật mà dân tin là biết và chuyển giao sứ điệp các thần minh. Ngay trong Kinh thánh Do thái giáo cũng thấp thoáng hình bóng của họ (1V 18,19-40 ; 1Sm 10,5 ; Ed 21,26 ; Is 1,10 … …)

Tính cách phổ biến ấy không những giúp giải thích nguồn gốc truyền thống ngôn sứ Israelmà còn làm nổi bật sự khác biệt giữa những ngôn sứ ở trong và các ngôn sứ ngoài truyền thống này.

Hiện tượng nói thay các thần minh trong văn hóa và tôn giáo xứ Canaan đã dẫn đến tình trạng nhiều người trong Israel tự xưng mình là ngôn sứ. Ngôn sứ nào cũng cho mình là thật. Có những ngôn sứ giả biết mình là giả, lại có những ngôn sứ giả nhưng không biết mình là giả. Để hiểu rõ một ngôn sứ là giả hay thật, ta cần trở về với Cựu Ước, đặc biệt là các sách ngôn sứ nêu trên.

Trước hết, các ngôn sứ giả là những người có lối sống lầm lạc. Họ lừa dối kẻ khác bằng những mánh khóe và phán đoán sai lầm:

"Cả bọn này nữa cũng chếnh choáng vì rượu, lảo đảo vì men: tư tế và ngôn sứ đều choáng vì men …, chếnh choáng trong thị kiến, loạng quạng khi xét xử." (Is 28,7)

Nơi họ còn biểu hiện sự lẫn lộn giữa những hứng khởi, ham muốn riêng tư và ý muốn chân thật của Thiên Chúa:

"Chúng kể cho nhau nghe những giấc chiêm bao có ý làm cho dân Ta quên bẵng danh Ta, giống như cha ông chúng đã quên danh ta mà nhớ Ba-al." (Gr 23,27)

"Chúng kể lại những giấc chiêm bao và làm cho dân Ta lầm lạc… … Chính Ta, Ta đã không phái chúng đi, cũng chẳng truyền lệnh cho chúng."  (Gr 23,32)

Ngược lại, những ngôn sứ thật có đời sống ngay thẳng, một lòng phụng sự Thiên Chúa qua sứ mạng được trao phó (Is 61,1; Xp 2,3). Họ là những ngôn sứ thuộc truyền thống mà tiêu biểu là Mô-sê (Đnl 18,9-21).

Tuy nhiên, với quan điểm Cựu Ước hoạt động ngôn sứ giả cách nào đó lại là phương thế Gia-vê thử luyện dân Ngài (Gr 4,10 ; 1V 22,19-23)

Ngôn sứ giả luôn loan báo theo ý riêng, chứ không theo ý muốn Thiên Chúa. Chốn cung đình, họ tìm nói những điều hợp ý vua quan, không can đảm công bố điều Thiên Chúa truyền dạy. Điều này được miêu tả rõ nét trong cuộc tranh luận giữa Khanania và ngôn sứ Giêrêmia (Gr 28). Đứng trước nguy cơ Israel bị Babylon thôn tính, Khanania, mệnh danh là ngôn sứ, xem ra bình thản và có những lời vuốt ve tình cảm yêu nước. Trong khi đó, Giêrêmia lại khuyên nhà vua thần phục Babylon(Gr 27,8). Thực ra, quan điểm trái nghịch của ông không nhằm khẳng định rằng ngôn sứ loan báo bình an thì không đáng tin, và ngôn sứ tuyên sấm tai họa thì khả tín. Nhưng điều làm nên ý nghĩa ở đây là lời sấm của Giêrêmia được đặt trong truyền thống ngôn sứ Israel, nơi đó ý muốn Thiên Chúa được thể hiện:

"Nhưng xin ông lưu ý những điều tôi sắp nói đây: Các ngôn sứ có trước tôi và ông từ ngàn xưa đã tuyên sấm về nhiều xứ sở, vương quốc hùng mạnh, là sẽ có chiến tranh tai ương và ôn dịch. Còn ngôn sứ nào tuyên sấm có bình an, thì chỉ khi nào lời ngôn sứ ấy ứng nghiệm, ông mới được nhìn nhận là ngôn sứ Đức Chúa sai đến thật" (Gr 28,7-9)

Hơn nữa, trong viễn tượng đức tin, Giêrêmia còn cho biết Babylon sẽ nên "roi vọt" Thiên Chúa dùng để sửa phạt dân vì họ phản bội Ngài và phá vỡ Giao ước (Gr 44,3). Và sự thật đã xảy ra như vậy.

Điều tương tự cũng diễn ra khi Êdêkiel phi bác nhũng lời sấm của những ngôn sứ giả về sự bình an giả tạo (Ed 13,10). Đó chỉ là lời hứa hão huyền nhằm ru ngủ dân. Bình an đích thực không đơn giản hệ tại ở những an toàn bên ngoài, nhưng còn là sự trao hiến hạnh phúc cho đồng loại nhờ mối tương quan tốt đẹp với Thiên Chúa và tha nhân:

"Chúng bô bô bình an vô sự, để xoa dịu những thương tích của dân ta, trong khi chẳng có bình an chi cả. Việc chúng làm thật kinh tởm biết bao, lẽ ra chúng phải xấu hổ, nhưng chúng nào có xấu hổ gì đâu……" (Gr 6,14.15)

Sở dĩ các ngôn sứ loan báo cách lầm lạc như vậy cốt để tìm tư lợi:

"Các ngươi xúc phạm đến Ta nơi dân Ta chỉ vì những nắm lúa mạch, những mẫu bánh …" (Ed 13,19)

Ngoài ra, còn có một đặc tính quan trọng góp phần làm nên phong cách cao đẹp của vị ngôn sứ thật: kinh nghiệm thâm sâu về Lời Thiên Chúa. Chính Lời chạm đến nơi sâu thẳm tâm hồn các ngài, tạo nên rung động và hòa nhịp. Từ đó các ngài đáp trả cách mạnh mẽ, can đảm chịu mọi thử thách và dám sống chết cho Lời:

"Nhưng Lời ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt. Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được." (Gr 20,9)

Trước những đau khổ, các ngài vẫn cậy trông vào Chúa:

"Nhưng Đức Chúa hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng." (Gr 20,11)

