Sunday, September 23, 2018

Đức Thánh Cha: Hãy luôn nhớ nơi chúng ta được chọn

Trần Đỉnh, SJ - Vatican21 tháng chín 2018

Mát-thêu, người thu thuế, như vậy đã là một người thối nát, vì tiền mà phản bội đất nước. Tệ hơn nữa là một kẻ phản bội dân tộc mình. Ai đó có thể nghĩ rằng Chúa Giêsu không biết chọn người, vì theo Mát-thêu, Ngài đã chọn rất nhiều người khác bằng việc kêu gọi họ “từ chỗ bị khinh bỉ nhất.” Cũng thế, với người phụ nữ Samari và nhiều người tội lỗi khác, Ngài đã cắt đặt họ làm môn đệ.

Và trong đời sống Giáo Hội, rất nhiều Kitô hữu, rất nhiều vị thánh đã được chọn từ chỗ rốt cùng nhất… được chọn từ chỗ thấp hèn nhất. Kitô hữu chúng ta phải ý thức từ nơi đâu chúng ta được chọn, từ đâu mà anh hay chị được chọn làm Kitô hữu. Ý thức ấy cần phải kéo dài trong suốt cuộc đời, ở lại trong đó và nhớ tới tội lỗi của chúng ta, nhớ rằng Thiên Chúa đã xót thương tội lỗi của tôi và đã chọn tôi để là một Kitô hữu, để là một tông đồ.

Mát-thêu không quên nguồn gốc của mình

Rồi Đức Thánh Cha miêu tả phản ứng của thánh Mát-thêu đối với lời Chúa kêu gọi: ông không mặc đồ xa hoa, ông quan sát, ông không bắt đầu nói với những người khác rằng: tôi là hoàng tử của các Tông Đồ, ở đây tôi chỉ huy. Không! Ngài đã đã làm việc vì Tin Mừng trong suốt cuộc đời mình.

Khi vị tông đồ quên đi nguồn gốc của mình, và bắt đầu tranh thủ tiến thân, thì người ấy rời xa Chúa và trở thành một công chức; Có lẽ người ấy làm việc rất tốt, nhưng không phải là tông đồ. Người ấy sẽ không có khả năng thông truyền Chúa Giêsu; họ có thể là một chuyên gia của những chương trình mục vụ, của rất nhiều thứ; nhưng rốt cuộc, chỉ là một doanh nhân, một doanh nhân của Nước Thiên Chúa, bởi vì người ấy đã quên mình được chọn từ nơi đâu.

Chính vì thế việc nhớ lại nguồn gốc của chúng ta thật rất quan trọng và cần thiết: ký ức này phải đồng hành với cuộc sống của người tông đồ và của mỗi Kitô hữu.

Chúng ta thiếu quảng đại, nhưng Thiên Chúa thì không

Tuy nhiên, thay vì nhìn vào chính mình, chúng ta lại hay nhìn người khác, các lỗi lầm của họ, và nói xấu họ. Đây là một thói quen sẽ làm ta bệnh hoạn. Tốt hơn, hãy tố cáo chính mình, và nhớ rằng mình đã được Chúa chọn từ đâu, và đã đưa mình đến đây. Khi Chúa chọn, Ngài chọn vì một điều gì đó cao cả. Là Kitô hữu là một điều lớn lao, tốt đẹp. Chính chúng ta là những người xa rời chính mình và dừng lại ở nửa đường. Chúng ta thiếu sự quảng đại và chúng ta mặc cả với Chúa. Nhưng Ngài chờ đợi chúng ta.

Xì-căng-đan của các tiến sĩ Luật

Khi được gọi, thánh Mát-thêu bỏ tình yêu của mình, bỏ tiền tài để theo Chúa Giêsu. Và ngài đã mời những người bạn trong nhóm của mình đến dùng bữa tối để ăn mừng Thầy. Vì thế, ở bàn ăn Ngài đã ngồi với những kẻ tồi bại nhất trong những kẻ tồi bại trong xã hội thời ấy. Và Chúa Giêsu ở với họ.

