Sunday, May 27, 2018

Lẽ Sống - Sức Mạnh Lời Chúa

(Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu Radio Veritas Asia)

26 Tháng Năm 

Tokichi Ishi-I, một tên giết người không gớm tay, đã đạt được kỷ lục hạ sát nhiều nạn nhân nhất bằng những phương thế dã man không thể tưởng tượng nổi.

Hắn ta tàn nhẫn hạ sát đàn ông, phụ nữ, kể cả trẻ em. Với bàn tay khát máu, hắn đã thủ tiêu bất cứ người nào tình cờ hắn gặp và muốn giết. Nhưng cuối cùng hắn cũng bị bắt và bị kết án tử hình.

Lúc ở nhà tù chờ ngày hành quyết, hai phụ nữ công tác tông đồ thử khuyên nhủ hắn, nhưng tất cả những câu hỏi han, trò chuyện của họ cũng không làm cho hắn mảy may động tâm, trái lại hắn nhìn thẳng vào họ với một cặp mắt dữ tợn như một hung thú.

Cuối cùng, mất hết kiên nhẫn, hai phụ nữ ra về. Họ chỉ để lại cho hắn quyển Tân Ước, với một hy vọng mỏng manh là hắn ta sẽ đọc và Lời Chúa sẽ hoạt động nơi tiếng nói con người trở nên hoàn toàn bất lực. Niềm hy vọng của họ đã trở thành sự thật. Ishi-I đã đọc và những câu chuyện trong Tân Ước hình như có một sự thu hút mãnh liệt khiến hắn cứ tiếp tục đọc, đọc mãi và cuối cùng hắn đọc đến câu chuyện diễn tả cuộc tử nạn của Chúa Giêsu. Câu Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha trên thập giá: "Lạy Cha, xin Cha tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm", đã thắng sự chống trả cuối cùng trong tâm hồn của hắn. Sau đó anh thuật lại: "Ðọc đến câu này tôi mới dừng lại. Con tim tôi hình như bị đánh động, bị đâm thâu bằng một con dao dài. Tôi có thể gọi đó là tình yêu của ông Giêsu hay tôi phải gọi đó là lòng thương xót của Ngài? Tôi không biết, nhưng điều duy nhất tôi biết là sự hung dữ, tàn bạo nơi tôi đã tan biến và tôi đã tin".

Ông Chrgwin, tác giả đã viết câu chuyện trên trong quyển sách mang tựa đề "Thánh Kinh trong thế giới truyền giáo" đã kết thúc câu chuyện bằng sự ngạc nhiên tột độ của những nhân viên nhà giam có phận sự đến dẫn độ Ishi-I đi hành quyết. Họ đã không gặp được tên sát nhân hung bạo như họ chờ đợi, nhưng là một con người hòa nhã, lễ độ. Ishi-I, tên sát nhân đã được Lời Chúa tái sinh.

Lời Chúa có sức mạnh vạn năng. Lời Chúa có thể biến đổi tâm hồn một tên sát nhân giết người không gớm tay như anh Tokichi Ishi-I và bao tâm hồn sa ngã khác. Lời Chúa có thể là động lực cho bao công tác bác ái của các tu sĩ nam nữ, đang dấn thân phục vụ những trẻ con bị bỏ rơi, những người già nua hấp hối không ai chăm sóc, những kẻ phải sống bên lề xã hội.

Sunday, May 20, 2018

Phân biệt Ngôn Sứ giả với Ngôn Sứ thật!

6/26/2012
Thứ Tư sau Chúa Nhật Tuần XII Thường Niên
2 V 22, 8-13 ; 23, 1-3
Tv 118 

Mt 7, 15-20
 

15 Một hôm, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : "Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi.16 Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ?17 Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu.18 Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt.19 Cây nào không sinh quả tốt, thì bị chặt đi và quăng vào lửa. 20 Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai.

Suy niệm

Giáo lý Công Giáo dạy rằng : có hai giống người trên mặt đất :

- Hoặc là dòng giống sinh ra bởi Adam từ đất mà ra.

- Hoặc là dòng giống được tái sinh bởi Chúa Giêsu (Adam cuối cùng), là Thiên Chúa từ trời mà đến.

Ai được tái sinh bởi Chúa Giêsu, thì đều được tham dự vào sứ mệnh ngôn sứ của Ngài.

Nhưng ta phải phân biệt hai loại ngôn sứ: ngôn sứ giả và ngôn sứ thật.

I. NGÔN SỨ GIẢ.

Có ba loại :

* Sinh ra bởi Adam, bởi Eva. 

* Sinh lại bởi Chúa Giêsu, bởi Lời Chúa do Hội Thánh rao giảng, nhưng không thuộc về Hội Thánh Công Giáo.
* Những người mang danh là Công Giáo, nhưng không sống Đức Ái.

1/ Sinh ra bởi Adam, bởi Eva.

Những ai sinh ra bởi Adam, Eva là sinh ra bởi "cây độc" (Mt 7,18). Vì "bởi Adam sự tội đã đột nhập vào thế gian sinh ra sự chết cho cả dòng giống họ" (Rm 5,12t). Đúng như Đức Giêsu đã nói : "Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ? Nên hễ cây tốt lành thì sinh quả tốt lành, cây độc thì sinh quả độc.Cây tốt lành không thể sinh quả độc, cũng như cây độc không thể sinh quả tốt lành. Cây nào không sinh quả tốt, thì bị chặt đi và quăng vào lửa.Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai" (Mt 7,16-19 : Tin Mừng).

2/ Sinh lại bởi Chúa Giêsu (Cv 2,38), bởi Lời Chúa do Hội Thánh rao giảng (Gc 1,18), nhưng không thuộc về Hội Thánh Công Giáo.

Loại người này khác nào như Ismael, con của ông Abraham và nữ tỳ Agar. Dòng giống này Chúa nói cho ông Abraham biết : Nó không được quyền thừa kế, quyền ấy thuộc về Isaac là con chính thức của ông Abraham và bà Sara (x St 15,3-6 : Bài đọc năm lẻ). Vì "Giao Ước đã lập ra muôn đời Chúa nhớ mãi" (Tv 105/104,8a : ĐC năm lẻ).

3/ Những người mang danh là Công Giáo, nhưng không sống Đức Ái.

Loại người này xác nó thuộc về Hội Thánh, hồn ngoài Hội Thánh, vì nó không kiên trì sống Đức Ái, nên không được Chúa cứu độ mà còn bị phạt nghiêm khắc (x HCHT số 14).

Cả ba loại người trên đều bị Chúa Giêsu liệt vào hàng ngôn sứ giả, "nó đã đội lốt chiên mà đến, chúng là sói tham mồi" (Mt 7,15 : Tin Mừng). Tệ nhất là loại ngôn sứ giả thứ ba, vì nó là loại cây độc gấp bảy lần so với hai loại trên (x Mt 12, 43-45).

Thánh Phêrô lưu ý các tín hữu : "Trong dân cũng đã từng xuất hiện những ngôn sứ giả; giữa anh em cũng vậy, sẽ có những thầy dạy giả hiệu, đó là những kẻ sẽ lén lút đưa vào những tà thuyết dẫn tới diệt vong. Vì chối bỏ vị Chúa Tể đã chuộc họ về, họ sẽ mau chóng chuốc lấy hoạ diệt vong. Nhiều người sẽ học đòi các trò dâm đãng của họ, và vì họ, con đường sự thật sẽ bị phỉ báng. Vì tham lam, họ dùng lời lẽ gạt gẫm anh em để trục lợi. Án phạt họ đã sẵn sàng từ lâu, và hoạ diệt vong đã gần kề" (2 Pr 2,1-3). Bởi vì Chúa đã dùng ông Môsê mà lên án những ngôn sứ giả : "Ngôn sứ nào cả gan nhân danh Ta mà nói lời Ta đã không truyền cho nói, hoặc nhân danh những thần khác mà nói, thì ngôn sứ đó phải chết." (Dnl 18,20). Dựa vào lời ấy, ngôn sứ Ezekiel cảnh cáo : "Các thủ lãnh trong xứ này tựa bầy sói xé mồi; chúng gây ra đổ máu, giết người để trục lợi. Các ngôn sứ trong xứ này tô vôi trát phấn lên chúng, cho thấy những thị kiến hão huyền và nói các lời sấm dối trá. Chúng dám nói: "Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này", nhưng thực ra Đức Chúa đã không phán"(Ed 22, 27-28).

Vậy ai tách rời khỏi Chúa Giêsu và Hội Thánh là Thân Thể Mầu Nhiệm của Ngài, thì họ đều là cây độc, là ngôn sứ giả !

II. NGÔN SỨ THẬT.

Những ai sinh lại bởi Chúa Giêsu (x Cv 2,38), và bởi Lời Chúa do Hội Thánh rao giảng (x Gc 1,18), và kiên trì sống Đức Ái (x HCHT số 14), thì họ luôn sám hối tội mình, trông cậy vào lòng thương xót của Chúa Giêsu và sự bầu cử của Hội Thánh, nhất là của Đức Maria, để được thêm nghị lực thực hành Lời Chúa dạy, dù có lúc họ sống bội ước, đáng phải phanh thây như những con vật bị xẻ đôi khi Thiên Chúa lập Giao Ước với tổ phụ Abraham (x St 15,7-12.17-18 : Bài đọc năm lẻ). Nhưng vào thời Tân Ước, kẻ bội ước không bị phanh thây, mà chính Con Một Thiên Chúa lại bị phanh thây thế mạng cho những kẻ bội ước. Thánh Phaolô trước khi được Chúa Giêsu kêu gọi, ông hết lòng trung thành với Luật Môsê. Thế mà ông lại trở thành ngôn sứ giả, độc ác hơn trái cấm bà Eva ăn, vì ông đã xông về thành Đama để triệt hạ các Kitô hữu (x Cv 9). Nhưng khi ông được Chúa Giêsu thương xót kêu gọi, ông đến học giáo lý nơi môn đệ Ngài và được tái sinh làm con Chúa, gia nhập Hội Thánh, ông được tách khỏi cây độc và tháp vào cây nho tốt lành là Chúa Giêsu, từ đó ông trở thành ngôn sứ tuyệt vời không thua các Tông Đồ thượng đẳng (x 2Cr 11,5). Chúa đã sai ông đi làm ngôn sứ cho muôn dân (x Gl 2,7).

Như thế, nhờ tái sinh bởi Chúa Giêsu (x Cv 2,38), và bởi Lời Chúa do Hội Thánh công bố (x Gc 1,18), và kiên trì sống Đức Ái trong Hội Thánh, mới thực là người Công Giáo chân chính, trở nên ngôn sứ thật của Chúa Giêsu. Vì Chúa chỉ giao sứ mệnh ngôn sứ cho Hội Thánh Ngài lập mà thôi (x Mt 11, 25-26 ; 16, 17 ; Lc 10,16 ; 22, 31-32 ; Ga 18, 19-21 ; Gl 1,8).

Chân lý này đã được tiên báo qua vị thượng tế Khin-ki-gia-hu tìm được Sách Luật trong Nhà Chúa, rồi ông nói với ký lục Sa-phan đệ trình đức vua, vua nghe những lời ghi chép trong Sách Luật, ông xé áo mình ra, tỏ dấu sám hối, vì tiền nhân đã không tuân giữ Luật Chúa, làm Chúa bừng bừng nổi cơn thịnh nộ chống lại dân. Thế nên vua tập họp toàn dân cùng với các kỳ mục Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đến. Vua lên Nhà Chúa đọc cho dân nghe tất cảnhững Lời trong Sách Giao Ước đã tìm thấy trong Nhà Chúa. Hôm đó dân cam kết bước theo Chúa hết lòng hết dạ và tuân giữ các lệnh truyền của Ngài (x 2V 22, 8-13 ; 23,1-3 : Bài đọc năm chẵn).

Như thế,dân tộc Do Thái chỉ tìm thấy Lời trong Nhà Chúa, và đã trở thành mối hiệp thông giữa các thành phần trong dân, để cùng với đức vua tôn vinh Thiên Chúa.Đó là lý do mà hôm nay chúng ta chỉ đón nhận được Lời Chúa chính xác qua Phụng Vụ của Hội Thánh (x Hiến Chế Phụng Vụ số 7, số 24 và số 52), thì còn hơn vị tư tế Khin-ki-gia-hu tìm thấy Sách Luật trong Nhà Đức Chúa.

Vậy ngôn sứ thật của Chúa phải luôn cầu nguyện : "Lạy Chúa, xin dạy con đường lối thánh chỉ" (Tv 119/118,33a : ĐC năm chẵn), để được Chúa ở cùng, vì Chúa Giêsu kêu gọi : "Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em. Ai ở lại trong Thầy thì sinh nhiều hoa trái" (Ga 15,4a.5b : Tung Hô Tin Mừng).

THUỘC LÒNG

Ai liên kết với Adam là cây độc, trở thành kẻ trộm cướp ; ta liên kết với Chúa Giêsu là Adam cuối cùng, là cây nho thật, sinh hoa trái sự sống Phục Sinh (theo Mt 7,17).

Linh mục GIUSE ĐINH QUANG THỊNH
http://conggiao.info/phan-biet-ngon-su-gia-voi-ngon-su-that-d-8712

Saturday, May 19, 2018

Ngôn sứ thật – ngôn sứ giả

Posted date: Tháng Hai 23, 2013

Từ xa xưa trong đời sống Do thái giáo đã xuất hiện việc phân định thiêng liêng hay biện phân thần khí. Điều này được hiểu như là hành vi mở lòng ra với Thiên Chúa, lắng nghe Ngài, hầu có thể nhận biết và thực thi ý Ngài. Việc làm này càng trở nên cấp thiết vào thời các ngôn sứ khi có nhiều người nhân danh Đức Chúa và nói Lời của Ngài, khiến cho Dân hoang mang vì khó nhận biết đâu là ngôn sứ thật và đâu là ngôn sứ giả.Trong khuôn khổ bài viết này, như một gợi ý cho việc nhận định thiêng liêng trong đời sống đức tin, người viết xin mạn phép trình bày hiện tượng ngôn sứ thật và ngôn sứ giả trong các sách ngôn sứ Isaia, Giêrêmia và Êdêkien.