Nói tóm lại, từ việc phân tích trên, chúng ta có thể rút ra nguyên tắc nhận biết ngôn sứ giả hay thật. Ngôn sứ thật là người mà trọn đời sống và lời loan báo của họ giúp dân yêu mến Thiên Chúa và thực thi lề luật của Ngài. Trái lại, ngôn sứ giả là kẻ, qua cách sống và sấm ngôn lầm lạc, chỉ dẫn dân rời xa Thiên Chúa:

"Nếu ở giữa anh em xuất hiện một ngôn sứ… …, và nó bảo chúng ta hãy theo và phụng thờ các thần khác, những thần mà anh em không biết, thì anh em đừng nghe những lời của ngôn sứ hay những kẻ chuyên nghề chiêm bao ấy, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, thử thách anh em cho biết anh em có yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ không. Chính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, là Đấng anh em phải theo; chính Người là Đấng anh em phải kính sợ; anh em phải giữ các mệnh lệnh của Người, phải nghe tiếng Người; chính Người là Đấng anh em phải phụng thờ; anh em phải gắn bó với người" (Đnl 13, 2-5)

Từ việc tìm hiểu hiện tượng ngôn sứ thật, ngôn sứ giả trên đây, chúng ta có thể rút ra nguyên tắc nhận định thiêng liêng cho đời sống đức tin hôm nay: Điều nào giúp tôi kết hợp với Chúa thì khởi đi từ Ngài; điều nào khiến tôi xa Ngài thì xuất phát từ quyền lực tăm tối, thế gian. Ước mong việc tìm hiểu này góp phần giúp ích cho người tín hữu lắng nghe, nhận biết, yêu mến và thực thi ý Chúa như giá trị duy nhất và chân thật đem lại sự sống cho chính mình, giữa biết bao những giá trị khác vốn đã và đang được cổ súy mạnh mẽ bởi những trào lưu sống khác nhau./.

Lm. Anrê Phạm Hòa Lạc

http://daichungvienvinhthanh.com/ngon-su-that-ngon-su-gia/

Sunday, May 13, 2018

“Thưa cha, con không đi nhà thờ nữa!”

"Một thanh niên trẻ đến gặp một linh mục và nói:
– Thưa cha, con không đi nhà thờ nữa!
Linh mục hỏi:
– Vậy à, con có thể cho cha biết lý do không?
Người thanh niên trả lời:
– Lạy Chúa tôi, ở đây con thấy cô này nói xấu cô kia; anh đọc Sách Thánh đọc dở; ca đoàn vừa chia rẽ vừa hát sai; người đi xem lễ chỉ chăm chăm nhìn điện thoại, đó là không nói đến ngoài nhà thờ họ là những người ích kỷ, cao ngạo…
Linh mục nói với anh:
– Con có lý. Nhưng trước khi dứt khoát rời nhà thờ, con có thể làm cho cha việc này: con rót một ly nước đầy, rồi đi quanh nhà thờ ba vòng mà không làm đổ một giọt. Sau đó, con có thể bỏ nhà thờ.
Người thanh niên tự nhủ: quá dễ!
Và anh đi ba vòng như cha xứ dặn. Đi xong, anh về nói với cha:
– Rồi, con đi xong rồi.
Linh mục hỏi:
– Khi con đi, con có thấy cô này nói xấu cô kia không?
Người thanh niên trả lời:
– Thưa cha không.
–  Con có thấy người này người kia thờ ơ với nhau không?
Người thanh niên:
– Thưa cha không.
– Con có thấy người này người kia chúi mũi vào điện thoại không?
Người thanh niên:
– Không, con không thấy.
– Con có biết vì sao không con không thấy không: vì con tập trung để ly nước không bị đổ. Con biết… cuộc đời cũng vậy. Khi tâm hồn chúng ta tập trung vào Chúa Kitô, thì chúng ta không có thì giờ để nhìn các sai lầm của người khác. Ai ra khỏi nhà thờ vì các kitô hữu đạo đức giả thì chắc chắn họ cũng không vào nhà thờ vì Chúa Giêsu".

(Nguồn: FB)

Sunday, May 6, 2018

Lẽ Sống - Khác Biệt Giữa Ngày Và Ðêm

(Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu Radio Veritas Asia)

6 Tháng Năm

Một vị đạo sĩ Ấn Giáo nọ hỏi các đệ tử của ông như sau: "Làm thế nào để biết được đêm đã tàn và ngày bắt đầu?"

Một người đệ tử trả lời như sau: "Khi ta trông thấy một con thú từ đằng xa và ta có thể nói: đó là con bò hay con ngựa".

Câu trả lời trên đây đã không làm cho nhà đạo sĩ ưng ý chút nào...

Người đệ tử thứ hai mới lên tiếng nói: "Khi ta thấy một cây lớn từ đằng xa và ta có thể nói nó là cây xoài hay cây mít".

Vị đạo sĩ cũng lắc đầu không đồng ý. Khi các đệ tử nhao nhao muốn biết câu giải đáp, ông mới ôn tồn nói như sau: "Khi ta nhìn vào gương mặt của bất cứ người nào và nhận ra người anh em của ta trong người đó thì đó là lúc đêm tàn và ngày mới bắt đầu. Nếu ta không phân biệt được như thế, thì cho dù đêm có tàn, ngày có bắt đầu, tất cả mọi sự không có gì thay đổi".

Ngày 25 tháng 12, lễ Thần Mặt Trời của dân ngoại đã được Giáo Hội chọn làm ngày sinh của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu quả thực là Mặt Trời Công Chính. Ngài xuất hiện để báo hiệu Ðêm đã tàn và Ngày Mới bắt đầu.

Nhân loại đã chìm ngập trong đêm tối của tội lỗi, đêm tối của trốn chạy khỏi Thiên Chúa và chối bỏ lẫn nhau giữa người với người. Chúa Giêsu đã đến để xóa tan đêm tối ấy và khai mở ngày mới trong đó người nhận ra người, người trở về với Thiên Chúa.