Và các tiến sĩ Luật coi đó là gương mù gương xấu. Họ gọi các môn đệ lại và nói: “Tại sao Thầy của các anh lại làm điều đó, với lũ người này? Ngài bị ô uế!” Ăn uống với những người ô uế sẽ làm các anh trở thành ô uế, các anh không còn trong sạch nữa. Và Chúa Giêsu nói lời này lần thứ ba: 
hãy đi và học cho biết ý nghĩa của câu ta muốn lòng thương xót, chứ không cần lễ tế.” 

Lòng thương xót của Thiên Chúa tìm đến với mọi người, tha thứ cho tất cả. Chỉ thế thôi, ngài xin bạn nói rằng: “Vâng, xin giúp con.” Chỉ vậy thôi.

Mầu nhiệm lòng thương xót là trái tim của Thiên Chúa

Đối với những người cho là gương mù gương xấu, Chúa Giêsu trả lời rằng 
không ai khoẻ mà lại cần thầy thuốc, nhưng người đau yếu thì cần. 

Hãy hiểu lòng thương xót của Chúa là một mầu nhiệm, mầu nhiệm cao cả nhất, đẹp nhất là trái tim của Chúa. Nếu bạn muốn đi tới với con tim của Thiên Chúa, hãy đi theo con đường của lòng thương xót, và hãy để cho mình được đối xử với lòng xót thương.

(https://www.vaticannews.va/vi/pope-francis/mass-casa-santa-marta/2018-09/santamarta-210918-hay-luon-nho-noi-chung-ta-duoc-chon.html
https://www.vaticannews.va/en/pope-francis/mass-casa-santa-marta/2018-09/pope-francis-mass-santa-marta0.html)

Đức tổng GM Liverpool: tiếp tục loan báo Tin mừng giữa những khủng hoảng lạm dụng tính dục

Hồng Thủy - Vatican

Trong bài giảng Thánh lễ bế mạc đại hội Thánh Thể Anh quốc tại nhà thờ chính tòa Chúa Kitô Vua ở Liverpool hôm Chúa nhật 09/09, Đức cha Malcolm McMahon, tổng GM của Liverpool, nhìn nhận thiệt hại do các linh mục sai trái đã gây ra cho Giáo hội Công giáo trên toàn thế giới, nhưng Đức cha McMahon nói với các tín hữu rằng họ phải cố gắng rao giảng Tin mừng bằng cả lời nói và hành động.

Tiếp tục loan báo Tin mừng để người khác nhận ra Chúa Giêsu nơi chúng ta

Đức cha nói. “Như là một cộng đoàn Kitô, chúng ta có thể nói, vì những xì-căng-đan và các vấn đề mới đây trong Giáo hội, chúng ta không còn ngẩng cao đầu. Hãy cúi đầu ăn năn nhưng chúng ta nên đứng thẳng. Có lẽ lời nói và việc làm của chúng ta sẽ không có cùng quyền lực như trước đây và rao giảng Tin mừng sẽ thật khó khăn, nhưng Tin mừng vẫn phải được loan báo và không có ai làm điều này trừ chúng ta, những người tội lỗi khốn khổ.

Đức cha McMahon khuyến khích các tín hữu tiếp tục loan báo Tin mừng bằng hành động cũng như lời nói để người khác nhìn thấy Chúa Giêsu trong chúng ta – một Chúa Giêsu đang đau khổ, đang hấp hối và Chúa Giêsu phục sinh. Đức cha cũng nhấn mạnh điều cần thiết là các Kitô hữu tỏ cho người khác thấy “tình yêu và quyền năng chữa lành của Chúa qua Chúa Giêsu Kitô.

Khiêm nhường, thống hối về những sai trái trong Giáo hội
Trước đó, trong giờ chầu Thánh thể tối thứ bảy 08/09, ĐHY Vincent Nichols, Tổng GM Westminster và chủ tịch Hội đồng Giám mục Anh và xứ Wales, đã xin các tín hữu tha thứ về sự sai sót của hàng Giám mục.

ĐHY cũng nói rằng, bởi vì các xì-căng-đan, trong cuộc rước kiệu Thánh Thể vào trưa Chúa nhật, sẽ không có một tí sự chiến thắng hay hãnh diện nào trong các bước chân của các Giám mục. Cuộc rước kiệu Thánh Thể cách nào đó là cuộc rước đền tạ vì chúng ta quy hướng về Chúa Giêsu, Đấng chúng ta đã đóng đinh. Tuy thế, chúng ta bước đi với niềm vui khiêm nhường vì Chúa mang lấy thất bại, sự tàn bạo và lừa dối của chúng ta và chiến thắng tất cả những điều này bằng tình yêu và lòng thương xót của Người.