Do thái giáo chịu ảnh hưởng sâu xa bởi tôn giáo vùng Cận Đông. Từ rất lâu người ta đã tìm thấy nét tương đồng giữa những nền tôn giáo này, mà cụ thể nhất là đặc tính ngôn sứ. Ngay từ thế kỷ thứ VIII (trước Công nguyên), người ta đã tìm thấy nơi thành phố A-mốt, thuộc xứ Ma-ri, những bia đá ghi lại các sinh hoạt ngôn sứ. Khắp vùng Cận Đông hồi ấy, người ta cũng nghe đến các danh xưng như: thầy thị kiến, người thuộc linh… …Chúng được dùng để chỉ những nhân vật mà dân tin là biết và chuyển giao sứ điệp các thần minh. Ngay trong Kinh thánh Do thái giáo cũng thấp thoáng hình bóng của họ (1V 18,19-40 ; 1Sm 10,5 ; Ed 21,26 ; Is 1,10 … …)

Tính cách phổ biến ấy không những giúp giải thích nguồn gốc truyền thống ngôn sứ Israelmà còn làm nổi bật sự khác biệt giữa những ngôn sứ ở trong và các ngôn sứ ngoài truyền thống này.

Hiện tượng nói thay các thần minh trong văn hóa và tôn giáo xứ Canaan đã dẫn đến tình trạng nhiều người trong Israel tự xưng mình là ngôn sứ. Ngôn sứ nào cũng cho mình là thật. Có những ngôn sứ giả biết mình là giả, lại có những ngôn sứ giả nhưng không biết mình là giả. Để hiểu rõ một ngôn sứ là giả hay thật, ta cần trở về với Cựu Ước, đặc biệt là các sách ngôn sứ nêu trên.

Trước hết, các ngôn sứ giả là những người có lối sống lầm lạc. Họ lừa dối kẻ khác bằng những mánh khóe và phán đoán sai lầm:

"Cả bọn này nữa cũng chếnh choáng vì rượu, lảo đảo vì men: tư tế và ngôn sứ đều choáng vì men …, chếnh choáng trong thị kiến, loạng quạng khi xét xử." (Is 28,7)

Nơi họ còn biểu hiện sự lẫn lộn giữa những hứng khởi, ham muốn riêng tư và ý muốn chân thật của Thiên Chúa:

"Chúng kể cho nhau nghe những giấc chiêm bao có ý làm cho dân Ta quên bẵng danh Ta, giống như cha ông chúng đã quên danh ta mà nhớ Ba-al." (Gr 23,27)

"Chúng kể lại những giấc chiêm bao và làm cho dân Ta lầm lạc… … Chính Ta, Ta đã không phái chúng đi, cũng chẳng truyền lệnh cho chúng."  (Gr 23,32)

Ngược lại, những ngôn sứ thật có đời sống ngay thẳng, một lòng phụng sự Thiên Chúa qua sứ mạng được trao phó (Is 61,1; Xp 2,3). Họ là những ngôn sứ thuộc truyền thống mà tiêu biểu là Mô-sê (Đnl 18,9-21).

Tuy nhiên, với quan điểm Cựu Ước hoạt động ngôn sứ giả cách nào đó lại là phương thế Gia-vê thử luyện dân Ngài (Gr 4,10 ; 1V 22,19-23)

Ngôn sứ giả luôn loan báo theo ý riêng, chứ không theo ý muốn Thiên Chúa. Chốn cung đình, họ tìm nói những điều hợp ý vua quan, không can đảm công bố điều Thiên Chúa truyền dạy. Điều này được miêu tả rõ nét trong cuộc tranh luận giữa Khanania và ngôn sứ Giêrêmia (Gr 28). Đứng trước nguy cơ Israel bị Babylon thôn tính, Khanania, mệnh danh là ngôn sứ, xem ra bình thản và có những lời vuốt ve tình cảm yêu nước. Trong khi đó, Giêrêmia lại khuyên nhà vua thần phục Babylon(Gr 27,8). Thực ra, quan điểm trái nghịch của ông không nhằm khẳng định rằng ngôn sứ loan báo bình an thì không đáng tin, và ngôn sứ tuyên sấm tai họa thì khả tín. Nhưng điều làm nên ý nghĩa ở đây là lời sấm của Giêrêmia được đặt trong truyền thống ngôn sứ Israel, nơi đó ý muốn Thiên Chúa được thể hiện:

"Nhưng xin ông lưu ý những điều tôi sắp nói đây: Các ngôn sứ có trước tôi và ông từ ngàn xưa đã tuyên sấm về nhiều xứ sở, vương quốc hùng mạnh, là sẽ có chiến tranh tai ương và ôn dịch. Còn ngôn sứ nào tuyên sấm có bình an, thì chỉ khi nào lời ngôn sứ ấy ứng nghiệm, ông mới được nhìn nhận là ngôn sứ Đức Chúa sai đến thật" (Gr 28,7-9)

Hơn nữa, trong viễn tượng đức tin, Giêrêmia còn cho biết Babylon sẽ nên "roi vọt" Thiên Chúa dùng để sửa phạt dân vì họ phản bội Ngài và phá vỡ Giao ước (Gr 44,3). Và sự thật đã xảy ra như vậy.

Điều tương tự cũng diễn ra khi Êdêkiel phi bác nhũng lời sấm của những ngôn sứ giả về sự bình an giả tạo (Ed 13,10). Đó chỉ là lời hứa hão huyền nhằm ru ngủ dân. Bình an đích thực không đơn giản hệ tại ở những an toàn bên ngoài, nhưng còn là sự trao hiến hạnh phúc cho đồng loại nhờ mối tương quan tốt đẹp với Thiên Chúa và tha nhân:

"Chúng bô bô bình an vô sự, để xoa dịu những thương tích của dân ta, trong khi chẳng có bình an chi cả. Việc chúng làm thật kinh tởm biết bao, lẽ ra chúng phải xấu hổ, nhưng chúng nào có xấu hổ gì đâu……" (Gr 6,14.15)

Sở dĩ các ngôn sứ loan báo cách lầm lạc như vậy cốt để tìm tư lợi:

"Các ngươi xúc phạm đến Ta nơi dân Ta chỉ vì những nắm lúa mạch, những mẫu bánh …" (Ed 13,19)

Ngoài ra, còn có một đặc tính quan trọng góp phần làm nên phong cách cao đẹp của vị ngôn sứ thật: kinh nghiệm thâm sâu về Lời Thiên Chúa. Chính Lời chạm đến nơi sâu thẳm tâm hồn các ngài, tạo nên rung động và hòa nhịp. Từ đó các ngài đáp trả cách mạnh mẽ, can đảm chịu mọi thử thách và dám sống chết cho Lời:

"Nhưng Lời ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt. Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được." (Gr 20,9)

Trước những đau khổ, các ngài vẫn cậy trông vào Chúa:

"Nhưng Đức Chúa hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng." (Gr 20,11)

Nói tóm lại, từ việc phân tích trên, chúng ta có thể rút ra nguyên tắc nhận biết ngôn sứ giả hay thật. Ngôn sứ thật là người mà trọn đời sống và lời loan báo của họ giúp dân yêu mến Thiên Chúa và thực thi lề luật của Ngài. Trái lại, ngôn sứ giả là kẻ, qua cách sống và sấm ngôn lầm lạc, chỉ dẫn dân rời xa Thiên Chúa:

"Nếu ở giữa anh em xuất hiện một ngôn sứ… …, và nó bảo chúng ta hãy theo và phụng thờ các thần khác, những thần mà anh em không biết, thì anh em đừng nghe những lời của ngôn sứ hay những kẻ chuyên nghề chiêm bao ấy, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, thử thách anh em cho biết anh em có yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ không. Chính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, là Đấng anh em phải theo; chính Người là Đấng anh em phải kính sợ; anh em phải giữ các mệnh lệnh của Người, phải nghe tiếng Người; chính Người là Đấng anh em phải phụng thờ; anh em phải gắn bó với người" (Đnl 13, 2-5)

Từ việc tìm hiểu hiện tượng ngôn sứ thật, ngôn sứ giả trên đây, chúng ta có thể rút ra nguyên tắc nhận định thiêng liêng cho đời sống đức tin hôm nay: Điều nào giúp tôi kết hợp với Chúa thì khởi đi từ Ngài; điều nào khiến tôi xa Ngài thì xuất phát từ quyền lực tăm tối, thế gian. Ước mong việc tìm hiểu này góp phần giúp ích cho người tín hữu lắng nghe, nhận biết, yêu mến và thực thi ý Chúa như giá trị duy nhất và chân thật đem lại sự sống cho chính mình, giữa biết bao những giá trị khác vốn đã và đang được cổ súy mạnh mẽ bởi những trào lưu sống khác nhau./.

Lm. Anrê Phạm Hòa Lạc

http://daichungvienvinhthanh.com/ngon-su-that-ngon-su-gia/

Sunday, May 13, 2018

“Thưa cha, con không đi nhà thờ nữa!”

"Một thanh niên trẻ đến gặp một linh mục và nói:
– Thưa cha, con không đi nhà thờ nữa!
Linh mục hỏi:
– Vậy à, con có thể cho cha biết lý do không?
Người thanh niên trả lời:
– Lạy Chúa tôi, ở đây con thấy cô này nói xấu cô kia; anh đọc Sách Thánh đọc dở; ca đoàn vừa chia rẽ vừa hát sai; người đi xem lễ chỉ chăm chăm nhìn điện thoại, đó là không nói đến ngoài nhà thờ họ là những người ích kỷ, cao ngạo…
Linh mục nói với anh:
– Con có lý. Nhưng trước khi dứt khoát rời nhà thờ, con có thể làm cho cha việc này: con rót một ly nước đầy, rồi đi quanh nhà thờ ba vòng mà không làm đổ một giọt. Sau đó, con có thể bỏ nhà thờ.
Người thanh niên tự nhủ: quá dễ!
Và anh đi ba vòng như cha xứ dặn. Đi xong, anh về nói với cha:
– Rồi, con đi xong rồi.
Linh mục hỏi:
– Khi con đi, con có thấy cô này nói xấu cô kia không?
Người thanh niên trả lời:
– Thưa cha không.
–  Con có thấy người này người kia thờ ơ với nhau không?
Người thanh niên:
– Thưa cha không.
– Con có thấy người này người kia chúi mũi vào điện thoại không?
Người thanh niên:
– Không, con không thấy.
– Con có biết vì sao không con không thấy không: vì con tập trung để ly nước không bị đổ. Con biết… cuộc đời cũng vậy. Khi tâm hồn chúng ta tập trung vào Chúa Kitô, thì chúng ta không có thì giờ để nhìn các sai lầm của người khác. Ai ra khỏi nhà thờ vì các kitô hữu đạo đức giả thì chắc chắn họ cũng không vào nhà thờ vì Chúa Giêsu".

(Nguồn: FB)

Sunday, May 6, 2018

Lẽ Sống - Khác Biệt Giữa Ngày Và Ðêm

(Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu Radio Veritas Asia)

6 Tháng Năm

Một vị đạo sĩ Ấn Giáo nọ hỏi các đệ tử của ông như sau: "Làm thế nào để biết được đêm đã tàn và ngày bắt đầu?"

Một người đệ tử trả lời như sau: "Khi ta trông thấy một con thú từ đằng xa và ta có thể nói: đó là con bò hay con ngựa".

Câu trả lời trên đây đã không làm cho nhà đạo sĩ ưng ý chút nào...

Người đệ tử thứ hai mới lên tiếng nói: "Khi ta thấy một cây lớn từ đằng xa và ta có thể nói nó là cây xoài hay cây mít".

Vị đạo sĩ cũng lắc đầu không đồng ý. Khi các đệ tử nhao nhao muốn biết câu giải đáp, ông mới ôn tồn nói như sau: "Khi ta nhìn vào gương mặt của bất cứ người nào và nhận ra người anh em của ta trong người đó thì đó là lúc đêm tàn và ngày mới bắt đầu. Nếu ta không phân biệt được như thế, thì cho dù đêm có tàn, ngày có bắt đầu, tất cả mọi sự không có gì thay đổi".

Ngày 25 tháng 12, lễ Thần Mặt Trời của dân ngoại đã được Giáo Hội chọn làm ngày sinh của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu quả thực là Mặt Trời Công Chính. Ngài xuất hiện để báo hiệu Ðêm đã tàn và Ngày Mới bắt đầu.

Nhân loại đã chìm ngập trong đêm tối của tội lỗi, đêm tối của trốn chạy khỏi Thiên Chúa và chối bỏ lẫn nhau giữa người với người. Chúa Giêsu đã đến để xóa tan đêm tối ấy và khai mở ngày mới trong đó người nhận ra người, người trở về với Thiên Chúa.

Quả thực, chỉ trong Ðức Giêsu Kitô, mầu nhiệm con người mới được sáng tỏ. Trong đêm tối âm u của khước từ Thiên Chúa và chóii bỏ lẫn nhau, con người đã không biết mình là ai, mình sẽ đi về đâu. Trong ánh sáng của Chúa Giêsu Kitô, con người nhận dạng được chính mình cũng như nhìn thấy người anh em của mình.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó chính là nhìn thấy hình ảnh của Thiên Chúa nơi mọi người cũng như phẩm giá vô cùng cao quý của người đó.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó là nhìn thấy niềm vui, nỗi khổ, sự bất hạnh và ngay cả lỗi lầm của người đso như của chính mình.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó chính là sẵn sàng tha thứ cho người đó ngay cả khi người đó xúc phạm đến ta và không muốn nhìn mặt ta.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó cũng có nghĩa là không thất vọng về khả năng hướng thiện của người đó.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó cũng có nghĩa là muốn nói với người đó rằng, cách này hay cách khác, ta cần người đó để được sống xứng với ơn gọi làm người hơn.