Quả thực, chỉ trong Ðức Giêsu Kitô, mầu nhiệm con người mới được sáng tỏ. Trong đêm tối âm u của khước từ Thiên Chúa và chóii bỏ lẫn nhau, con người đã không biết mình là ai, mình sẽ đi về đâu. Trong ánh sáng của Chúa Giêsu Kitô, con người nhận dạng được chính mình cũng như nhìn thấy người anh em của mình.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó chính là nhìn thấy hình ảnh của Thiên Chúa nơi mọi người cũng như phẩm giá vô cùng cao quý của người đó.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó là nhìn thấy niềm vui, nỗi khổ, sự bất hạnh và ngay cả lỗi lầm của người đso như của chính mình.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó chính là sẵn sàng tha thứ cho người đó ngay cả khi người đó xúc phạm đến ta và không muốn nhìn mặt ta.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó cũng có nghĩa là không thất vọng về khả năng hướng thiện của người đó.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó cũng có nghĩa là muốn nói với người đó rằng, cách này hay cách khác, ta cần người đó để được sống xứng với ơn gọi làm người hơn.

(Nguồn: http://vntaiwan.catholic.org.tw/lesong/06lesong5.htm)

Sunday, April 29, 2018

Chúa Nhật - Chủ Nhật...

15/07/2016 

Có nhiều bạn hỏi tôi rằng, tại sao những người đạo Thiên Chúa (Công giáo) cứ cố tình kêu nhang nhảng cái chữ "Chúa Nhật" mà không phải gọi chữ "Chủ Nhật" như người ta thường gọi, có phải họ cố tình truyền đạo hay tôn vinh Đạo của họ lên trước mặt mọi người chăng?!

Xin cắt nghĩa thế này, dù bạn gọi Chúa Nhật hay Chủ Nhật cũng là ngày của Chúa chúng tôi. Vì nguồn gốc của tên gọi Chúa Nhật (Chủ Nhật) trong tiếng Việt xuất phát từ đạo Công Giáo. Tên gọi gốc là "Chúa Nhật", Nhật có nghĩa là ngày, Chúa Nhật có nghĩa là "ngày của Chúa". Chữ Chúa và Chủ đều bắt nguồn từ chữ zhǔ (主) trong tiếng Hán, vì lúc Thiên Chúa Giáo truyền vào Trung Hoa, người Tàu dịch là Thiên Chủ, sau đời Mãn Thanh mới đổi thành Thiên Chúa cho trang trọng. Chúa và Chủ đều giống nhau. Nên có thể gọi là Chúa Nhật hoặc Chủ Nhật đều như nhau. Người theo đạo Công giáo buộc phải đi lễ nhà thờ, giữ tâm tịnh và kiêng việc xác thịt vào ngày này.

Trước năm 1975, hầu hết trong văn bản hành chánh, văn chương sách vở, âm nhạc, truyền thông... đều kêu là ngày "Chúa Nhật" chớ không ai kêu Chủ Nhật cả. Sau năm 1975, chính quyền Đảng Cộng Sản không muốn cho dân chúng kêu bất cứ tên gọi nào có "mùi" Tôn Giáo nên kêu từ "Chủ Nhật" nghe cho nó nhẹ, riết rồi quen miệng hơn mấy chục năm nay.

Ví dụ, từ trong Âm Nhạc, nó chẳng phải Thánh Ca ca ngợi Chúa -tôn giáo gì cả, nhưng người ta vẫn quen gọi Chúa Nhựt.

"Hôm chia tay chiều Chúa Nhật, anh bảo rằng tuần sau anh đến, hái một nụ hoa xinh xin màu tim tím anh cài lên mái tóc thề..." (Hoa Mười Giờ - Đài Phương Trang.)

"Hôm nay ngày Chúa Nhật vườn tao ngộ em đến thăm anh, đường Quan Trung nắng đổ xa xôi mà em đâu có ngại khi tình yêu ngun ngút cao lên rồi..." (Vườn Tao Ngộ- Khánh Băng)

"Chiều Chúa Nhựt lối năm giờ, cô Lý giấu chồng để dành tiền được hai trăm đồng bạc, cô đi qua Mỹ Tho vay thêm một trăm đồng bạc nữa để hùn hạp làm tiệm lúa cho Kỳ Tâm làm Tổng Lý..." (Tiểu thuyết Tỉnh Mộng - Hồ Biểu Chánh).

Ngày xưa, không ai kêu Chủ Nhật, cho nên đừng nghĩ những người đạo Thiên Chúa truyền đạo mà kêu tên Chúa, mà phải biết ngày "Chúa Nhật" nguồn gốc nó từ đâu.

(Petrus Trần)
http://daminhvn.net/phung-vu/chua-nhat---chu-nhat-12267.html

Friday, April 20, 2018

Thánh Phêrô là anh hay em của thánh Anrê

Tạp bút của Lm. Piô Ngô Phúc Hậu

Một ma-sơ thất tuần chống gậy lọc cọc đến gặp cha xứ. Lưng còng như lưng tôm, nhưng cặp mắt vẫn còn hấp háy chứng tỏ đang có chuyện cay cú.

- Ông cố ơi, Thánh Phêrô là anh hay em của Thánh Anrê?

- Ủa, tại sao bà ngoại hỏi kỳ vậy?

- Từ xưa tới nay, ai cũng biểu Thánh Phêrô là anh. Thế mà bỗng dưng trong sách Tân ước mới in, ông Thánh Phêrô lại tuột xuống làm em. Bộ từ trước tới nay, thì giáo hội mình hiểu sai hả?

- Bà ngoại lớn tuổi rồi, mà vẫn còn tỉnh trí quá ta?

- Con già rồi, nhưng chưa lẫn đâu. Ăn hiếp con là không được ạ.

- Nếu từ trước tới nay, tôi có ăn hiếp bà ngoại, thì bà ngoại tha cho tôi. Còn từ giờ phút này, tôi xin trao đổi nghiêm túc với bà ngoại. Được chưa?

- Ông cố lúc nào cũng khôn như… quỷ vậy.

- Từ trước tới giờ, tôi vẫn coi Thánh Phêrô là anh của Thánh Anrê. Còn từ nay trở đi, miệng tôi cứ đọc rằng “Thánh Phêrô là em của Thánh Anrê”. Nhưng lòng trí của tôi thì Thánh Phêrô vẫn là anh. Đành phải vậy thôi. Còn tại sao lại thế, thì đây là lý luận của tôi. Tôi không phải là chuyên viên Thánh Kinh nhưng cứ thử chơi hèo một cái xem sao.

1. Người chủ trương Thánh Phêrô là em thì lý luận như sau. Theo truyền thống Thánh Kinh, thì người em luôn luôn xuất sắc hơn và được Chúa trao trách nhiệm quan trọng hơn.