Làm chứng hùng hồn và trung thành cho Chúa Kitô

Hôm 08/09, ĐTC Phanxicô cũng gửi một sứ điệp cho các tín hữu tham dự đại hội Thánh Thể. Ngài khuyến khích các tín hữu tiếp bước các thánh tử đạo tiền nhân của Anh quốc, những người đã đổ máu đào làm chứng hùng hồn và trung thành cho Chúa Kitô được tôn kính trong Thánh Thể. ĐTC nói rằng đau khổ của các vị tử đạo Anh quốc và xứ Wales không nói quá nhiều về sự tàn bạo của con người, nhưng về sự thanh thản và sức mạnh nhờ ơn Chúa khi các ngài chịu xử án. ĐTC nhắc rằng trung thành với gia sản đức tin không chỉ là tưởng nhớ nhưng phải tiếp tục làm chứng cho cùng Chúa Kitô và cho cùng món quá quý giá là Thánh Thể ngày nay vì vinh quang quá khứ luôn luôn là một bắt đầu chứ không phải là một kết thúc.

Thánh lễ kết thúc đại hội Thánh Thể Anh quốc được cử hành trong nhà thờ chính tòa đông đầy người và sau đó, có thêm hàng ngàn người tham dự cuộc rước kiệu Thánh Thể kéo dài nửa giờ trên đường phố Liverpool, dù trời mưa lớn. Đây là cuộc rước kiệu Thánh Thể đầu tiên tại Anh sau 110 năm.

(https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2018-09/duc-cha-mcmahon-loan-bao-tin-mung.html)

Sunday, September 16, 2018

Chúng tôi vừa là Ki-tô hữu vừa là người đứng đầu

Mở đầu bài giảng của thánh Âu-tinh, giám mục, về các mục tử.

Anh em thân mến,

Đây không phải là lần đầu tiên anh em được nghe dạy rằng tất cả niềm hy vọng của chúng ta là ở nơi Chúa Ki-tô, chính Người là tất cả vinh quang đích thực và lành thánh của chúng ta. Anh em ở trong đoàn chiên của Đấng chăm sóc và nuôi dưỡng Ít-ra-en. Nhưng bởi vì có những mục tử chỉ muốn nghe người ta gọi mình là mục tử, mà không muốn chu toàn nhiệm vụ mục tử, nên chúng ta hãy duyệt lại xem Chúa nói gì với họ qua ngôn sứ Ê-dê-ki-en. Anh em hãy chú ý nghe, chúng ta hãy nghe với tất cả lòng kính sợ.

Có lời Đức Chúa phán với tôi rằng : Hỡi con người, hãy tuyên sấm hạch tội các mục tử Ít-ra-en và nói với họ. Chúng ta vừa nghe đọc bài này, nên chúng tôi quyết định nói đôi điều với anh em. Chính Chúa sẽ giúp chúng tôi nói những điều chân thật, nếu chúng tôi không nói theo ý mình. Vì nếu chúng tôi nói theo ý mình, thì chúng tôi sẽ là những mục tử chỉ nuôi mình chứ không nuôi chiên. Còn nếu chúng tôi nói những lời của Chúa, thì đó là chính Người nuôi anh em qua bất cứ ai. Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này : Khốn cho các mục tử Ít-ra-en, những kẻ chỉ biết lo cho mình ! Nào mục tử không phải chăn dắt đàn chiên sao ? Nói cách khác, mục tử không nuôi mình mà nuôi chiên. Lý do khiến các mục tử đó bị khiển trách là họ nuôi chính mình chứ không nuôi chiên. Những kẻ nuôi chính mình là ai ? Thánh Phao-lô tông đồ nói về họ như sau : Ai nấy đều tìm lợi ích cho mình, chứ không tìm lợi ích cho Đức Ki-tô Giê-su.