(Nguồn: http://vntaiwan.catholic.org.tw/lesong/06lesong5.htm)

Sunday, April 29, 2018

Chúa Nhật - Chủ Nhật...

15/07/2016 

Có nhiều bạn hỏi tôi rằng, tại sao những người đạo Thiên Chúa (Công giáo) cứ cố tình kêu nhang nhảng cái chữ "Chúa Nhật" mà không phải gọi chữ "Chủ Nhật" như người ta thường gọi, có phải họ cố tình truyền đạo hay tôn vinh Đạo của họ lên trước mặt mọi người chăng?!

Xin cắt nghĩa thế này, dù bạn gọi Chúa Nhật hay Chủ Nhật cũng là ngày của Chúa chúng tôi. Vì nguồn gốc của tên gọi Chúa Nhật (Chủ Nhật) trong tiếng Việt xuất phát từ đạo Công Giáo. Tên gọi gốc là "Chúa Nhật", Nhật có nghĩa là ngày, Chúa Nhật có nghĩa là "ngày của Chúa". Chữ Chúa và Chủ đều bắt nguồn từ chữ zhǔ (主) trong tiếng Hán, vì lúc Thiên Chúa Giáo truyền vào Trung Hoa, người Tàu dịch là Thiên Chủ, sau đời Mãn Thanh mới đổi thành Thiên Chúa cho trang trọng. Chúa và Chủ đều giống nhau. Nên có thể gọi là Chúa Nhật hoặc Chủ Nhật đều như nhau. Người theo đạo Công giáo buộc phải đi lễ nhà thờ, giữ tâm tịnh và kiêng việc xác thịt vào ngày này.

Trước năm 1975, hầu hết trong văn bản hành chánh, văn chương sách vở, âm nhạc, truyền thông... đều kêu là ngày "Chúa Nhật" chớ không ai kêu Chủ Nhật cả. Sau năm 1975, chính quyền Đảng Cộng Sản không muốn cho dân chúng kêu bất cứ tên gọi nào có "mùi" Tôn Giáo nên kêu từ "Chủ Nhật" nghe cho nó nhẹ, riết rồi quen miệng hơn mấy chục năm nay.

Ví dụ, từ trong Âm Nhạc, nó chẳng phải Thánh Ca ca ngợi Chúa -tôn giáo gì cả, nhưng người ta vẫn quen gọi Chúa Nhựt.

"Hôm chia tay chiều Chúa Nhật, anh bảo rằng tuần sau anh đến, hái một nụ hoa xinh xin màu tim tím anh cài lên mái tóc thề..." (Hoa Mười Giờ - Đài Phương Trang.)

"Hôm nay ngày Chúa Nhật vườn tao ngộ em đến thăm anh, đường Quan Trung nắng đổ xa xôi mà em đâu có ngại khi tình yêu ngun ngút cao lên rồi..." (Vườn Tao Ngộ- Khánh Băng)

"Chiều Chúa Nhựt lối năm giờ, cô Lý giấu chồng để dành tiền được hai trăm đồng bạc, cô đi qua Mỹ Tho vay thêm một trăm đồng bạc nữa để hùn hạp làm tiệm lúa cho Kỳ Tâm làm Tổng Lý..." (Tiểu thuyết Tỉnh Mộng - Hồ Biểu Chánh).

Ngày xưa, không ai kêu Chủ Nhật, cho nên đừng nghĩ những người đạo Thiên Chúa truyền đạo mà kêu tên Chúa, mà phải biết ngày "Chúa Nhật" nguồn gốc nó từ đâu.

(Petrus Trần)
http://daminhvn.net/phung-vu/chua-nhat---chu-nhat-12267.html

Friday, April 20, 2018

Thánh Phêrô là anh hay em của thánh Anrê

Tạp bút của Lm. Piô Ngô Phúc Hậu

Một ma-sơ thất tuần chống gậy lọc cọc đến gặp cha xứ. Lưng còng như lưng tôm, nhưng cặp mắt vẫn còn hấp háy chứng tỏ đang có chuyện cay cú.

- Ông cố ơi, Thánh Phêrô là anh hay em của Thánh Anrê?

- Ủa, tại sao bà ngoại hỏi kỳ vậy?

- Từ xưa tới nay, ai cũng biểu Thánh Phêrô là anh. Thế mà bỗng dưng trong sách Tân ước mới in, ông Thánh Phêrô lại tuột xuống làm em. Bộ từ trước tới nay, thì giáo hội mình hiểu sai hả?

- Bà ngoại lớn tuổi rồi, mà vẫn còn tỉnh trí quá ta?

- Con già rồi, nhưng chưa lẫn đâu. Ăn hiếp con là không được ạ.

- Nếu từ trước tới nay, tôi có ăn hiếp bà ngoại, thì bà ngoại tha cho tôi. Còn từ giờ phút này, tôi xin trao đổi nghiêm túc với bà ngoại. Được chưa?

- Ông cố lúc nào cũng khôn như… quỷ vậy.

- Từ trước tới giờ, tôi vẫn coi Thánh Phêrô là anh của Thánh Anrê. Còn từ nay trở đi, miệng tôi cứ đọc rằng “Thánh Phêrô là em của Thánh Anrê”. Nhưng lòng trí của tôi thì Thánh Phêrô vẫn là anh. Đành phải vậy thôi. Còn tại sao lại thế, thì đây là lý luận của tôi. Tôi không phải là chuyên viên Thánh Kinh nhưng cứ thử chơi hèo một cái xem sao.

1. Người chủ trương Thánh Phêrô là em thì lý luận như sau. Theo truyền thống Thánh Kinh, thì người em luôn luôn xuất sắc hơn và được Chúa trao trách nhiệm quan trọng hơn.

* Abel là em, nên vượt trội Cain về đạo đức.

* Esau là anh, thì phải thua em là Giacóp. Giacóp thừa kế sự nghiệp của cha và trở nên tổ phụ thứ hai của Dân Do Thái.

* Ruben là con cả của tổ phụ Giacóp, nhưng quyền trưởng nam lại lọt vào tay Giuđa, người em thứ tư.

* Giuse là con thứ mười một của tổ phụ Giacóp, nhưng lại được trở thành vị cứu tinh của dòng tộc và được các anh quỳ lạy như tế sao.
* Cô Lêa là chị của cô Raken. Cả hai đều là vợ của tổ phụ Giacóp. Nhưng cô em Raken qua mặt chị cả về nhan sắc lẫn chỗ đứng trong gia đình.

* Aaron là anh, Môsê là em. Nhưng ông anh chỉ là bóng mờ bên cạnh ông em rực sáng.

* Giuđa là nhân vật nổi cộm của gia đình Macabê. Nhưng xét về vai vế, thì ông chỉ là cậu em không đáng quan tâm.

* Trong gia đình của ông Ixai, thì Đavít chỉ là thằng cu tí, thế nhưng lại được Samuen xức dầu và sau này trở nên tổ phụ của Đấng Cứu Thế.

Từ đó mà suy ra, thì phải kết luận rằng Phêrô là em. Đó là truyền thống của Thánh Kinh.

2. Tôi không phải là chuyên viên Thánh Kinh, nhưng lại cứ chủ trương rằng Thánh Phêrô phải là anh, còn Thánh Anrê phải là em. Đây là lý luận của tôi.

* Nói rằng theo truyền thống Thánh Kinh, thì Chúa chỉ chọn người em để trao sứ mạng lớn, thì chưa có sức thuyết phục. Bằng chứng là trong gia đình của ông Noe, thì ông em là Cam lại quá tệ so với ông anh là Xem. Cái gọi là truyền thống Thánh Kinh ấy, chỉ là chuyện thông thường của đời người.

* Trường đời minh chứng rằng người em vẫn xuất sắc hơn anh chị. Lý do vì em ra đời sau. Ra đời sau thì được hưởng hai cái lợi: Cái lợi thứ nhất là được học hỏi với anh chị; cái lợi thứ hai là lúc ấy cha mẹ có kinh nghiệm hơn, từng trải hơn.

* Ông Nguyễn Huệ là em, nhưng vượt trội muôn phần hơn hai ông anh là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ. Nguyễn Huệ chết thì nhà Tây Sơn sụp đổ, vô phương cứu chữa.

* Nhận xét các em thiếu nhi trong họ đạo, thì tôi cũng thấy rằng: anh chị thì hiền; cậu em và cô em lại khôn lanh.

* Đức Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình có một cô em làm dì phước, tên là dì Sinh. Ngài nói đùa trước mặt nhiều người rằng: “Tên tôi là Bình, có nghĩa là bình an. Tên nó là Sinh, có nghĩa là sinh sự”. Ta có thể giải thích ý câu nói đó như sau: “Tôi hiền, vì tôi là anh. Nó lanh, vì nó là em”. Có lẽ đúng thế thật.

* Quả thật, Anrê lanh hơn Phêrô. Chính Anrê theo Chúa trước, rồi đi kiếm anh, đem đến giới thiệu với Chúa.

Tạp bút của Lm. Piô Ngô Phúc Hậu

(Theo Báo Công giáo và Dân tộc, website: cgvdt.vn, http://www.cgvdt.vn/ngo-phuc-hau/nhu-trai-mam/thanh-phero-la-anh-hay-em-cua-thanh-anre_a1323)


Saturday, April 7, 2018

CHÚT TÂM TÌNH

+ GB. Bùi Tuần

Hồi tâm lần này, tôi cũng xin chia sẻ trước mọi người thân yêu đôi chút tâm tình thân mật của tôi.

1. Mỗi năm, gần đến 30 tháng 4, tôi thường hồi tâm. Hồi tâm này có đặc điểm riêng. Bởi vì 30 tháng 4 năm 1975 là ngày lịch sử Đất Nước sang trang. Cũng chính ngày đó, tôi được thụ phong Giám mục, nhận trọng trách làm giám mục phó giáo phận Long Xuyên.

2. Năm nay, tôi cũng hồi tâm. Cái chết đột ngột của Đức Cố TGM Phaolô Bùi Văn Đọc khiến tôi nghĩ biết đâu hồi tâm của tôi lần này sẽ là lần cuối.

Dù sao, hồi tâm lần này, tôi cũng xin chia sẻ trước mọi người thân yêu đôi chút tâm tình thân mật của tôi.

3. Tâm tình thứ nhất là tôi coi trách vụ đứng đầu giáo phận là một chén đắng làm tôi rất sợ.

Hồi đó, tôi biết Đức Cha Micae sẽ trao hết cho tôi. Thế mà tôi thì quá yếu về mọi phương diện. Tôi sợ lắm.

4. Ở chức vụ đó, tôi phải hiệp thông mật thiết với Chúa Giêsu, nhất là trong cuộc thương khó của Người và trong giới luật yêu thương, mà Người đã trối lại. Trọng trách thì quá lớn, còn tôi thì quá yếu đuối hèn mọn, tội lỗi. Tôi quá sợ.

5. Ở chức vụ đó, tôi phải hiệp nhất trọn vẹn với Đức Giáo Hoàng. Đức Giáo Hoàng muốn tôi làm gì, trong một giai đoạn Đất Nước tôi rất cần hòa giải một cách khôn ngoan? Trọng trách thì quá lớn, còn tôi thì quá nhỏ bé, xa xôi, vụng về. Tôi rất sợ.

6.  Ở chức vụ đó, tôi phải sống liên đới chân thành với Quê Hương, với đồng bào. Tôi sẽ làm gì, khi thấy nhiều đồng bào rơi vào sợ hãi, thất vọng, đau khổ. Tôi sẽ làm gì, khi thấy Đất Nước gặp bao khó khăn trên đường dựng Nước và giữ Nước.

7. Tôi bùi ngùi thao thức. Thao thức nhiều càng thêm lo sợ. Lo sợ làm tôi coi chức vụ được trao là chén đắng.

Xưa Chúa Giêsu đã có lần nói với Đức Chúa Cha: “Nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén đắng này. Nhưng đừng theo ý con, xin chỉ theo ý Cha mà thôi” (Mt 26, 39).

Tôi cũng đã nhiều lần nói với Chúa như vậy.

8. Từ khi được về hưu, tôi được nhẹ vơi nhiều gánh nặng. Nhưng trách nhiệm yêu thương, trách nhiệm làm chứng cho Chúa vẫn còn đó, đôi khi còn nặng hơn trước. Tuy nặng, mà ngọt ngào, và cũng không khỏi sợ: Tôi có làm đủ, làm đúng không? Càng sợ, tôi càng kêu cầu Chúa.

9. Tâm tình thứ hai là tôi đã được đỡ nâng rất nhiều, nên được sức mạnh để sống ơn gọi.

Chúa nhân từ đã đỡ nâng tôi bằng nhiều cách. Lúc thì Chúa trực tiếp an ủi tôi trong tâm hồn. Lúc thì Chúa gián tiếp an ủi tôi qua những con người có tấm lòng, có trái tim. Đặc biệt Chúa đỡ nâng tôi qua cộng đoàn giáo phận.

Tôi coi mỗi người nâng đỡ tôi như một lá thư Chúa gửi cho tôi. Trong từng lá thư đó, tôi đọc được tình thương, sự bao dung, sự tha thứ, sự bén nhạy, sự tế nhị, sự khiêm nhường.