* Abel là em, nên vượt trội Cain về đạo đức.

* Esau là anh, thì phải thua em là Giacóp. Giacóp thừa kế sự nghiệp của cha và trở nên tổ phụ thứ hai của Dân Do Thái.

* Ruben là con cả của tổ phụ Giacóp, nhưng quyền trưởng nam lại lọt vào tay Giuđa, người em thứ tư.

* Giuse là con thứ mười một của tổ phụ Giacóp, nhưng lại được trở thành vị cứu tinh của dòng tộc và được các anh quỳ lạy như tế sao.
* Cô Lêa là chị của cô Raken. Cả hai đều là vợ của tổ phụ Giacóp. Nhưng cô em Raken qua mặt chị cả về nhan sắc lẫn chỗ đứng trong gia đình.

* Aaron là anh, Môsê là em. Nhưng ông anh chỉ là bóng mờ bên cạnh ông em rực sáng.

* Giuđa là nhân vật nổi cộm của gia đình Macabê. Nhưng xét về vai vế, thì ông chỉ là cậu em không đáng quan tâm.

* Trong gia đình của ông Ixai, thì Đavít chỉ là thằng cu tí, thế nhưng lại được Samuen xức dầu và sau này trở nên tổ phụ của Đấng Cứu Thế.

Từ đó mà suy ra, thì phải kết luận rằng Phêrô là em. Đó là truyền thống của Thánh Kinh.

2. Tôi không phải là chuyên viên Thánh Kinh, nhưng lại cứ chủ trương rằng Thánh Phêrô phải là anh, còn Thánh Anrê phải là em. Đây là lý luận của tôi.

* Nói rằng theo truyền thống Thánh Kinh, thì Chúa chỉ chọn người em để trao sứ mạng lớn, thì chưa có sức thuyết phục. Bằng chứng là trong gia đình của ông Noe, thì ông em là Cam lại quá tệ so với ông anh là Xem. Cái gọi là truyền thống Thánh Kinh ấy, chỉ là chuyện thông thường của đời người.

* Trường đời minh chứng rằng người em vẫn xuất sắc hơn anh chị. Lý do vì em ra đời sau. Ra đời sau thì được hưởng hai cái lợi: Cái lợi thứ nhất là được học hỏi với anh chị; cái lợi thứ hai là lúc ấy cha mẹ có kinh nghiệm hơn, từng trải hơn.

* Ông Nguyễn Huệ là em, nhưng vượt trội muôn phần hơn hai ông anh là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ. Nguyễn Huệ chết thì nhà Tây Sơn sụp đổ, vô phương cứu chữa.

* Nhận xét các em thiếu nhi trong họ đạo, thì tôi cũng thấy rằng: anh chị thì hiền; cậu em và cô em lại khôn lanh.

* Đức Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình có một cô em làm dì phước, tên là dì Sinh. Ngài nói đùa trước mặt nhiều người rằng: “Tên tôi là Bình, có nghĩa là bình an. Tên nó là Sinh, có nghĩa là sinh sự”. Ta có thể giải thích ý câu nói đó như sau: “Tôi hiền, vì tôi là anh. Nó lanh, vì nó là em”. Có lẽ đúng thế thật.

* Quả thật, Anrê lanh hơn Phêrô. Chính Anrê theo Chúa trước, rồi đi kiếm anh, đem đến giới thiệu với Chúa.

Tạp bút của Lm. Piô Ngô Phúc Hậu

(Theo Báo Công giáo và Dân tộc, website: cgvdt.vn, http://www.cgvdt.vn/ngo-phuc-hau/nhu-trai-mam/thanh-phero-la-anh-hay-em-cua-thanh-anre_a1323)


Saturday, April 7, 2018

CHÚT TÂM TÌNH

+ GB. Bùi Tuần

Hồi tâm lần này, tôi cũng xin chia sẻ trước mọi người thân yêu đôi chút tâm tình thân mật của tôi.

1. Mỗi năm, gần đến 30 tháng 4, tôi thường hồi tâm. Hồi tâm này có đặc điểm riêng. Bởi vì 30 tháng 4 năm 1975 là ngày lịch sử Đất Nước sang trang. Cũng chính ngày đó, tôi được thụ phong Giám mục, nhận trọng trách làm giám mục phó giáo phận Long Xuyên.

2. Năm nay, tôi cũng hồi tâm. Cái chết đột ngột của Đức Cố TGM Phaolô Bùi Văn Đọc khiến tôi nghĩ biết đâu hồi tâm của tôi lần này sẽ là lần cuối.

Dù sao, hồi tâm lần này, tôi cũng xin chia sẻ trước mọi người thân yêu đôi chút tâm tình thân mật của tôi.

3. Tâm tình thứ nhất là tôi coi trách vụ đứng đầu giáo phận là một chén đắng làm tôi rất sợ.

Hồi đó, tôi biết Đức Cha Micae sẽ trao hết cho tôi. Thế mà tôi thì quá yếu về mọi phương diện. Tôi sợ lắm.

4. Ở chức vụ đó, tôi phải hiệp thông mật thiết với Chúa Giêsu, nhất là trong cuộc thương khó của Người và trong giới luật yêu thương, mà Người đã trối lại. Trọng trách thì quá lớn, còn tôi thì quá yếu đuối hèn mọn, tội lỗi. Tôi quá sợ.

5. Ở chức vụ đó, tôi phải hiệp nhất trọn vẹn với Đức Giáo Hoàng. Đức Giáo Hoàng muốn tôi làm gì, trong một giai đoạn Đất Nước tôi rất cần hòa giải một cách khôn ngoan? Trọng trách thì quá lớn, còn tôi thì quá nhỏ bé, xa xôi, vụng về. Tôi rất sợ.

6.  Ở chức vụ đó, tôi phải sống liên đới chân thành với Quê Hương, với đồng bào. Tôi sẽ làm gì, khi thấy nhiều đồng bào rơi vào sợ hãi, thất vọng, đau khổ. Tôi sẽ làm gì, khi thấy Đất Nước gặp bao khó khăn trên đường dựng Nước và giữ Nước.

7. Tôi bùi ngùi thao thức. Thao thức nhiều càng thêm lo sợ. Lo sợ làm tôi coi chức vụ được trao là chén đắng.

Xưa Chúa Giêsu đã có lần nói với Đức Chúa Cha: “Nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén đắng này. Nhưng đừng theo ý con, xin chỉ theo ý Cha mà thôi” (Mt 26, 39).