Do lòng Chúa đoái thương, chứ không vì công trạng của chúng tôi, Chúa đã đặt chúng tôi ở cương vị này, một cương vị đòi phải trả lẽ nghiêm ngặt. Chúng tôi thấy có hai điều cần phân biệt rõ ràng : một đàng chúng tôi là Ki-tô hữu, đàng khác chúng tôi là những người đứng đầu. Chúng tôi là Ki-tô hữu là vì mình, còn chúng tôi là người đứng đầu là vì anh em. Là Ki-tô hữu, chúng tôi lo cho lợi ích của mình ; là người đứng đầu, chúng tôi chỉ lo cho lợi ích của anh em.

Có nhiều người là Ki-tô hữu mà không phải là người đứng đầu : họ đến với Thiên Chúa qua một con đường có khi dễ dàng hơn và có lẽ thuận lợi hơn, vì mang ít hành lý hơn. Còn chúng tôi, nguyên một chuyện là Ki-tô hữu, chúng tôi đã phải trả lẽ với Thiên Chúa về đời sống của mình rồi, huống chi chúng tôi lại là những người đứng đầu, nên còn phải trả lẽ với Thiên Chúa về công việc quản lý của mình nữa.

(Bản dịch của NPD/CGKPV)

Saturday, September 8, 2018

“Do not answer fools according to their folly, lest you too become like them.” (Proverbs 26:4)

“Do not answer fools according to their folly, lest you too become like them.” (Proverbs 26:4, NABRE)

“Do not answer a fool in the terms of his folly for fear you grow like him yourself.” (Proverbs 26:4, NJB)

“Answer not a fool according to his folly, lest you be like him yourself.” (Proverbs 26:4, RSV-CE)

“Answer not a fool according to his folly, lest thou be made like him.” (Proverbs 26:4, Douay-Rheims)

“Do not answer a fool according to his folly, or you yourself will be just like him.” (Proverbs 26:4, NIV)

“Chớ dài dòng đối đáp ngu đần, kẻo lở ra mình giống như họ.” (Sách Châm Ngôn 26,4, Lm. Trần Đức Huân)

“Ðừng trả lời kẻ ngu xuẩn theo sự điên dại của nó, kẻ cả con nữa, con cũng nên giống nó.” (Sách Cách Ngôn 26:4, Lm. Nguyễn Thế Thuấn)

“Đừng đáp lại đứa ngu theo cái ngu của nó, kẻo chính con cũng lại giống nó thôi.” (Sách Châm Ngôn 26,4, PD/CGKPV)

Sunday, September 2, 2018

CHA THÁNH DAMIEN, TÔNG ĐỒ PHONG CÙI ĐẢO MOLOKAI

1. Quần đảo Hawai

Molokai là một trong tám hòn đảo lớn làm thành quần đảo Hawai nằm phía bắc Thái Bình Dương. Hawai là một trong 50 tiểu bang của Hoa Kỳ. Hawai rộng 16.600km2 với 1.106.000 dân. Người bản xứ là dân Polynésiens, hiện nay không tới 1,5. Đa số là người lai Nhật, dân Anglo-Saxon và Philippines. Thủ đô của Hawai la Honolulu.

Quần đảo Hawai nổi tiếng về núi phun lửa và bão táp thường xuyên. Nhiều lần quần đảo còn bị thay hình đổi dạng vì vụ động đất. Xét về lịch sử, thì quần đảo được dân Polyniésiens đến sinh sống từ thế kỷ V, và người Tây Phương khám phá ra là đại tá Kook, năm 1778 và ông đặt tên là ‘quần đảo sanwiche’. Nhưng sau một năm, ông bị người bản xứ giết chết. Từ đó quần đảo Hawai chia thành bốn tiểu quốc có hành chánh, quân đội riêng biệt. Đến năm 1795, vua Kamehameha I thống nhất quần đảo, tổ chức hành chánh, loại trừ các nhóm cướp bể gốc Tây Ban Nha. Đến đời Kamehameha ÌII tuyên bố nền độc lập của quần đảo Hawai, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng quân sự, kinh tế và tôn giáo của Anh và Pháp. Do đó, các nhà truyền giáo Pháp đến quần đảo từ năm 1827 và Tin lành Mormons tới năm 1850. Sau triều đại ‘độc đoán’ (absolutisme) của Kamehameha, dân chúng đòi chế độ dân chủ và xin sát nhập thành một tiểu bang của Hoa Kỳ năm 1898.