10. Cách riêng, tôi được đỡ nâng nơi Đức Mẹ Maria. Mẹ đỡ nâng tôi bằng cách dẫn tôi đến với Chúa Giêsu đang gần gũi những người khổ đau, tội lỗi, yếu đuối, hèn mọn. Gặp Chúa Giêsu nơi họ, tôi được Mẹ mở lòng tôi ra, để tôi thấy “Chính lúc cho đi là khi được nhận lãnh”.

11. Được đỡ nâng, đó là bài học dạy tôi hãy nâng đỡ những người khác. Có lửa yêu thương thực sự trong lòng, thì dù chỉ với một lời nói đơn sơ, một việc làm nhỏ, cũng có sức gửi đến người đau khổ một đỡ nâng cần thiết có sức cứu họ.

12. Ở đây, tôi xin gửi lời cảm ơn nồng nhiệt tới mọi người đã đỡ nâng tôi hoặc cách này hoặc cách khác. Họ thuộc mọi tầng lớp, trong Hội Thánh và ngoài Hội Thánh. Họ ở gần và họ ở xa. Xin cảm tạ Chúa đã gửi đến tôi những người tốt đó.

13. Tâm tình thứ ba là cậy tin ở lòng thương xót Chúa.

Suốt 43 năm qua, đối với tôi, chức giám mục luôn là một tiếng Chúa gọi “Hãy cậy tin vào tình yêu thương xót Chúa”

Gánh nặng của tôi là chức vụ. Gánh nặng của tôi là sự yếu đuối của chính tôi. Tôi thường sợ hãi. Sợ hãi là điểm yếu của tôi mà quỉ Satan thường tấn công dữ dội.

Chúa thương giúp tôi đối phó, bằng cách luôn kéo tôi gắn bó chặt chẽ với tình yêu thương xót Chúa. Tôi cậy tin ở lòng thương xót Chúa một cách tuyệt đối, một cách đơn sơ, một cách bền bỉ, một cách thường xuyên, từng giờ, từng phút, tầng giây. Thành ra chính sự sợ hãi của tôi lại là cơ hội tốt, để tôi ký thác mình cho Chúa. Đúng như lời Thánh Phaolô nói: “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12, 12). Tôi được tha thứ, được sửa lại và được ơn trở về với Chúa. Tôi cảm nhận thấm thía Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế rất nhân lành.

14. Hằng ngày, tôi tạ ơn Chúa một cách đặc biệt vì ơn được tin cậy ở tình yêu thương xót Chúa.

15. Đối với tôi, bất cứ ai tin vào tình yêu thương xót Chúa đều được Chúa nhận là đã bắt đầu thuộc về Chúa. Vì thế, giờ đây tôi rất vui, vì nhận thấy tại Việt Nam hôm nay, ngay tại địa phương này, số người tin vào tình yêu thương xót Chúa là rất đông.

Với những tâm tình trên đây, chúng ta hãy khiêm nhường tạ ơn Chúa và để mình chìm sâu vào tình yêu thương xót Chúa. Trong tình yêu thương xót Chúa, chúng ta sẽ đi về tương lai. Cho dù tương lai sẽ có những chén đắng mới, nhưng có Chúa, chúng ta vẫn có quyền lạc quan.

Long Xuyên, ngày 05.4.2018
+ Gm. Gioan Baotixita Bùi Tuần
(http://gplongxuyen.org/NewsDetail.aspx?ID=20180405092741) 

Saturday, March 31, 2018

Kiêng thịt và ăn chay

Cái Rắn, ngày 28-3-1997

 Mình vừa vứt bỏ cây tăm, thì có người hỏi từ phía sau lưng

 - Đã tới 12 giờ chưa, ông cố ?

 - Chi vậy ?

 - Để con đánh kẻng cho người ta ăn cơm trưa.

 - Tại sao vậy ?

 - Hôm nay là ngày ăn chay, phải đánh chuông mới được ăn cơm.

 - Luật nào vậy ?

 - Biết đâu à !

 Sau nghi thức suy tôn Thánh Giá, mình mở cuộc điều tra về tục lệ ăn chay ở đây. Các ông già, bà già đua nhau khoe trí nhớ của mình.

 - Sáng : nhịn ; 12 giờ : nghe chuông nhật một thì ăn cơm. Trưa ăn no. Tối ăn đói.

 - Ăn một miếng thịt heo bằng lóng tay cái, thì mắc tội trọng. Được ăn loài có máu lạnh như ếch, lươn, kỳ đà, cá, tôm.

 - Các loại chim thì được ăn cò, quắm, thằng bè.

 - Được ăn vịt lộn, vì vịt lộn được kể là trứng. Khi con vịt con chui ra khỏi vỏ trứng mới kể là con vịt và cấm không được ăn...

 Để khen thưởng trí nhớ sắc sảo của bà con, mình tặng họ một câu chuyện, câu chuyện của đời mình.

--------------------------------------------------------------------------------

 Năm 1945 mình đi tu làm chú tiểu tại nhà xứ Vĩnh Lộc, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây. Thứ Tư lễ Tro năm 1946, mình thấy các thầy kẻ giảng tập trung về nhà xứ rất đông : thầy Nhã, thầy Tài, thầy Viêm... Nhà xứ vui như lễ hội. Cha già cố phấn khởi như chưa từng thấy.

 - Các cậu xuống ao kéo lưới bắt cá mè làm gỏi đãi các thầy một bữa...

 - Vâng ạ. Xin cha già cho phép chúng con đi lấy quần đùi đã ạ.

 - Cho chúng mày làm ông Adong, không cần che chúm gì hết... Bằng quả ớt chứ gì.

 Chúng mình nhảy tùm xuống ao, gạt bèo, giăng lưới, đập nước. Vọc nước, quậy bùn là thú vui của tụi mình. Một thú vui được chấp thuận, được khích lệ : Sướng ơi là sướng !

 Bữa cơm chay hôm ấy trở thành bữa cơm thịnh soạn nhất trong năm. Cha già cố và các thầy ăn uống phủ phê. Còn tụi mình thì không thích ăn và cũng không được phép ăn. Trẻ con không ăn gỏi cá bao giờ. Đùa giỡn thì sướng hơn.

 Kể xong câu chuyện. Không thấy ai thắc mắc gì. Ai nấy đều cười vui vẻ. Ai cũng biết rằng luật chỉ cấm ăn thịt, chứ không cấm ăn cá. Không ai phát giác ra rằng ăn gỏi cá, một món ăn thịnh soạn nhất như thế là vi phạm tinh thần luật một cách trầm trọng, là nhân danh luật để vi phạm luật. Mình lấy sách lễ Rôma đọc lại lời nguyện nhập lễ, để thấy mục đích của việc ăn chay, kiêng thịt.

 “Lạy Chúa, ngày hôm nay, tất cả chúng con ăn chay, hãm mình, để bước vào mùa tập luyện chiến đấu thiêng liêng. Xin giúp chúng con hằng biết sống khắc khổ, để ngày thêm vững mạnh mà chiến thắng ác thần”.

 Mình đọc thêm lời Tiền tụng Mùa Chay III.

 “Cha muốn chúng con dùng việc hãm mình để cảm tạ Cha. Nhờ đó, chúng con là những người tội lỗi, giảm bớt được tính kiêu căng và khi giúp nuôi dưỡng những người thiếu thốn, chúng con biết noi theo lòng nhân hậu của Cha”.

 Như vậy rõ ràng mục tiêu của việc ăn chay kiêng thịt chỉ là: rèn luyện ý chí, nhờ việc khắc khổ trong vấn đề ăn uống và tiêu xài, để đương đầu và thắng các chước cám dỗ, đồng thời có thêm tiền bạc giúp đỡ người nghèo.

 Như vậy rõ ràng là cha già cố của mình đã đánh mất toàn bộ tinh thần ăn chay kiêng thịt bằng bữa gỏi cá năm ấy. Nhưng nói cho cùng thì cha già cố của mình cũng vô tội. Vậy ai là người có lỗi trong vụ vi phạm luật pháp này ? Phải quy trách nhiệm cho ông làm luật. Cái lối trình bày hình thức luật mà quên tinh thần luật ấy, mình đã hấp thụ ngay trong lớp thần học. Chính thầy mình đã dạy rằng : ăn vịt lộn ngày kiêng thịt là không vi phạm luật, vì vịt lộn khi còn ở trong trứng, thì chỉ là trứng, chứ không phải là vịt. Khi trình bày cái vỏ luật, thầy mình đã quên không tham chiếu tinh thần luật, nên đã lạc xa mục tiêu của luật.

 Nghĩ lại chuyện xưa, mình mắc cở quá chừng. Từ nay mình sẽ nói với anh chị em dự tòng, tân tòng và cả đạo dòng một cách giản dị rằng :

 “Ngày kiêng thịt, thì ăn khem khổ. Ngày ăn chay, thì ăn ít thôi. Thắng cái thèm và cái đói để thắng cái yếu đuối. Trong những ngày ấy, chỉ nên ăn rau mà thôi. Ăn khem khổ như thế sẽ dành ra được chút tiền để san sẻ cho người nghèo”.

 Tuyệt nhiên mình không nhắc gì đến chuyện ăn vịt lộn không phải là ăn thịt vịt; ăn lươn um, ếch chiên bơ. . . không lỗi luật kiêng thịt. Mình trả lại tất cả những thứ đó cho thầy. Những thứ đó không thể là hành trang của người truyền giáo. Rườm rà đến chịu không nổi ! Kềnh càng đến đi không được ! Phức tạp đến lầm đường lạc lối !

 --------------------------------------------------------------------------------

 Cái Rắn, ngày 20-2-1999

 Hôm nay khách Sàigòn đổ xuống Cái Rắn như đi trẩy hội. Hai vỏ lãi lớn nuốt tối đa mà chỉ được sáu mươi khách. Còn hai chục khách nữa đứng xớ rớ… chờ ba vỏ lãi nhỏ. Sân nhà thờ đầy người. Bệnh nhân chờ bác sĩ và nha sĩ. Trẻ em chờ hội chợ và quà bánh. Kẻ qua người lại tấp nập. Bác sĩ Nghĩa nghiêm trang và thủng thỉnh như ông thiên triều đi… Cha Lộc có cặp mắt hấp háy, hấp háy như muốn đùa với cả thế gian. Thầy Nhiên có cặp môi mấp máy, mấp máy như đang bứt rứt trước một ẩn số khó giải trình... Khách nào cũng đói mèm vì hôm qua là ngày chay và đêm qua là đêm ngủ không tròn giấc.

 Bữa cơm trưa chỉ thịnh soạn ở mức dưới trung bình, nhưng lại được khách chiếu cố tận tình. Đói bụng thì cơm nguội trở thành yến xào. Vừa ăn vừa tưởng nhớ ngày chay vừa qua mà xót xa trong lòng.

 - Hôm qua ăn chay, đói run cả chân tay.

 - Đúng là có ma quỷ cám dỗ thật. Bữa chay tối nào đồ ăn cũng chẳng ra gì, mà miệng thì ăn gì cũng thấy ngon, cứ muốn ăn mãi cho đến mất chay thì thôi.

 - Hồi tôi học ở chủng viện Sàigòn, bữa chay tối thường chỉ có rau muống luộc chấm nước mắm giằm hột vịt. Bình thường thì ăn hai đĩa, bữa chay tối chỉ ăn một đĩa. Nhưng ma quỷ cám dỗ nên làm bộ rưới nước mắm thật nhiều, để phải lấy thêm cơm cho bớt mặn. Rồi làm bộ bới cơm hơi lố, để rưới thêm nước mắm cho vừa miệng... Cuối cùng thì một đĩa thành một đĩa phết chín mươi chín. Vừa đủ để lương tâm không bị cắn rứt ? Đúng là trò hề.

 -------------------------------------------------------------------------------

 Cà Mau, ngày...

 Hôm nay Đức cha xuống cấm phòng với hạt Minh Hải. Mình tâm sự với ngài.

 - Thưa Đức cha, con thấy cái luật kiêng thịt lỉnh kỉnh và khôi hài quá à ! Ăn một miếng thịt heo thì có tội nặng, còn ăn một lẫu lươn thì không có tội ! Tại sao lại cho ăn thịt loài có máu lạnh ?

 - Luật này rất phù hợp đối với tây phương. Ở bên đó mà không có thịt, thì bữa cơm trở nên khắc khổ liền.

 - Thưa Đức cha, ở bên Tây, người công giáo còn kiêng thịt không ?

 - Chung chung thì họ lơ là. Nhưng có nhiều nơi Nhà Nước vẫn cấm bán thịt vào các ngày thứ Sáu. Không phải vì họ giữ luật đạo, mà vì đó là quyền lợi của nghiệp đoàn bán cá.

 - Con đề nghị điều chỉnh lại luật kiêng thịt và ăn chay để đạt được mục tiêu Giáo hội đề ra cho mùa chay.

Linh mục Piô Ngô Phúc Hậu, Nhật Ký Truyền Giáo

Sunday, March 18, 2018

Lẽ Sống - Ðất Thánh

(Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu Radio Veritas Asia)
18 Tháng Ba
Ðất Thánh

Một giáo xứ miền quê nọ đã được thành lập từ lâu, nhưng chưa có được một ngôi nhà thờ xây cất hẳn hoi. Giáo dân lại nằm rải rác trong hai ngôi làng sát cạnh nhau. Khát vọng duy nhất của giáo dân là được có nơi thờ phượng đàng hoàng... Với sự hăng say bộc phát của những người nông dân, mọi người đã quảng đại đáp lại lời kêu gọi của các chức sắc trong giáo xứ: kẻ góp tiền, người cho vật dụng... Thế nhưng vấn đề cơ bản vẫn là: đâu là địa điểm xứng hợp nhất để xây cất nhà thờ. Người trong làng này thì muốn ngôi nhà thờ tọa lạc trong làng của mình. Người bên làng kia thì lại muốn ngôi nhà thờ được xây cất gần bên chỗ mình ở. Thế là hai bên cứ tranh luận, không bên nào muốn nhường bên nào. Tiền đã có sẵn, vật dụng cũng đã đầy đủ, nhưng không biết phải đặt viên đá đầu tiên bên làng nào.