Tôi cũng đã nhiều lần nói với Chúa như vậy.

8. Từ khi được về hưu, tôi được nhẹ vơi nhiều gánh nặng. Nhưng trách nhiệm yêu thương, trách nhiệm làm chứng cho Chúa vẫn còn đó, đôi khi còn nặng hơn trước. Tuy nặng, mà ngọt ngào, và cũng không khỏi sợ: Tôi có làm đủ, làm đúng không? Càng sợ, tôi càng kêu cầu Chúa.

9. Tâm tình thứ hai là tôi đã được đỡ nâng rất nhiều, nên được sức mạnh để sống ơn gọi.

Chúa nhân từ đã đỡ nâng tôi bằng nhiều cách. Lúc thì Chúa trực tiếp an ủi tôi trong tâm hồn. Lúc thì Chúa gián tiếp an ủi tôi qua những con người có tấm lòng, có trái tim. Đặc biệt Chúa đỡ nâng tôi qua cộng đoàn giáo phận.

Tôi coi mỗi người nâng đỡ tôi như một lá thư Chúa gửi cho tôi. Trong từng lá thư đó, tôi đọc được tình thương, sự bao dung, sự tha thứ, sự bén nhạy, sự tế nhị, sự khiêm nhường.

10. Cách riêng, tôi được đỡ nâng nơi Đức Mẹ Maria. Mẹ đỡ nâng tôi bằng cách dẫn tôi đến với Chúa Giêsu đang gần gũi những người khổ đau, tội lỗi, yếu đuối, hèn mọn. Gặp Chúa Giêsu nơi họ, tôi được Mẹ mở lòng tôi ra, để tôi thấy “Chính lúc cho đi là khi được nhận lãnh”.

11. Được đỡ nâng, đó là bài học dạy tôi hãy nâng đỡ những người khác. Có lửa yêu thương thực sự trong lòng, thì dù chỉ với một lời nói đơn sơ, một việc làm nhỏ, cũng có sức gửi đến người đau khổ một đỡ nâng cần thiết có sức cứu họ.

12. Ở đây, tôi xin gửi lời cảm ơn nồng nhiệt tới mọi người đã đỡ nâng tôi hoặc cách này hoặc cách khác. Họ thuộc mọi tầng lớp, trong Hội Thánh và ngoài Hội Thánh. Họ ở gần và họ ở xa. Xin cảm tạ Chúa đã gửi đến tôi những người tốt đó.

13. Tâm tình thứ ba là cậy tin ở lòng thương xót Chúa.

Suốt 43 năm qua, đối với tôi, chức giám mục luôn là một tiếng Chúa gọi “Hãy cậy tin vào tình yêu thương xót Chúa”

Gánh nặng của tôi là chức vụ. Gánh nặng của tôi là sự yếu đuối của chính tôi. Tôi thường sợ hãi. Sợ hãi là điểm yếu của tôi mà quỉ Satan thường tấn công dữ dội.

Chúa thương giúp tôi đối phó, bằng cách luôn kéo tôi gắn bó chặt chẽ với tình yêu thương xót Chúa. Tôi cậy tin ở lòng thương xót Chúa một cách tuyệt đối, một cách đơn sơ, một cách bền bỉ, một cách thường xuyên, từng giờ, từng phút, tầng giây. Thành ra chính sự sợ hãi của tôi lại là cơ hội tốt, để tôi ký thác mình cho Chúa. Đúng như lời Thánh Phaolô nói: “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12, 12). Tôi được tha thứ, được sửa lại và được ơn trở về với Chúa. Tôi cảm nhận thấm thía Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế rất nhân lành.

14. Hằng ngày, tôi tạ ơn Chúa một cách đặc biệt vì ơn được tin cậy ở tình yêu thương xót Chúa.

15. Đối với tôi, bất cứ ai tin vào tình yêu thương xót Chúa đều được Chúa nhận là đã bắt đầu thuộc về Chúa. Vì thế, giờ đây tôi rất vui, vì nhận thấy tại Việt Nam hôm nay, ngay tại địa phương này, số người tin vào tình yêu thương xót Chúa là rất đông.

Với những tâm tình trên đây, chúng ta hãy khiêm nhường tạ ơn Chúa và để mình chìm sâu vào tình yêu thương xót Chúa. Trong tình yêu thương xót Chúa, chúng ta sẽ đi về tương lai. Cho dù tương lai sẽ có những chén đắng mới, nhưng có Chúa, chúng ta vẫn có quyền lạc quan.

Long Xuyên, ngày 05.4.2018
+ Gm. Gioan Baotixita Bùi Tuần
(http://gplongxuyen.org/NewsDetail.aspx?ID=20180405092741) 

Saturday, March 31, 2018

Kiêng thịt và ăn chay

Cái Rắn, ngày 28-3-1997

 Mình vừa vứt bỏ cây tăm, thì có người hỏi từ phía sau lưng

 - Đã tới 12 giờ chưa, ông cố ?

 - Chi vậy ?

 - Để con đánh kẻng cho người ta ăn cơm trưa.

 - Tại sao vậy ?

 - Hôm nay là ngày ăn chay, phải đánh chuông mới được ăn cơm.

 - Luật nào vậy ?

 - Biết đâu à !

 Sau nghi thức suy tôn Thánh Giá, mình mở cuộc điều tra về tục lệ ăn chay ở đây. Các ông già, bà già đua nhau khoe trí nhớ của mình.

 - Sáng : nhịn ; 12 giờ : nghe chuông nhật một thì ăn cơm. Trưa ăn no. Tối ăn đói.

 - Ăn một miếng thịt heo bằng lóng tay cái, thì mắc tội trọng. Được ăn loài có máu lạnh như ếch, lươn, kỳ đà, cá, tôm.

 - Các loại chim thì được ăn cò, quắm, thằng bè.

 - Được ăn vịt lộn, vì vịt lộn được kể là trứng. Khi con vịt con chui ra khỏi vỏ trứng mới kể là con vịt và cấm không được ăn...

 Để khen thưởng trí nhớ sắc sảo của bà con, mình tặng họ một câu chuyện, câu chuyện của đời mình.