Về kinh tế, tiểu bang Hawai sống bằng nghề trồng mía, cà phê, dứa, hoa và nghề đánh cá, nghề chăn nuôi và sản xuất quần áo. Riêng đảo Molokai là đảo lớn nằm giữa quần đảo Hawai, được chọn như một địa điểm giam các tù nhân trọng tội bị lưu đầy và những bệnh nhân phong cùi vào thời ‘hết thuốc chữa’ phải sống tách biệt… Chính tại đảo này mà cha Damien được sai đến làm việc tông đồ.

2. Cha Damien trước khi đến Molokai

Cha Joseph Damien de Veuster là người Bỉ, sinh năm 1840, lớn lên vào dòng Thánh Tâm Chúa Giêsu trong tu viện Picpus tại Louvain, Bỉ, năm 1859. Cha Damien theo học tại Issy và Paris trước khi khấn trọn đời năm 1861, tiếp tục học tại đại học Louvain trong hai năm 1861-1863, và chịu chức linh mục tại Honolulu ngày 19.3.1864. Cha làm việc tông đ
 tại Hawai dưới quyền của Đức cha Maigret cho tới năm 1873, cha xung phong và được chấp nhận ‘đi Molokai phục vụ bệnh nhân phong cùi biệt giam’.

3. Tình hình chung của Molokai

Ngay những ngày đầu đến Molokai, cha Damien còn phải chứng kiến những hậu quả đau thương của vụ động đất kinh hoàng xẩy ra mấy năm trước: Hôm đó, giữa lúc linh mục đang dâng lễ, dân chúng chạy ra khỏi nhà thờ, họ bị chặn lại bởi nhiều cây to đổ xuống đường. Nhiều ngôi nhà bị tan nát. Chính thánh đường cũng hư hại… người ta tưởng như ngày tận thế đã đên nơi rồi…, nữ thần núi lửa lên cơn giận… Những ai có phương tiện, họ tìm cách trốn khỏi đảo Molokai… Chỉ một cơn lốc thổi dến ngày 17.11.1874 đã phá hủy 25 căn nhà, gây đổ nát 50 căn nhà khác, người ta ước lượng thiệt hại 5.000 USD… Chính Đức cha Maigret khi đến thăm Molokai đã rưng rưng nước mắt và thốt lên ‘Họ đã chết, tất cả họ đã tử đạo !’.

Thời gian đầu, chính quyền còn thù nghịch với tôn giáo, họ không muốn cho các thừa sai Công giáo hay Tin lành đặt chân lên đảo Molokai, vịn lý do ‘bệnh phong cùi nguy hiểm phải tuyệt đối tách biệt bệnh nhân ra để tránh lây nhiễm’. Do đó, các trại phong cùi trở thành nơi không có luật pháp và không có đức tin, bệnh nhân sống lẫn lộn nam nữ, dưới màn trời chiếu đất, không được ai giúp đỡ khi hấp hối… Hơn thế, đây là nơi thường xuyên xẩy ra nhiều chuyện vô luân… Nhờ nhiều lần vận động bên các chính phủ Pháp, Anh, Hoa Kỳ, các Giáo Hội mới có thể gửi các thừa sai đến làm việc tại các trại phong cùi biệt giam Molokai…

4. Đặt chân lên đảo Molokai

Cùng đến đảo Molokai với cha Damien và ba cha truyền giáo dòng Thánh Tâm, Đức cha Maigret tiếp xúc với giáo dân sau thánh lễ tại nhà thờ thánh Philomena đổ nát. Ngài hỏi dân chúng: «Ông bà muốn bày tỏ gì không?». Họ thưa : « Chúng con ở đây được chính phủ quan tâm nhiều, chúng con chỉ còn thiếu một sự là ‘thiếu sự hiện diện của một linh mục’». Đức cha trả lời : «Đúng rồi, đây cha Damien, cha sẵn sàng đến đây hy sinh cuộc sống vì phần rỗi linh hồn của anh chị em. Nhưng hiện giờ, cha chưa có nhà ở. Trong thời gian chờ đợi chúng tôi tìm kiếm, tôi xin cha hãy tạm ngủ dưới đất, ngoài trời. Bóng cây Pandanus này sẽ che chở cha Damien». Đức cha nói thêm: «Linh mục thì luôn để tuỳ bề trên chỉ định. Nhưng một điều chắc chắn là chúng tôi sẽ không bỏ rơi anh chị em, khi sống cũng như khi chết»… Giờ từ biệt đã đến, cha Damien xúc động, giáo dân òa lên khóc, Đức cha không cầm nổi nước mắt, yên lặng ban phép lành cho giáo dân bệnh tật… Giáo dân đến vây quanh vị chủ chăn trẻ trung, đầy nghị lực… Vì phải giữ ‘luật tách biệt’ nên cha Damien không dám ngủ trong nhà ngủ của bệnh nhân, cha ngủ ngoài trời dưới gốc cây Pandanus… dưới sự phù trì của thánh nữ Philomena… Báo Pacific Commercial Advertiser đăng tải bài của ký giả Walter Murray Gibson: ‘Cha Damien, anh hùng Kitô’.