Giữa lúc vấn đề địa điểm chưa ngã ngũ, thì một vấn đề lớn lại xảy ra: một nạn hạn hán trầm trọng đe dọa dân chúng trong cả hai làng. Thế là người ta chỉ còn nghĩ đến việc chống hạn hán hơn là xây cất nhà thờ. Nhưng sức người có hạn, việc dẫn thủy nhập điền không đạt được chỉ tiêu. Năm đó, toàn dân trong hai làng đều phải chịu cảnh đói khát.

Sống bên cạnh nhau, cho nên mặc dù ngăn cách về hành chính, dân hai làng vẫn coi nhau như bà con ruột thịt... Có hai gia đình nông dân nọ rất mực thương nhau và tương trợ nhau. Một người bên làng này luôn nghĩ đến cảnh đói khổ mà người bạn bên làng kia đang phải chịu. Thế là một đêm nọ, anh đã phân chia phần lúa thóc thu hoạch được trong vụ mùa vừa qua và lặng lẽ vác lên vai để mang qua cứu trợ người bạn của làng bên cạnh... Trong khi đó thì người bạn bên làng bên cạnh cũng có một ý nghĩ tương tự. Anh cũng hành động y như người bạn của mình. Cũng chính đêm hôm đó, anh đã sớt bớt phần lúa của mình để mang qua biếu người bạn ở làng kế bên... Giữa đêm tối, không hẹn hò, hai người bạn đã gặp nhau trong cùng một ý nghĩ và hành động. Không cần một lời giải thích, không cần một lời chào hỏi, hai người đã hiểu nhau: Họ bỏ bao lúa xuống đất và ôm trầm lấy nhau... Ðiểm gặp gỡ của tình bạn, của tình tương thân tương ái, của tình liên đới, của chia sẻ ấy đã được giáo dân của hai ngôi làng gọi là đất Thánh và không cần phải mất nhiều thủ tục để giải quyết, họ đã đồng thanh chọn địa điểm ấy làm nơi xây cất nhà thờ.

Nhà thờ là nơi hẹn hò: hẹn hò với Thiên Chúa, hẹn hò với con người. Không ai đến nhà thờ mà không tìm gặp được sức mạnh từ chính Chúa, sự an ủi đỡ nâng từ những người anh em của mình... Do đó, nhà thờ phải là điểm đến của mọi nẻo đường, nhà thờ phải là nơi hội tụ của mọi xây dựng, nhà thờ phải là giải đáp của mọi tranh luận... Người ta không thể xây dựng những ngôi nhà thờ nguy nga tráng lệ mà lại làm ngơ trước những người đang dẫy chết bên cạnh. Người ta không thể nhắm mắt đi đến nhà thờ trong khi bên lề đường có bao nhiêu kẻ lê lết trong đói khổ... Phải chăng, nhà thờ chỉ có thể xây dựng ngay chính trên đất Thánh của chia sẻ, của san sớt, của tình liên đới mà thôi? Phải chăng, việc đi đến nhà thờ cũng chỉ có ý nghĩa khi nó là điểm đến, là biểu trưng của chính những viên gạch bác ái mà người ta không ngừng xây dựng trong cuộc sống hằng ngày?

(Nguồn: http://vntaiwan.catholic.org.tw/lesong/18lesong3.htm)

Sunday, March 11, 2018

Cái Chết Của Ðức Cố Tổng Giám Mục Phaolô Là Một Bức Tâm Thư Chúa Gửi Cho Tôi

Tác giả: Gm. JB. Bùi Tuần

1. Đức TGM Phaolô Bùi Văn Đọc đã qua đời tại Rôma. Tôi rất ngỡ ngàng. Chỉ biết cầu nguyện cho ngài.

Khi cầu nguyện cho Đức Tổng, tôi xót xa nghẹn ngào. Tôi nhớ lại những tâm sự giữa hai chúng tôi, ngay trước khi ngài đi Rôma.

2. Giờ đây, ngài vẫn tâm sự với tôi. Ngài khuyên tôi hãy coi cái chết của ngài như một bức tâm thư Chúa gửi cho Hội Thánh Việt Nam nói chung, và cho tôi nói riêng.

Ý chung của bức tâm thư đó là: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện”.

3. Đức cố TGM Phaolô khẩn khoản nhắc cho tôi nhớ lại Lời Chúa Giêsu đã báo trước: “Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người” (Lc 21, 36).

4. Có nghĩa là những điều sắp xảy đến sẽ tang tóc. Để thoát khỏi, tôi cần cầu nguyện nhiều, và cần lắng nghe ý Chúa, để mà biết chọn lựa những gì nên làm, những gì nên thôi làm.

5. Và có nghĩa là Chúa Giêsu Kitô sẽ bất ngờ đến. Ngài sẽ hỏi tôi có luôn tìm gặp Ngài là Đấng cứu độ không, có luôn coi Ngài là nền tảng cho cộng đoàn đức tin của tôi không (x.1Cr 3, 11).

6. Và có nghĩa là: Chúa Giêsu Kitô sẽ bất ngờ đến. Ngài sẽ hỏi tôi có thực sự đang thuộc về Chúa không (x Gl 2, 20).

7. Và có nghĩa là: Chúa Giêsu Kitô sẽ bất ngờ đến. Ngài sẽ hỏi tôi có thực sự “Hiến dâng mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Chúa không? (Rm 12, 1).

8. Mấy ngày trước khi Đức Tổng đi Rôma, tôi gọi điện thăm ngài. Tôi nói với ngài một lời thân mật: “Đức Tổng Bùi nên nhớ mình đứng đầu Giáo Tỉnh. Vì thế nên đi thăm anh em, trong đó có tôi là kẻ già yếu sắp chết rồi”. Ngài trả lời: “Chưa chết đâu, chúng ta còn gặp nhau”. Ai ngờ bây giờ tôi còn sống, mà chính ngài đã chết. Tuy sao, chúng tôi vẫn còn gặp nhau một cách thiêng liêng.

9. Bằng cách thiêng liêng, mà rất thân tình, Đức Cố TGM Phaolô mới nhắn nhủ tôi là: Tình hình đang chuyển biến mau lẹ, như cái chết mau lẹ của ngài. Hãy tỉnh thức và cầu nguyện thực nhiều, kẻo sẽ quá muộn.

Tôi hiểu phần nào điều ngài nhắn nhủ. Tôi băn khoan và cầu nguyện thêm, thì tôi được hiểu thêm nhờ đoạn thơ sau đây của Thánh Phaolô gởi cho tín hữu Êphêsô:

10. “Bẩm sinh chúng ta là những kẻ đáng chịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, như những người khác. Nhưng Thiên Chúa giầu lòng thương xót và rất mực yêu thương chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô. Chính do ẩn sủng mà anh em được cứu độ” (Ep 2, 4-5).

Kẻo sẽ quá muộn, tôi lập tức tin vào Chúa Giêsu Kitô. Nhờ ân sủng của Ngài, tôi yêu thương mọi người khác, như Chúa đã thương tôi. (x. Gioan 13, 34).

Từ đó, Đức cố TGM Phaolô nhắn nhủ tôi là. Dù tình hình sẽ chuyển biến xấu đi và mau lẹ, trở thành nguy hiểm, thì tinh thần tỉnh thức và cầu nguyện luôn phải vững vàng bám chặt vào Chúa Giêsu Kitô, vâng lời Ngài, mà sống yêu thương như Ngài đã yêu thương.

11. Đức Cố TGM Phaolô đã sống và đã chết trong ân sủng và lòng thương xót Chúa. Ngài không tự hào vì những gì khác.

Đó chính là chứng nhân của tỉnh thức và cầu nguyện.

12. Tôi có cảm tưởng là sẽ có một lúc, tình hình trở nên tang tóc, đến nỗi tôi cũng sẽ thốt lên như Chúa Giêsu xưa: “Cha ơi, sao Cha nỡ bỏ rơi con” (Mc 15, 34). Nhưng chính lúc đó, tôi rất cần có một đức tin khiêm nhường phó thác, để nói như Chúa Giêsu: “Cha ơi, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23, 46).

Nghĩa là tôi chỉ trông cậy vào ân sủng và lòng thương xót Chúa mà thôi.

13. Tâm thư mà Chúa gửi cho tôi qua cái chết của Đức Cố TGM Phaolô Bùi Văn Đọc là như thế. Ít là lúc này, tôi đọc qua, thì thấy vậy. Có thể khi đọc kỹ, sẽ thấy thêm.

14. Những năm tháng gần đây, tôi hay gọi điện thoại cho Đức Cố TGM. Khi trả lời, bao giờ Đức Cố TGM cũng bắt đầu bằng câu: “Thưa Đức cha, con đây”. Giờ đây, tôi cũng đang gọi ngài. Ngài cũng đang trả lời, nhưng bằng cách khác. Rồi đây tôi còn sẽ gọi ngài. Mong ngài cũng sẽ trả lời, bằng cách nào mà Chúa cho phép.

Tôi coi tất cả đều là do ân sủng và lòng thương xót Chúa.

15. Đức Cố TGM Phaolô Bùi Văn Đọc đã chết như một người yếu đuối, tại nhà thờ Thánh Phaolô. Tự nhiên, tôi nhớ lại lời Thánh Phaolô xưa: “Tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi. Vì vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối…Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh" (2Cr 12, 9- 10).

Long Xuyên, ngày 7.3.2018

+ Gm. Gioan Baotixita BÙI TUẦN

Sunday, February 25, 2018

Lẽ Sống - Dân Thành Athènes

(Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu Radio Veritas Asia)

25 Tháng Hai

Dân Thành Athènes

Ngày kia, triết gia Esopos người Hy Lạp ngồi bên vệ đường trước cổng thành Ethènes. Một người khách lạ tình cờ đi qua dừng lại hỏi ông như sau: "Dân thành Athènes như thế nào?".

Triết gia bèn trả lời: "Xin ông cho tôi biết ông đến từ đâu và dân tình ở đó như thế nào?". Người khách lạ nhíu mày cằn nhằn: "Tôi đến từ Argos và dân Argos toàn là một lũ người láo khoét, trộm cắp, cãi cọ suốt ngày".

Một cách bình thản, triết gia Esopos mỉm cười đáp: "Tôi rất lấy làm buồn để báo cho ông biết rằng rồi ra ông sẽ thấy dân thành Athènes còn tệ hơn thế nữa".

Ngày hôm sau, một người khách lạ khác đi qua và cũng dừng lại đặt một câu hỏi: "Dân thành Athènes như thế nào?". Người khách lạ ấy cũng cho biết mình đến từ Argos là nơi mà ông cho là quê hương yêu dấu mà ông buộc lòng phải rời xa, bởi vì dân chúng Argos là những người rất dễ thương, dễ mến...

Lần này, triết gia Esopos cũng biểu đồng tình với người khách lạ như sau: "Này ông bạn đáng mến, tôi rất vui mừng cho ông biết rằng ông sẽ nhận thấy dân thành Athènes cũng dễ thương dễ mến như thế".

Câu chuyện mang tính cách ngụ ngôn trên đây muốn nói với chúng ta rằng cách thẩm định người khác tùy thuộc ở tình cảm của mỗi người. Cùng một con người ấy, cùng một khung cảnh ấy, nhưng có người ưa, có kẻ chê. Sự khác biệt trong cách thẩm định ấy thường không nằm trong người khác hoặc cảnh vật khác, mà chính là ở tâm trạng của mỗi người. Thi sĩ Nguyễn Du đã có lý khi bảo rằng: "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ".

Người Kitô chúng ta luôn được mời gọi để có cái nhìn lạc quan về các biến cố và con người, nghĩa là chúng ta được mời gọi để luôn có cái nhìn tích cực về người khác và các biến cố. Một thất bại rủi ro xảy đến ư? Người Kitô hãy cố gắng khám phá ra những đường nét dễ thương dễ mến trong khuôn mặt, trong cách cư xử của người đó. Chúng ta hãy làm như loài ong: từ giữa bao nhiêu vị đắng cay của cánh hoa, loài ong chỉ rút ra toàn mật ngọt...

Ðức cố Giáo Hoàng Gioan 23 đã ghi trong nhật ký của Ngài như sau: "Do bản chất, tôi vui vẻ và sẵn sàng chỉ thấy những khía cạnh tốt đẹp của sự vật và con người hơn là phê bình chỉ trích và đưa ra những phán đoán độc hại... Mỗi một cử chỉ khiếm nhã đối với bất cứ ai, nhất là những người nghèo hèn, thấp kém, hoặc bất cứ một chỉ trích phá hoại nào, đều làm cho tôi đau lòng".

(Nguồn: http://vntaiwan.catholic.org.tw/lesong/25lesong2.htm)

Sunday, February 11, 2018

Lẽ Sống - Ðức Mẹ Lộ Ðức

(Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu Radio Veritas Asia)

11 Tháng Hai

Ðức Mẹ Lộ Ðức

Buổi sáng ngày 11 tháng 2 năm 1858 tại Lộ Ðức, một thị trấn nhỏ nằm ở miền Nam nước Pháp, trời lạnh như cắt. Cô Bernadette Soubirous cùng với hai người em khác tự nguyện ra phía rừng cạnh bờ sông Gave để nhặt củi. Bernadette vừa lên 15 tuổi. Nhưng cô chưa biết đọc và biết viết. Cô vừa mới cắp sách đến trường của các sơ được một thời gian ngắn để học tiếng Pháp, bởi vì trong miền cô đang ở, mọi người đều nói một thứ thổ ngữ khác với tiếng Pháp. Hôm đó là ngày thứ năm, cô được nghỉ học. Mặc dù bệnh suyễn đang hoành hành, nhưng nghĩ đến cảnh nghèo túng của gia đình, nên Bernadette đã xin phép mẹ được đi nhặt củi.