--------------------------------------------------------------------------------

 Năm 1945 mình đi tu làm chú tiểu tại nhà xứ Vĩnh Lộc, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây. Thứ Tư lễ Tro năm 1946, mình thấy các thầy kẻ giảng tập trung về nhà xứ rất đông : thầy Nhã, thầy Tài, thầy Viêm... Nhà xứ vui như lễ hội. Cha già cố phấn khởi như chưa từng thấy.

 - Các cậu xuống ao kéo lưới bắt cá mè làm gỏi đãi các thầy một bữa...

 - Vâng ạ. Xin cha già cho phép chúng con đi lấy quần đùi đã ạ.

 - Cho chúng mày làm ông Adong, không cần che chúm gì hết... Bằng quả ớt chứ gì.

 Chúng mình nhảy tùm xuống ao, gạt bèo, giăng lưới, đập nước. Vọc nước, quậy bùn là thú vui của tụi mình. Một thú vui được chấp thuận, được khích lệ : Sướng ơi là sướng !

 Bữa cơm chay hôm ấy trở thành bữa cơm thịnh soạn nhất trong năm. Cha già cố và các thầy ăn uống phủ phê. Còn tụi mình thì không thích ăn và cũng không được phép ăn. Trẻ con không ăn gỏi cá bao giờ. Đùa giỡn thì sướng hơn.

 Kể xong câu chuyện. Không thấy ai thắc mắc gì. Ai nấy đều cười vui vẻ. Ai cũng biết rằng luật chỉ cấm ăn thịt, chứ không cấm ăn cá. Không ai phát giác ra rằng ăn gỏi cá, một món ăn thịnh soạn nhất như thế là vi phạm tinh thần luật một cách trầm trọng, là nhân danh luật để vi phạm luật. Mình lấy sách lễ Rôma đọc lại lời nguyện nhập lễ, để thấy mục đích của việc ăn chay, kiêng thịt.

 “Lạy Chúa, ngày hôm nay, tất cả chúng con ăn chay, hãm mình, để bước vào mùa tập luyện chiến đấu thiêng liêng. Xin giúp chúng con hằng biết sống khắc khổ, để ngày thêm vững mạnh mà chiến thắng ác thần”.

 Mình đọc thêm lời Tiền tụng Mùa Chay III.

 “Cha muốn chúng con dùng việc hãm mình để cảm tạ Cha. Nhờ đó, chúng con là những người tội lỗi, giảm bớt được tính kiêu căng và khi giúp nuôi dưỡng những người thiếu thốn, chúng con biết noi theo lòng nhân hậu của Cha”.

 Như vậy rõ ràng mục tiêu của việc ăn chay kiêng thịt chỉ là: rèn luyện ý chí, nhờ việc khắc khổ trong vấn đề ăn uống và tiêu xài, để đương đầu và thắng các chước cám dỗ, đồng thời có thêm tiền bạc giúp đỡ người nghèo.

 Như vậy rõ ràng là cha già cố của mình đã đánh mất toàn bộ tinh thần ăn chay kiêng thịt bằng bữa gỏi cá năm ấy. Nhưng nói cho cùng thì cha già cố của mình cũng vô tội. Vậy ai là người có lỗi trong vụ vi phạm luật pháp này ? Phải quy trách nhiệm cho ông làm luật. Cái lối trình bày hình thức luật mà quên tinh thần luật ấy, mình đã hấp thụ ngay trong lớp thần học. Chính thầy mình đã dạy rằng : ăn vịt lộn ngày kiêng thịt là không vi phạm luật, vì vịt lộn khi còn ở trong trứng, thì chỉ là trứng, chứ không phải là vịt. Khi trình bày cái vỏ luật, thầy mình đã quên không tham chiếu tinh thần luật, nên đã lạc xa mục tiêu của luật.

 Nghĩ lại chuyện xưa, mình mắc cở quá chừng. Từ nay mình sẽ nói với anh chị em dự tòng, tân tòng và cả đạo dòng một cách giản dị rằng :

 “Ngày kiêng thịt, thì ăn khem khổ. Ngày ăn chay, thì ăn ít thôi. Thắng cái thèm và cái đói để thắng cái yếu đuối. Trong những ngày ấy, chỉ nên ăn rau mà thôi. Ăn khem khổ như thế sẽ dành ra được chút tiền để san sẻ cho người nghèo”.

 Tuyệt nhiên mình không nhắc gì đến chuyện ăn vịt lộn không phải là ăn thịt vịt; ăn lươn um, ếch chiên bơ. . . không lỗi luật kiêng thịt. Mình trả lại tất cả những thứ đó cho thầy. Những thứ đó không thể là hành trang của người truyền giáo. Rườm rà đến chịu không nổi ! Kềnh càng đến đi không được ! Phức tạp đến lầm đường lạc lối !

 --------------------------------------------------------------------------------

 Cái Rắn, ngày 20-2-1999

 Hôm nay khách Sàigòn đổ xuống Cái Rắn như đi trẩy hội. Hai vỏ lãi lớn nuốt tối đa mà chỉ được sáu mươi khách. Còn hai chục khách nữa đứng xớ rớ… chờ ba vỏ lãi nhỏ. Sân nhà thờ đầy người. Bệnh nhân chờ bác sĩ và nha sĩ. Trẻ em chờ hội chợ và quà bánh. Kẻ qua người lại tấp nập. Bác sĩ Nghĩa nghiêm trang và thủng thỉnh như ông thiên triều đi… Cha Lộc có cặp mắt hấp háy, hấp háy như muốn đùa với cả thế gian. Thầy Nhiên có cặp môi mấp máy, mấp máy như đang bứt rứt trước một ẩn số khó giải trình... Khách nào cũng đói mèm vì hôm qua là ngày chay và đêm qua là đêm ngủ không tròn giấc.

 Bữa cơm trưa chỉ thịnh soạn ở mức dưới trung bình, nhưng lại được khách chiếu cố tận tình. Đói bụng thì cơm nguội trở thành yến xào. Vừa ăn vừa tưởng nhớ ngày chay vừa qua mà xót xa trong lòng.

 - Hôm qua ăn chay, đói run cả chân tay.

 - Đúng là có ma quỷ cám dỗ thật. Bữa chay tối nào đồ ăn cũng chẳng ra gì, mà miệng thì ăn gì cũng thấy ngon, cứ muốn ăn mãi cho đến mất chay thì thôi.