Bình thường theo dọc bờ sông Gave, có rất nhiều cành cây khô. Nhưng suốt buổi sáng thứ năm đó, dường như chị em của Bernadette không nhặt được bao nhiêu. Bernadette mới lần mò tiến về một hang động gần đó mà dân làng có thói quen gọi là Massabielle. Cô đang loay hoay với công việc nhặt củi, thì kìa từ trong hang: một thiếu nữ cực kỳ diễm lệ xuất hiện. Theo lời mô tả của Bernadette, thì người thiếu nữ chỉ trạc độ 16, 17 tuổi. Bernadette tưởng mình như đang mơ. Cô bước thêm bước nữa. Người thiếu nữ cực kỳ diễm lệ đó chỉ mỉm cười.

Trong cơn xúc động bồi hồi, như một cái máy, Bernadette đã lôi tràng hạt từ trong túi áo ra và cô bắt đầu đọc kinh Kính Mừng trong ngôn ngữ quen thuộc của cô. Trong ánh sáng chan hòa giữa mùa đông vẫn còn lạnh đó, người thiếu nữ chỉ mỉm cười. Khi Bernadette vừa lần xong chuỗi mân côi, người thiếu nữ làm dấu cho cô tiến lại gần hơn. Nụ cười vẫn chưa tắt trên môi người thiếu nữ. Bernadette say sưa ngắm nhìn và tiếp tục đọc kinh cho đến khi ánh sáng bao trùm người thiếu nữ nhạt dần và tắt hẳn...

Ba ngày sau đó, sau khi đã có những tiếng xì xầm về hiện tượng lạ đó, bà mẹ của Bernadette nghiêm cấm không cho con gái mình trở lại hang Massabielle nữa. Nhưng do một sự thúc đẩy không thể cưỡng bách được, Bernadette đã trở lại chỗ cũ cùng với mấy chị em của cô. Lần này, khi người thiếu nữ mặc áo trắng xuất hiện Bernadette đã mạnh dạn hô lớn: "Nếu người đến từ Thiên Chúa, xin người hãy ở lại". Người thiếu nữ mỉm cười gật đầu. Ðây là lần thứ hai người áo trắng hiện ra với cô. Lần thứ ba cũng xảy ra như thế vào ngày 18 tháng 2 và liên tiếp trong vòng 15 ngày, Bernadette đã được diễm phúc gặp Ðức Maria hiện ra và tỏ lộ cho cô một danh tánh vô cùng kỳ lạ: "Ta là Ðấng Vô Nhiễm Nguyên Tội".

Từ nơi cô đang quỳ cầu nguyện mỗi khi Ðức Mẹ hiện ra, một dòng suối nhỏ đã vọt lên có sức chữa trị mọi tật bệnh.

Ðó là nguồn gốc của hang Ðức Mẹ Lộ Ðức. Ngày nay, từng giờ từng phút, khách hành hương từ khắp nơi trên thế giới tuôn đến để cầu nguyện và xin ơn. Ðến đó, dù tin hay không tin, mọi người đều cảm thấy có một sức mạnh lạ lùng lôi kéo để đốt lên một ngọn nến và quỳ gối cầu nguyện.

Hiện nay, khắp nơi trên thế giới, đều có những hang Lộ Ðức được thiết kế một cách tương tự để nhắc nhớ biến cố này cũng như kêu gọi lòng tôn sùng Mẫu Tâm.

Nhưng có lẽ ai trong chúng ta cũng có một lần mơ ước đến tận nơi để cầu nguyện. Mẹ Maria đã không hiện ra với tất cả mọi người. Phép lạ cũng không hiện ra một cách tỏ tường với tất cả mọi người đến cầu khấn. Ðiều quan trọng không phải là hành hương đến tận nơi Thánh, nhưng chính là sứ điệp mà Mẹ muốn nhắn gửi với chúng ta qua những người được diễm phúc thấy Mẹ hiện ra. Sứ điệp đó vẫn luôn luôn là hy sinh, là phục vụ và nhất là cầu nguyện.

Lẽ Sống - Vị Vua Thứ Tư

(Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu Radio Veritas Asia)

6 tháng Giêng

Vị Vua Thứ Tư

Hôm nay lễ Ba Vua. Phúc Âm chỉ nhắc đến ba vị vua. Thế nhưng văn sĩ Joergernen người Ðan Mạch thì lại tưởng tượng ra một vị vua thứ tư. Vị vua thứ tư này đến chầu Chúa Giêsu sau ba vị vua khác. Triều bái Hài Nhi Giêsu nhưng mặt ông tiu nghỉu bởi vì ông không còn gì để dâng tặng Ngài.

Trước khi lên đường, ông chọn ba viên ngọc quý nhất trong kho tàng của ông, thế những dọc đường gặp bất cứ ai xin, ông cũng mang ra tặng hết. Người thứ nhất mà ông đã gặp là một cụ già rét run vì lạnh. Ðộng lòng trắc ẩn, ông đã tặng cho cụ viên ngọc thứ nhất. Ði thêm một đoạn đường nữa, ông gặp một toán lính đang làm nhục một cô gái. Ông đành mang viên ngọc thứ hai ra thương lượng với chúng để chuộc lại cô gái. Cuối cùng khi tiến vào địa hạt Bêlem, ông gặp một người lính do vua Herôđê sai đi để tàn sát các hài nhi trong một ngôi làng lân cận. Vị vua thứ tư đành phải rút ra viên ngọc cuối cùng để tặng cho người lính và thuyết phục anh từ bỏ ý định gian ác.

Tìm được Hài Nhi Giêsu, vị vua thứ tư chỉ còn hai bàn tay trắng. Ông bối rối kể lại cuộc hành trình của mình.
Nghe xong câu chuyện, Hài Nhi Giêsu mỉm cười đưa bàn tay bé nhỏ ra đón nhận quà tặng của ông. Nó không phải là vàng bạc châu báu, nhưng là tấm lòng vàng được dệt bằng những nghĩa cử đối với tha nhân, nhất là những người túng thiếu, đói khổ, những người cần giúp đỡ.

Mùa Giáng Sinh là mùa của những bất ngờ. Bất ngờ của một Thiên Chúa hóa thân làm người. Bất ngờ của một thiên Chúa giáng hạ trong hang súc vật. Bất ngờ sự việc những người nghèo hèn nhất trong xã hội đã nhận ra Tin Mừng. Bất ngờ của những người dân ngoại tìm đến triều bái Vua các vua. Nhưng điều khiến con người sẽ không bao giờ ngờ đến: đó là Ðấng Thiên Chúa hóa thân làm người ấy lại tự đồng hóa với mỗi một con người sinh ra trên cõi đời này, nhất là những con người bé mọn nhất trong xã hội. Ngài đã nói: tất cả những gì các người làm cho một trong những kẻ bé mọn nhất là các người làm cho chính Ta. Từ đây, người ta chỉ có thể gặp gỡ được Ngài qua tha nhân. Tất cả những gì người ta làm cho tha nhân là làm cho chính Ngài. Lễ dâng làm đẹp lòng Ngài nhất chính là những gì người ta trao tặng cho tha nhân, nhất là những người nghèo hèn túng thiếu hay bất cứ ai cần sự giúp đỡ.

Sunday, February 4, 2018

Một Luật Sư Quận Cam trở thành Linh Mục

Linh mục Trần Đình Văn Quân - Linh mục Công giáo thuộc Giáo phận Orange, California

Tôi làm Luật sư gần 12 năm và 10 năm trong số đó tôi làm Phó Biện lý Quận Cam ở California. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ trở thành một linh mục! Nhưng Chúa đã biết cả trước khi tôi chào đời và đã cho tôi được làm linh mục. Tôi đã phải trải nghiệm cuộc sống, hẹn hò, và làm việc trước khi sẵn sàng để nghe và đáp trả lời mời gọi của Người.

Sự quan phòng của Chúa đã làm việc trong ơn gọi của tôi trước khi tôi sinh ra. Khi ông nội tôi được mười hai tuổi, có một chuyện xảy ra đã làm thay đổi tất cả. Bà cố nội của tôi bệnh rất nặng và các bác sĩ đã không có hy vọng. Một ngày kia, khi ông cố nội của tôi đang đi bộ về nhà sau khi thăm bà trong bệnh viện, ông đi ngang qua Nhà thờ Công giáo Thánh Giuse. Mặc dù không phải là người Công giáo, nhưng vì tuyệt vọng, ông bước tới trước tượng của Thánh Giuse, ông quỳ xuống và bắt đầu cầu nguyện. Ông đã xin Thánh Giuse giúp vợ ông được bình phục. Ông hứa rằng nếu bà hồi phục, cả gia đình sẽ chuyển sang đạo Công giáo.

Đêm đó, ông bà cố nội tôi đã có cùng một giấc mơ. Họ đã mơ thấy một người đàn ông trông giống như Thánh Giuse đi vào phòng bệnh viện của bà, lấy đi ở phần bụng bà - bộ phận bị đau - và thay thế vào một cái mới. Buổi sáng hôm sau, bà đã được chữa khỏi hoàn toàn và các bác sĩ đã không thể tin được. Ông bà cố nội tôi chia sẻ giấc mơ họ đã có tối hôm trước và biết rằng qua Thánh Giuse bà cố nội tôi đã được chữa khỏi một cách kỳ diệu. Một thời gian ngắn sau đó, ông bà cố nội và ông nội của tôi đã chịu phép rửa tội theo đức tin Công giáo. Nếu không có phép lạ này, bây giờ gia đình tôi và tôi có thể không phải là người Công giáo!

Lớn lên, bà nội tôi là người sùng đạo nhất trong gia đình. Mặc dù bà chỉ theo đạo Công giáo khi bà kết hôn với ông nội tôi, nhưng chính bà lại là người duy trì việc thực hành đức tin sống động trong gia đình. Tôi đã gần bà khi lớn lên và bà đã dạy tôi làm Dấu Thánh Giá và những kinh cầu nguyện căn bản của Giáo hội như kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng, kinh Sáng Danh và kinh Ăn năn tội. Bà đã dạy tôi cách xưng tội và lãnh nhận Bí tích Thánh Thể. Bà nội tôi đã góp phần trong sự hình thành đức tin của tôi.

Mẹ tôi cũng đã theo đạo khi kết hôn với cha tôi. Lớn lên, chúng tôi là những người Công giáo “lãnh đạm”. Chúng tôi đã đến dự Thánh lễ Chúa nhật và nhận tất cả các bí tích căn bản - chủ yếu bởi vì sự khăng khăng của bà nội tôi. Trong gia đình tôi, tôi chưa bao giờ nghe có ai nói về một ơn gọi có thể có như chức linh mục hay đời sống tu sĩ. Thay vào đó lại nhấn mạnh về trình độ học vấn cao, có việc làm tốt với mức lương cao và có địa vị nữa.

Trong khi học Đại học, tôi không còn đi dự Lễ nữa. Những điều thế gian như vui chơi và đạt điểm tốt đã trở thành sự quan tâm của tôi; đức tin không phải là một ưu tiên. Điều này tiếp tục tiếp diễn khi tôi đang ở trường luật và cả khi tôi làm luật sư. Trong quá trình lược lại, tôi quyết định đi học tại trường luật. Tôi đã tốt nghiệp Cử nhân Quản trị Kinh doanh về Tài chính nhưng không hứng thú làm việc trong lĩnh vực này. Vì vậy bước tiếp theo hợp lý là để có được một MBA hoặc là đi học luật. Thế rồi tôi quyết định học về luật pháp vì tôi nghĩ rằng nó sẽ cho tôi nhiều lựa chọn hơn.

Công việc đầu tiên của tôi khi ra trường luật là luật sư biện lý công chúng ở Bakersfield. Đó là một kinh nghiệm tốt nhưng tôi biết tôi không muốn sống ở Bakersfield trong suốt quãng đời còn lại. Vì vậy, tôi đã nộp đơn lên Văn phòng Luật sư Công cộng và Văn phòng Luật sư Quận tại Quận Cam, nơi tôi đã lớn lên. Văn phòng của D.A. đã cho tôi một cuộc phỏng vấn và sau đó là một đề nghị tuyển dụng, và tôi đã chấp nhận. Năm 1997, chuyển về Quận Cam và bắt đầu sự nghiệp của tôi với tư cách là công tố viên; Tôi vẫn chưa thực hành đức tin của mình. Tôi mua một căn nhà, một chiếc xe BMW và đã hẹn hò. Tôi đang tìm kiếm một người ưng ý để kết hôn và bắt đầu một gia đình. Nhưng Chúa đã có những kế hoạch khác.

Mãi cho đến khoảng năm 2001 tôi mới bắt đầu trở lại đi dự Thánh lễ thường xuyên. Lý do là vì tôi đang hẹn hò với một phụ nữ Công giáo tốt bụng, cô ta muốn tôi đi lễ với cô vào Chúa nhật và tôi đã làm như vậy. Đây là khởi đầu của cuộc hành trình trở về với Chúa. Tôi đã biết rất ít là cuối cùng nó sẽ dẫn tôi đến đâu.

Chúng tôi đã hẹn hò trong vài tháng nhưng mọi thứ đã không kết quả và chúng tôi chia tay. Nhưng tôi vẫn tiếp tục đi dự Thánh lễ mỗi Chủ nhật. Tôi tiếp tục hẹn hò với hy vọng gặp được “người duy nhất.” Trong khi đó, Chúa đã sử dụng những người xung quanh tôi để hướng tôi đến với chính Người và cho ơn gọi đích thực của tôi. Chỉ sau đó tôi mới hiểu được ai thực sự là "người duy nhất" đối với tôi. Vào đầu năm 2005, tôi gặp một người phụ nữ ở trong giáo xứ và chúng tôi bắt đầu hò hẹn. Cô cũng là một người Công giáo tốt và cô giới thiệu tôi với chuỗi Mân côi, tham dự Thánh lễ hàng ngày và Chầu Thánh Thể. Cô khuyến khích tôi trở thành một Thừa tác viên Thánh Thể và sau đó là đọc sách Thánh. Tôi đã phát triển trong đức tin và thật sự thực hành nó.