 - Hồi tôi học ở chủng viện Sàigòn, bữa chay tối thường chỉ có rau muống luộc chấm nước mắm giằm hột vịt. Bình thường thì ăn hai đĩa, bữa chay tối chỉ ăn một đĩa. Nhưng ma quỷ cám dỗ nên làm bộ rưới nước mắm thật nhiều, để phải lấy thêm cơm cho bớt mặn. Rồi làm bộ bới cơm hơi lố, để rưới thêm nước mắm cho vừa miệng... Cuối cùng thì một đĩa thành một đĩa phết chín mươi chín. Vừa đủ để lương tâm không bị cắn rứt ? Đúng là trò hề.

 -------------------------------------------------------------------------------

 Cà Mau, ngày...

 Hôm nay Đức cha xuống cấm phòng với hạt Minh Hải. Mình tâm sự với ngài.

 - Thưa Đức cha, con thấy cái luật kiêng thịt lỉnh kỉnh và khôi hài quá à ! Ăn một miếng thịt heo thì có tội nặng, còn ăn một lẫu lươn thì không có tội ! Tại sao lại cho ăn thịt loài có máu lạnh ?

 - Luật này rất phù hợp đối với tây phương. Ở bên đó mà không có thịt, thì bữa cơm trở nên khắc khổ liền.

 - Thưa Đức cha, ở bên Tây, người công giáo còn kiêng thịt không ?

 - Chung chung thì họ lơ là. Nhưng có nhiều nơi Nhà Nước vẫn cấm bán thịt vào các ngày thứ Sáu. Không phải vì họ giữ luật đạo, mà vì đó là quyền lợi của nghiệp đoàn bán cá.

 - Con đề nghị điều chỉnh lại luật kiêng thịt và ăn chay để đạt được mục tiêu Giáo hội đề ra cho mùa chay.

Linh mục Piô Ngô Phúc Hậu, Nhật Ký Truyền Giáo

Sunday, March 18, 2018

Lẽ Sống - Ðất Thánh

(Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu Radio Veritas Asia)
18 Tháng Ba
Ðất Thánh

Một giáo xứ miền quê nọ đã được thành lập từ lâu, nhưng chưa có được một ngôi nhà thờ xây cất hẳn hoi. Giáo dân lại nằm rải rác trong hai ngôi làng sát cạnh nhau. Khát vọng duy nhất của giáo dân là được có nơi thờ phượng đàng hoàng... Với sự hăng say bộc phát của những người nông dân, mọi người đã quảng đại đáp lại lời kêu gọi của các chức sắc trong giáo xứ: kẻ góp tiền, người cho vật dụng... Thế nhưng vấn đề cơ bản vẫn là: đâu là địa điểm xứng hợp nhất để xây cất nhà thờ. Người trong làng này thì muốn ngôi nhà thờ tọa lạc trong làng của mình. Người bên làng kia thì lại muốn ngôi nhà thờ được xây cất gần bên chỗ mình ở. Thế là hai bên cứ tranh luận, không bên nào muốn nhường bên nào. Tiền đã có sẵn, vật dụng cũng đã đầy đủ, nhưng không biết phải đặt viên đá đầu tiên bên làng nào.

Giữa lúc vấn đề địa điểm chưa ngã ngũ, thì một vấn đề lớn lại xảy ra: một nạn hạn hán trầm trọng đe dọa dân chúng trong cả hai làng. Thế là người ta chỉ còn nghĩ đến việc chống hạn hán hơn là xây cất nhà thờ. Nhưng sức người có hạn, việc dẫn thủy nhập điền không đạt được chỉ tiêu. Năm đó, toàn dân trong hai làng đều phải chịu cảnh đói khát.

Sống bên cạnh nhau, cho nên mặc dù ngăn cách về hành chính, dân hai làng vẫn coi nhau như bà con ruột thịt... Có hai gia đình nông dân nọ rất mực thương nhau và tương trợ nhau. Một người bên làng này luôn nghĩ đến cảnh đói khổ mà người bạn bên làng kia đang phải chịu. Thế là một đêm nọ, anh đã phân chia phần lúa thóc thu hoạch được trong vụ mùa vừa qua và lặng lẽ vác lên vai để mang qua cứu trợ người bạn của làng bên cạnh... Trong khi đó thì người bạn bên làng bên cạnh cũng có một ý nghĩ tương tự. Anh cũng hành động y như người bạn của mình. Cũng chính đêm hôm đó, anh đã sớt bớt phần lúa của mình để mang qua biếu người bạn ở làng kế bên... Giữa đêm tối, không hẹn hò, hai người bạn đã gặp nhau trong cùng một ý nghĩ và hành động. Không cần một lời giải thích, không cần một lời chào hỏi, hai người đã hiểu nhau: Họ bỏ bao lúa xuống đất và ôm trầm lấy nhau... Ðiểm gặp gỡ của tình bạn, của tình tương thân tương ái, của tình liên đới, của chia sẻ ấy đã được giáo dân của hai ngôi làng gọi là đất Thánh và không cần phải mất nhiều thủ tục để giải quyết, họ đã đồng thanh chọn địa điểm ấy làm nơi xây cất nhà thờ.

Nhà thờ là nơi hẹn hò: hẹn hò với Thiên Chúa, hẹn hò với con người. Không ai đến nhà thờ mà không tìm gặp được sức mạnh từ chính Chúa, sự an ủi đỡ nâng từ những người anh em của mình... Do đó, nhà thờ phải là điểm đến của mọi nẻo đường, nhà thờ phải là nơi hội tụ của mọi xây dựng, nhà thờ phải là giải đáp của mọi tranh luận... Người ta không thể xây dựng những ngôi nhà thờ nguy nga tráng lệ mà lại làm ngơ trước những người đang dẫy chết bên cạnh. Người ta không thể nhắm mắt đi đến nhà thờ trong khi bên lề đường có bao nhiêu kẻ lê lết trong đói khổ... Phải chăng, nhà thờ chỉ có thể xây dựng ngay chính trên đất Thánh của chia sẻ, của san sớt, của tình liên đới mà thôi? Phải chăng, việc đi đến nhà thờ cũng chỉ có ý nghĩa khi nó là điểm đến, là biểu trưng của chính những viên gạch bác ái mà người ta không ngừng xây dựng trong cuộc sống hằng ngày?

(Nguồn: http://vntaiwan.catholic.org.tw/lesong/18lesong3.htm)

Sunday, March 11, 2018

Cái Chết Của Ðức Cố Tổng Giám Mục Phaolô Là Một Bức Tâm Thư Chúa Gửi Cho Tôi

Tác giả: Gm. JB. Bùi Tuần

1. Đức TGM Phaolô Bùi Văn Đọc đã qua đời tại Rôma. Tôi rất ngỡ ngàng. Chỉ biết cầu nguyện cho ngài.

Khi cầu nguyện cho Đức Tổng, tôi xót xa nghẹn ngào. Tôi nhớ lại những tâm sự giữa hai chúng tôi, ngay trước khi ngài đi Rôma.

2. Giờ đây, ngài vẫn tâm sự với tôi. Ngài khuyên tôi hãy coi cái chết của ngài như một bức tâm thư Chúa gửi cho Hội Thánh Việt Nam nói chung, và cho tôi nói riêng.

Ý chung của bức tâm thư đó là: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện”.

3. Đức cố TGM Phaolô khẩn khoản nhắc cho tôi nhớ lại Lời Chúa Giêsu đã báo trước: “Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người” (Lc 21, 36).

4. Có nghĩa là những điều sắp xảy đến sẽ tang tóc. Để thoát khỏi, tôi cần cầu nguyện nhiều, và cần lắng nghe ý Chúa, để mà biết chọn lựa những gì nên làm, những gì nên thôi làm.

5. Và có nghĩa là Chúa Giêsu Kitô sẽ bất ngờ đến. Ngài sẽ hỏi tôi có luôn tìm gặp Ngài là Đấng cứu độ không, có luôn coi Ngài là nền tảng cho cộng đoàn đức tin của tôi không (x.1Cr 3, 11).

6. Và có nghĩa là: Chúa Giêsu Kitô sẽ bất ngờ đến. Ngài sẽ hỏi tôi có thực sự đang thuộc về Chúa không (x Gl 2, 20).

7. Và có nghĩa là: Chúa Giêsu Kitô sẽ bất ngờ đến. Ngài sẽ hỏi tôi có thực sự “Hiến dâng mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Chúa không? (Rm 12, 1).

8. Mấy ngày trước khi Đức Tổng đi Rôma, tôi gọi điện thăm ngài. Tôi nói với ngài một lời thân mật: “Đức Tổng Bùi nên nhớ mình đứng đầu Giáo Tỉnh. Vì thế nên đi thăm anh em, trong đó có tôi là kẻ già yếu sắp chết rồi”. Ngài trả lời: “Chưa chết đâu, chúng ta còn gặp nhau”. Ai ngờ bây giờ tôi còn sống, mà chính ngài đã chết. Tuy sao, chúng tôi vẫn còn gặp nhau một cách thiêng liêng.

9. Bằng cách thiêng liêng, mà rất thân tình, Đức Cố TGM Phaolô mới nhắn nhủ tôi là: Tình hình đang chuyển biến mau lẹ, như cái chết mau lẹ của ngài. Hãy tỉnh thức và cầu nguyện thực nhiều, kẻo sẽ quá muộn.

Tôi hiểu phần nào điều ngài nhắn nhủ. Tôi băn khoan và cầu nguyện thêm, thì tôi được hiểu thêm nhờ đoạn thơ sau đây của Thánh Phaolô gởi cho tín hữu Êphêsô:

10. “Bẩm sinh chúng ta là những kẻ đáng chịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, như những người khác. Nhưng Thiên Chúa giầu lòng thương xót và rất mực yêu thương chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô. Chính do ẩn sủng mà anh em được cứu độ” (Ep 2, 4-5).

Kẻo sẽ quá muộn, tôi lập tức tin vào Chúa Giêsu Kitô. Nhờ ân sủng của Ngài, tôi yêu thương mọi người khác, như Chúa đã thương tôi. (x. Gioan 13, 34).

Từ đó, Đức cố TGM Phaolô nhắn nhủ tôi là. Dù tình hình sẽ chuyển biến xấu đi và mau lẹ, trở thành nguy hiểm, thì tinh thần tỉnh thức và cầu nguyện luôn phải vững vàng bám chặt vào Chúa Giêsu Kitô, vâng lời Ngài, mà sống yêu thương như Ngài đã yêu thương.

11. Đức Cố TGM Phaolô đã sống và đã chết trong ân sủng và lòng thương xót Chúa. Ngài không tự hào vì những gì khác.

Đó chính là chứng nhân của tỉnh thức và cầu nguyện.

12. Tôi có cảm tưởng là sẽ có một lúc, tình hình trở nên tang tóc, đến nỗi tôi cũng sẽ thốt lên như Chúa Giêsu xưa: “Cha ơi, sao Cha nỡ bỏ rơi con” (Mc 15, 34). Nhưng chính lúc đó, tôi rất cần có một đức tin khiêm nhường phó thác, để nói như Chúa Giêsu: “Cha ơi, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23, 46).

Nghĩa là tôi chỉ trông cậy vào ân sủng và lòng thương xót Chúa mà thôi.

13. Tâm thư mà Chúa gửi cho tôi qua cái chết của Đức Cố TGM Phaolô Bùi Văn Đọc là như thế. Ít là lúc này, tôi đọc qua, thì thấy vậy. Có thể khi đọc kỹ, sẽ thấy thêm.

14. Những năm tháng gần đây, tôi hay gọi điện thoại cho Đức Cố TGM. Khi trả lời, bao giờ Đức Cố TGM cũng bắt đầu bằng câu: “Thưa Đức cha, con đây”. Giờ đây, tôi cũng đang gọi ngài. Ngài cũng đang trả lời, nhưng bằng cách khác. Rồi đây tôi còn sẽ gọi ngài. Mong ngài cũng sẽ trả lời, bằng cách nào mà Chúa cho phép.

Tôi coi tất cả đều là do ân sủng và lòng thương xót Chúa.

15. Đức Cố TGM Phaolô Bùi Văn Đọc đã chết như một người yếu đuối, tại nhà thờ Thánh Phaolô. Tự nhiên, tôi nhớ lại lời Thánh Phaolô xưa: “Tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi. Vì vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối…Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh" (2Cr 12, 9- 10).

Long Xuyên, ngày 7.3.2018

+ Gm. Gioan Baotixita BÙI TUẦN