Đồng thời, lúc đó tôi cũng đang trải qua một số khó khăn trong công việc. Điều này khiến tôi bắt đầu suy nghĩ về sự lựa chọn khác. Tôi nghĩ về việc tìm một việc làm khác hoặc thậm chí thay đổi nghề nghiệp, và tôi bắt đầu tìm kiếm... Tôi nhận ra rằng thực sự tôi không thích làm công tố viên hoặc luật sư vì bất cứ lý do nào. Tôi bắt đầu suy nghĩ để tìm ra những gì tôi thực sự muốn làm với cuộc đời của mình. Tôi muốn làm điều gì đó mà tôi thích và đam mê, nhưng không có gì là đúng cả.

Trong tuyệt vọng tôi quay sang cầu nguyện (như ông cố nội tôi). Với đức tin mới tìm thấy, tôi đã đến gần Chúa và hỏi Chúa cho tôi biết điều tôi phải làm là gì? Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi không có lựa chọn dự phòng nào; quá trình lược lại đã dẫn tôi đến ngõ cụt.

Ngay sau khi cầu nguyện, mọi thứ bắt đầu thay đổi. Người phụ nữ Công giáo mà tôi hẹn hò đã bất ngờ hỏi tôi một cách bâng quơ là có khi nào tôi nghĩ đến việc trở thành một phó tế vĩnh viễn không? Tôi nói với cô ấy rằng tôi chưa bao giờ thực sự nghĩ tới việc trở thành một phó tế. Thậm chí tôi không biết phải làm gì để trở thành một phó tế, nhưng có lẽ nó đòi hỏi phải trở lại trường để học thêm, và tại thời điểm đó trong cuộc đời, tôi không hề muốn trở lại trường học. Nhưng hạt giống đã được gieo!

Không bao lâu sau, ba người khác hỏi tôi có khi nào tôi nghĩ đến việc trở thành một linh mục hay thầy phó tế không? Cho đến thời điểm này trong cuộc đời của tôi, không một ai đã từng hỏi tôi những câu hỏi như vậy. Tôi thấy rất tò mò vì trong vòng một tháng, sau khi tôi cầu nguyện, xin Chúa tiết lộ kế hoạch của Người cho tôi, bốn người khác nhau đã hỏi tôi xem tôi đã từng xem xét về chức linh mục hay thầy phó tế vĩnh viễn không? Tôi chưa bao giờ nghĩ đến ơn gọi và không biết phải làm gì để trở thành một phó tế hay một linh mục. Vì vậy, tôi bắt đầu kiếm trên mạng lưới để tìm hiểu thêm thông tin và tôi thấy mình như bị lôi cuốn về chức linh mục. Tôi thực sự không thể giải thích tại sao. Cảm giác này về chức linh mục là điều tôi đang tìm kiếm và đó là điều tôi muốn làm. Tôi càng suy nghĩ nhiều hơn về chức linh mục, thì nó càng cho tôi cảm giác bình an, niềm vui và có ý nghĩa. Tôi có cảm giác rằng đây chính là câu trả lời cho lời cầu nguyện của tôi.

Tôi đã rất phấn khởi và sợ hãi cùng một lúc. Có một cái gì đó mới lạ, một điều mà tôi chưa bao giờ nghĩ đến trước đó. Nhưng sự cam kết và thay đổi trong đời sống thì rất lớn. Từ bỏ nghề luật là một chuyện, còn một điều khác nữa để từ bỏ, đó là khả năng không bao giờ có vợ và gia đình. Tôi luôn nghĩ rằng mình sẽ tìm được đúng người, kết hôn và có gia đình. Độc thân không phải là điều dự tính của phương trình! Nhưng còn về chức phó tế thì sao? Nó cho phép tôi được kết hôn, có gia đình và trở thành phó tế cùng một lúc. Nhưng chức phó tế vĩnh viễn thì không bao giờ nghĩ tới. Tôi sẽ dâng cuộc sống của tôi cho Chúa hoàn toàn như là một linh mục hoặc lập gia đình; không có lựa chọn nào khác!

Tôi tiếp tục cầu nguyện và nhận ra ý Chúa cho tôi. Một ngày kia đang quỳ sau khi rước lễ và nhìn lên thánh giá, tôi có thể nghe thấy Chúa Giêsu đang nói trong tâm trí và trái tim tôi, Người kêu tôi bỏ tất cả mọi thứ và theo Người. Một phần của tôi muốn nói “Vâng, Chúa Giêsu, con sẽ từ bỏ tất cả mọi thứ để theo Chúa. Nhưng một phần khác vẫn chưa sẵn sàng, vì vậy tôi cầu nguyện: “Chúa Giêsu ơi, nếu Chúa muốn con theo Chúa, thì Chúa phải giúp con bỏ mọi thứ vì con không thể làm điều đó một mình được. Nếu Chúa muốn, Chúa phải làm cho nó xảy ra.”

Sáng hôm sau tôi thức dậy với bài hát này trong đầu: Everything I Own by Bread. Tôi đã lên trang mạng, in lời bài hát và đọc chúng. Bài hát này nói về một người mất cha và mong muốn cha mình vẫn còn sống. Nhưng đối với tôi, lời bài hát là cách Chúa nói với tôi rằng tôi có thể từ bỏ tất cả mọi thứ cho Người, nếu tôi không làm bây giờ thì cơ hội sẽ không còn và có thể tôi sẽ hối tiếc về điều đó:

Cha đã che chở con khỏi mọi điều tổn hại
Giữ cho con ấm, giữ cho con ấm
Cha đã cho con cuộc sống của con
Cho con tự do, cho con tự do
Những năm đẹp nhất mà con có
Là những năm con đã có với cha

Và con sẽ bỏ hết tất cả những gì con có
Bỏ cuộc sống, trái tim, nhà cửa của con
Con sẽ bỏ hết tất cả những gì con có
Chỉ để có Cha một lần nữa

Cha đã dạy con biết yêu
Nó là gì, nó là gì
Cha không bao giờ nói quá nhiều
Nhưng cha vẫn chỉ ra cách
Và con đã biết khi con quan sát cha
Không ai khác có thể biết được
Một phần của con không thể buông thả

Và con sẽ bỏ hết tất cả những gì con có
Bỏ cuộc sống, trái tim, nhà cửa của con
Con sẽ bỏ hết tất cả những gì con có
Chỉ để có Cha một lần nữa

Có ai đó mà bạn biết
Và bạn đang thương họ
Nhưng bạn cũng đã đang coi thường họ
Bạn có thể mất họ một ngày
Một ai đó sẽ mang họ đi
Và họ sẽ không nghe được những lời bạn muốn nói

Và con sẽ bỏ hết tất cả những gì con có
Bỏ cuộc sống, trái tim, nhà cửa của con
Con sẽ bỏ hết tất cả những gì con có
Chỉ để có Cha một lần nữa
Chỉ để chạm vào Cha một lần nữa

Đây chỉ là một trong nhiều sự kiện mà Chúa đã tỏ cho tôi biết ơn gọi của mình.

Vào mùa thu năm 2005, tôi dự khoá tĩnh tâm Cursillo tại Trung tâm Mục vụ Marywood ở Orange và nó rất mạnh mẽ! Suốt cuối tuần đó, tôi cảm nhận tình yêu và ân sủng đầy quyền năng, đặc biệt là tình yêu của Mẹ Maria. Tôi đã bị cuốn hút đến Mẹ Maria hơn bao giờ hết. Tôi không thể ngừng nhìn vào ảnh của Mẹ. Lời xin vâng của Mẹ Maria cứ lẩn quẩn trong tôi: "Này tôi là nữ tỳ của Chúa. Xin làm cho tôi theo lời của Ngài.” Không nghi ngờ gì, Mẹ Maria đã đóng một vai trò rất lớn trong khi tôi biện phân ơn gọi của mình.

Trong khóa tĩnh tâm, có ai đó đã nói với tôi về một giáo xứ được điều hành bởi dòng ‘the Oblate of the Virgin Mary.’ Tôi bắt đầu tham gia giáo xứ đó và rất có ấn tượng với vị linh mục này. Lời giảng của Ngài rõ ràng và đầy quyền năng, theo tôi chưa bao giờ cảm nghiệm trước đây. Vị linh mục đó đã trở thành người hướng dẫn tâm linh của tôi.

Trong thời gian biện phân, tôi đã gặp một người phụ nữ khác. Tôi đã nói với cô ấy ngay lập tức rằng tôi đang có ý định làm linh mục, để cho cô ấy biết trước. Cô là người Công giáo, đầy tài năng và hấp dẫn. Trên thực tế, tôi nghĩ cô ấy có tất cả những phẩm chất mà tôi mong muốn ở một người vợ. Cô ấy cũng phát triển tình cảm với tôi. Tôi không hiểu tại sao cô ấy đã bước vào cuộc đời tôi vào thời điểm này. Nếu tôi gặp cô ấy sáu tháng trước, tôi có thể đã nhìn thấy phần đời còn lại của tôi với cô ấy. Nhưng bây giờ không phải là thời điểm tốt. Qua cầu nguyện, tuy nhiên, tôi cảm nhận được Chúa cho tôi một sự lựa chọn có ý thức. Đây là người phụ nữ mà tôi có thể lập gia đình, hoặc tôi có thể chọn Người. Nếu tôi chọn cô ấy, Chúa cũng sẽ chúc phúc cho cuộc hôn nhân của tôi, nhưng Người đã gọi tôi chọn Người. Với ân sủng của Thiên Chúa, tôi đã có thể chọn Người. Chúa cho tôi cơ hội này để tôi đưa ra một quyết định có ý thức bởi vì Người không muốn sau này tôi suy nghĩ: “Chuyện gì xảy ra nếu tôi gặp đúng người?" Chúa muốn tôi chắc chắn về ơn gọi của mình.

Vào mùa hè năm 2006, tôi đã yêu cầu và nhận được một năm nghỉ việc để thử ơn gọi mới của tôi bằng cách vào chủng viện. Các đồng nghiệp của tôi rất ngạc nhiên. Nhiều người nghĩ rằng tôi đã đang trải qua một "giai đoạn" và rằng tôi sẽ trở lại trong vòng chưa đầy một năm.

Gia đình tôi cũng rất ngạc nhiên. Bố tôi, đang sống ở Denver, đã bay tới Quận Cam vào ngày hôm sau để nói chuyện với tôi và xem tôi có đang gặp phải bất kỳ vấn đề gì không. Ông cùng với nhiều người khác trong gia đình, nghĩ rằng tôi đã mắc phải sai lầm lớn; họ không thể hiểu được tại sao tôi lại biện phân về chức linh mục và nghĩ rằng tôi đã vứt đi cuộc đời của mình.

Việc chuyển đổi từ một luật sư sang chủng sinh không phải là dễ dàng. Tôi đã bán nhà, bán xe và bỏ hầu hết tài sản của mình. Từ bỏ những điều này không phải là khó khăn. Điều khó nhất là bỏ mấy con chó của tôi. Tôi có bốn con chó và tôi phải tìm nhà cho nó. Thật là đau lòng, nhưng Chúa đã ban cho tôi ân sủng để cho nó đến những gia đình tốt. Những người chủ mới đã rất tốt, họ email và cập nhật hình ảnh cho tôi và tôi có thể đến thăm bất cứ lúc nào.

Vào năm 2006, tôi tham gia vào dòng ‘the Oblates of the Virgin Mary’ như là một dự sĩ tại chủng viện của họ ở Boston và bắt đầu học triết học. Đó là một trải nghiệm mới và đầy thách thức đối với tôi. Tôi đã là một luật sư với nhà riêng và xe của mình, tôi có thể đến và đi lúc nào tôi muốn. Bây giờ tôi phải sống với một cộng đoàn tôn giáo nhỏ và phải làm hầu hết mọi thứ cùng với năm chủng sinh khác: ăn, cầu nguyện, học tập, dọn dẹp, giải trí, vv... Thật khó! Nhưng với sự trợ giúp của Chúa, tôi đã ở được một năm. Vào cuối năm tôi đã nhận ra rằng cuộc sống tôn giáo hoặc ít nhất là dòng ‘the Oblates of the Virgin Mary’ có lẽ không phải cho tôi. Tôi trở lại Quận Cam không biết mình sẽ làm gì tiếp theo. Nhưng có một điều chắc chắn - tôi không muốn là một D.A. nữa. Tôi nộp đơn từ chức, trả lại huy hiệu và I.D. Tôi thấy bình an với quyết định này.

Nhưng bây giờ làm gì? Tôi tìm kiếm lời khuyên của một người hướng dẫn tâm linh mới, một Norbertine. Ông đề nghị tôi thử Giáo phận Orange trước khi từ bỏ ý định làm linh mục và trở lại "thế giới thực tại.” Vì vậy tôi đã gia nhập Giáo phận Orange và được cử đi học thần học tại Chủng viện Thánh Patrick ở Menlo Park, California . Ngay lập tức tôi nhận thấy một sự khác biệt lớn từ cuộc sống tôn giáo ở Boston. Có nhiều chủng sinh hơn và tôi có nhiều quyền tự do hơn để lựa và chọn, làm thế nào và với ai khi dùng thời gian rảnh của mình. Càng ngày tôi càng cảm thấy tôi đã tìm được ơn gọi của mình. Vào cuối năm đầu tiên của thần học, Đức Giám Mục Orange đã cho tôi một sự lựa chọn: ở lại St. Patrick học hoặc đi đến Trường cao đẳng Bắc Mỹ ở Rome. Tôi đã chọn Rome.

Rome cũng là một thách thức vì là một quốc gia khác, với một nền văn hoá và ngôn ngữ khác biệt, xa với sự quen thuộc và thoải mái ở nhà. Nhưng đó cũng là một kinh nghiệm tuyệt vời cho phép tôi hoà đồng với nhiều chủng sinh và linh mục có năng khiếu từ khắp nơi trên nước Mỹ (và thế giới nói chung). Tôi cũng có cơ hội trải nghiệm những kỳ quan của Rome và các vùng khác nhau của Châu Âu. Điều quan trọng nhất là khi tôi tiếp tục học tập và đào tạo, nó trở nên rõ ràng và rõ ràng hơn rằng linh mục là ơn gọi của tôi.

Vào ngày 10 tháng 7 năm 2010, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, tôi được làm thầy phó tế chuyển tiếp của Giáo phận Orange. Nhiều gia đình, bạn bè đã có mặt và tôi đã thuyết giảng Thánh lễ đầu tiên của tôi như một Thầy phó tế vào Chúa nhật Lễ Hiện Xuống. Cuối tuần đó thật đầy ân sủng! Thật khó để tin rằng bốn năm trước đó, tôi đã là một luật sư cố gắng bỏ mọi thứ và theo Chúa Kitô. Gia đình, bạn bè của tôi đã hãnh diện về tôi. Mùa hè tiếp theo, vào ngày 11 tháng 6 năm 2011, tôi được Thụ phong Linh mục. Tôi đã trở lại Rome để hoàn tất chương trình Licentiate in Sacred Theology trước khi trở về nhà trong năm 2012. Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là tại nhà thờ Our Lady of Mount Carmel ở Newport Beach, và năm đầu tiên làm linh mục phó xứ là một phần thưởng và kinh nghiệm cho tôi.

Tôi không chắc chính xác kế hoạch của Chúa dành cho tôi như thế nào. Nhưng dù sao, tôi biết rằng nó tốt hơn bất cứ kế hoạch nào tôi có thể làm cho bản thân mình. Tôi đã giao phó ơn gọi của mình cho Mẹ Maria, tin tưởng vào sự chăm sóc của Mẹ và cố gắng để nên giống Mẹ. Biết rằng sẽ có những thử thách phía trước và tôi cố gắng chấp nhận làm theo ý Chúa mỗi ngày. Tôi giữ những lời sau đây của Mẹ Têrêxa gần với tôi để nhắc nhở tôi tin tưởng Chúa mọi lúc:

"Hoàn toàn đầu phục cho Chúa phải đi từ những chi tiết nhỏ đến những chi tiết lớn, chẳng có gì ngoài một từ duy nhất: ‘Vâng! Con chấp nhận những gì Chúa cho, và con cho những gì Chúa muốn.’ Và đây chính là cách đơn giản để chúng ta nên thánh. Không nên tạo ra khó khăn trong tâm trí mình. Để thánh thiện không có nghĩa là làm những điều phi thường, hiểu những điều lớn lao, nhưng đơn giản là chấp nhận, bởi vì tôi đã dâng mình cho Chúa, tôi thuộc về Người - tôi phó thác tất cả!

Linh mục Quân hiện là Cha phó - Giáo xứ Chánh toà Chúa Kitô ở Garden Grove. Ngài cũng đang là Vị Đại diện Giám mục của Hiệp nhất Kitô giáo và Đối thoại Liên tôn thuộc Giáo phận Orange.

Sunday, January 28, 2018

Lẽ Sống - Chiếc Áo Rách

(Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu Radio Veritas Asia)

05 Tháng Giêng

Chiếc Áo Rách

Một linh sư ấn giáo nọ rất hài lòng về sự tiến bộ của người đệ tử. Nhận thấy rằng người đệ tử không cần đến sự dìu dắt của ông nữa, cho nên ông mới bỏ mặc anh trong túp lều tranh rách nát bên cạnh một bờ sông. Một buổi sáng, khi thức dậy, người đệ tử xuống dòng sông thanh tẩy theo đúng nghi thức, rồi giặt chiếc áo rách rưới của mình. Ðây là tài sản duy nhất của anh ta.

Ngày nọ, anh đau đớn vô cùng khi nhận ra chiếc áo phơi ở bờ sông đã bị chuột cắn tả tơi. Không còn cách nào nữa, người đệ tử đành phải vào làng gõ cửa để xin một chiếc áo khác. Cái áo lần nữa cũng bị chuột gặm nát. Anh mới xin được một con mèo. Lần này anh khỏi phải lo lắng về mấy con chuột nữa. Nhưng không xin áo mặc, thì người đệ tử cũng phải xin cơm, bánh mà thôi.

Ngày ngày phải vác bị đi khất thực, người đệ tử cảm thấy mình như một thứ gánh nặng đối với dân làng. Nghĩ thế, cho nên anh mới tìm cách tậu cho bằng được một con bò để lấy vốn làm ăn. Nhưng có bò thì cũng phải có cỏ cho bò ăn. Những ngày đầu, anh còn tự mình cắt cỏ cho bò ăn. Về lâu về dài, nhận thấy không còn thì giờ cho sự cầu nguyện nữa, cho nên anh đành phải thuê người cắt cỏ cho bò. Bò càng ngày càng sinh sản ra nhiều, người cắt cỏ cũng phải gia tăng. Không mấy chốc, mảnh đất xung quanh túp lều của anh đã biến thành một nông trại. Con người đã một thời muốn bỏ đi tất cả mọi sự để trở thành một tu sĩ nay nghiễm nhiên trở thành một chủ nông trại giàu có. Có tiền, có mọi sự, cho nên anh cũng muốn có người chia sẻ công việc của anh. Anh đành phải cưới vợ. Và không mấy chốc, anh đã trở thành một trong những chủ nông trại giàu có nhất trong làng.

Vài năm sau, khi có dịp trở lại thăm ngôi làng cũ, vị linh sư đã một thời dẫn dắt anh, ngạc nhiên vô cùng vì thay cho túp lều nghèo nàn bên bờ sông, nay là cả một cơ nghiệp đồ sộ. Dò hỏi được tung tích của người chủ nông trại, vị linh sư mới lên tiếng hỏi người đệ tử của mình: "Thế này nghĩa là gì hả con?". Người đệ tử mới trả lời: "Có lẽ thầy không tin. Nhưng tất cả cơ nghiệp này hiện hữu là cũng chỉ vì con đã không làm cách nào để giữ được chiếc áo rách".

Vì chén cơm manh áo, người ta có thể đánh mất lý tưởng của mình. Vì chén cơm manh áo, người ta có thể chà đạp phẩm giá của mình cũng như của người khác. Vì chén cơm manh áo, người ta có thể chối bỏ niềm tin của mình. Ðó là mối hiểm nguy mà bất cứ ai cũng có thể rơi vào.

Ðầu một Năm Mới, tiến thêm một bước trong cuộc hành trình đức tin, chúng ta hãy xin Chúa ban thêm sáng suốt để thấy được bậc thang giá trị trong cuộc sống của chúng ta. Xin Ngài ban thêm can đảm để trong khi mưu cầu của cải vật chất, chúng ta có đủ sức khước từ mọi hành động bất chánh, mọi thỏa hiệp với lừa đảo, gian trá. Xin Ngài ban thêm lòng quảng đại để chúng ta biết mở rộng quả tim và đôi bàn tay để chia sớt, để san sẻ với mọi người khốn khổ.

Lẽ Sống - "Trăm năm bia đá thì mòn, Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ"

(Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu Radio Veritas Asia)

04 Tháng Giêng

"Trăm năm bia đá thì mòn, 
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ"

Nhà độc tài nào sau khi ra đi cũng trở thành bia cho không biết bao nhiêu những lời đàm tiếu của thiên hạ. Năm 1986, người ta nói đến trên 3,000 đôi giày đã trở thành bảo tàng viện của bà Imelda Marcos, phu nhân của cựu tổng thống Phi Luật Tân, ông Ferdinand Marcos. Sau đó, người ta lại bàn tán về những đôi giày của bà Elena, vợ của nhà độc tài Ceaucescu bị hành quyết tại Rumani.

Khi vợ chồng của cựu tổng thống Marcos bị bắt buộc phải bỏ nước Phi, dân chúng đã tuôn đến dinh tổng thống như một ngày hội: họ đến đó chỉ để xót xa so sánh cái cảnh giàu sang quá mức của gia đình nhà độc tài với cái đói khổ mạt rệp của dân chúng. Người dân Phi nói rằng, trong 9 năm liền, bà Imelda Marcos chỉ có thể mang một đôi giày không quá 3 lần là cùng. Sau khi hành quyết vợ chồng Ceaucescu, người ta mới khám phá ra rằng căn nhà mà họ cho là bình thường của họ chính là một biệt thự sang trọng với 40 phòng khác nhau được trang trí bằng những bức tranh đắt giá, phòng tắm được khảm bằng vàng. Mỗi phòng đều có truyền hình và máy video.

Tài sản của ông Ceaucescu cũng không thua kém gì những của cải biển lận của ông Noriega, cựu tổng thống bị truất phế của Panama. Ông tướng này không chỉ có những căn nhà lộng lẫy trong nước, mà còn không biết bao nhiêu biệt thự tại Pháp và các nước khác. Máy bay và những chuyến du thuyền của ông không còn là những phương tiện để di chuyển, mà là cả một thú sưu tầm.

Không có một nhà độc tài nào mà không tham lam tiền của. Người ta nói đến hàng tỷ Ðôla của ông Marcos. Nhà độc tài của một nước nghèo nàn như Haiti cũng có đến 400 triệu Mỹ kim. Somoza, người bị lật đổ tại Nicaragua, thì có đến hàng trăm triệu Ðô la đầu tư vào những kinh doanh đồi trụy như đĩ điếm, cờ bạc. Cựu hoàng đế Pokassa của một nước nghèo nàn lạc hậu như Cộng Hòa Trung Phi bên Phi Châu, đã làm lễ đăng quang năm 1976 với một phí tổn là 20 triệu Mỹ kim. Và hiện nay, người ta ước tính tài sản của tổng thống Zaire là ông Mobutu Sese Seko lên đến gần 5 tỷ Mỹ kim.

Giá của những tài sản bất chính ấy thường giống nhau: một cuộc lưu vong nhục nhã, một cuộc chốn chạy không kèn không trống, một cuộc hành quyết dã man hay một cuộc sống trong lo sợ từng ngày và làm mục tiêu cho những oán ghét.

Mỗi dịp đầu năm, dường như ai cũng muốn làm một quyết tâm. 50% người Hoa Kỳ quyết tâm giảm thiểu sự ăn uống để gìn giữ sức khỏe.

Ðối với người Kitô chúng ta, sức khỏe tinh thần, sự cường tráng tâm linh có lẽ là điều quan trọng hơn cả. Quyết tâm của chúng ta phải là quyết tâm điều chỉnh lại sự lựa chọn cơ bản của chúng ta. Ðâu là cùng đích của cuộc sống chúng ta? Ðâu là lý tưởng của chúng ta? Ðâu là giá trị cao cả nhất trong cuộc sống của chúng ta? Tiền bạc và nhất là tiền bạc bất chính có đem lại hạnh phúc cho đời Người không?

Lẽ Sống - Bí Quyết Hạnh Phúc

(Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu Radio Veritas Asia)

03 Tháng Giêng

Bí Quyết Hạnh Phúc

Trong một chương trình truyền hình Mỹ, người ta phỏng vấn một cụ già, tuổi hạc rất cao. Người ta đặt câu hỏi như sau: "Thưa cụ, chắc cụ có một bí quyết đặc biệt để được hạnh phúc?"

Cụ già trả lời một cách đơn sơ như sau: "Không, tôi chẳng có bí quyết nào gọi là đặc biệt cả. Trái lại, nó rất đơn giản như chiếc mũi trên mặt ông vậy!". Cụ già giải thích như sau: "Mỗi buổi sáng mai, lúc thức dậy, tôi có hai điều chọn lựa, một là sống hạnh phúc, hai là sống bất hạnh. Ông nghĩ xem, tôi sẽ chọn điều nào? Dĩ nhiên tôi phải chọn được hạnh phúc".

Câu trả lời trên đây của cụ già thật đơn giản. Abraham Lincoln đã nói như sau: "Con người sở dĩ có được hạnh phúc, sung sướng hay không cũng tại lòng tưởng nghĩ như vậy". Bạn có thể hạnh phúc, nếu bạn muốn như thế. Ðó là điều dễ thực hiện nhất trên đời. Bạn hãy chọn lựa sự bất hạnh. Ði đến đâu bạn cũng than thân trách phận, chắc chắn bạn sẽ được như ý. Nhưng nếu lúc nào bạn cũng tự nhủ rằng: "Mọi việc đều tốt đẹp, đời vẫn đẹp và đáng sống. Tôi chọn sống hạnh phúc", thì chắc chắn bạn sẽ được điều bạn muốn.

Trẻ con rành về nghệ thuật sống hạnh phúc hơn người lớn. Trẻ em mang vào giấc ngủ của mình vô số những mộng mơ và chúng cũng thức giấc với vô số những mộng ước, trong đó cơ bản nhất vẫn là được vui chơi.

Người lớn mà có được một tinh thần như trẻ thơ lúc tráng niên và vào tuổi già, thì quả là một thiên tài, vì họ nắm được niềm hạnh phúc thật trong tâm hồn mà Chúa đã dành để cho tuổi thanh xuân. Chúa Giêsu quả là tế nhị khi Ngài nói với chúng ta rằng cần phải có tinh thần trẻ thơ thì mới vào được Nước Trời. Nước Trời là gì nếu không phải là được sống hoan lạc trong tình yêu thương của Chúa?