5. Cắt nghĩa cho gia đình

Mặc dầu được nâng đỡ nhiều bởi gia đình trong nhịp sống ơn gọi ‘tu sĩ dòng thừa sai Thánh Tâm’, lần này cha Damien phải cắt nghĩa làm sao để gia đình đồng tình với cha trong sự lựa chọn ‘xung phong đi truyền giáo cho những bệnh nhân phong cùi biệt giam ở đảo Molokai’. Cha cầu nguyện với Thánh Tâm Chúa Giêsu và thánh nữ Philomena mà cha hằng tôn kính, rồi cha nhờ ông chú của cha là linh mục Jacob, vừa là cha sở xứ Werchter vừa là tuyên úy nhà thương phong cùi, cắt nghĩa với gia đình để ba mẹ và anh chị em khỏi xao xuyến. Ngày 25.11.1873, cha đã viết thư cho gia đình, cha không nói gì đến những khó khăn đang làm cha ‘nhức đầu’, mà chỉ nói chung về tình trạng sức khoẻ, việc làm và vấn đề ăn uống… Cha kể: ‘Cha có một ông nấu cơm, cha vẫn dùng cà phê, sữa bò, ăn thịt cá, ăn cơm hoặc bánh… mọi sự bình thường. Cha vẫn giữ ký, không gầy đi không béo thêm, và vẫn mang đôi kiếng của gia đình cho… Cha kết luận ‘mọi sự nhờ ơn Chúa đều tốt đẹp’…

6. Chương trình sống:

Cha Damien đã nộp cho đức cha Maigret thời khóa biểu ‘một ngày sống’ của cha như sau:

5g00: Thức dậy, dâng ngày, tắm rửa, thay đồ sạch sẽ.
5g15: Ra nhà thờ đọc sách nguyện, nguyện ngắm.
6g00: Đọc kinh sáng với giáo dân.
6g30: Dâng thánh lễ.
7g00: Dọn trật tự phòng áo, làm vệ sinh nhà thờ;
8g00: Ăn sáng, làm việc…
11g30: Đọc sách thiêng liêng.
12g00: Cơm trưa, đi thăm bệnh nhân (nếu gần thì đi bộ, nếu xa đi bằng ngựa).
17g00: Kinh chiều, giáo lý dự tòng.
18g00: Cơm chiều, làm việc…
19g00: Kinh tối, lần chuỗi… làm việc, đọc sách…
22g00: Đi ngủ.

Những điều cha Damien cố gắng thực hiện trong đời sống mỗi ngày:

  • Không bận tâm quá về đời sống vật chất của bệnh nhân.
  • Không xen vào những công việc của các nhân viên dân sự, trừ những trường hợp khẩn cấp và đặc biệt, chỉ nói với trưởng ban hành sự (surintendant).
  • Cố giữ trật tự và sạch sẽ phòng thánh, nhà thờ, nhà ở.
  • Luôn ăn mặc chỉnh tề: phải dung hòa giữa sạch sẽ và khó nghèo.
  • Luôn niềm nở và thân tình với mọi người trong khi trò chuyện, nhưng không thái quá, và tránh ‘những câu chuyện mất giờ và vô bổ’.
  • Giữ vững việc kiểm điểm đời sống, hối cải và cố gắng sửa chữa mọi lỗi lầm.
  • Phải nghiêm nhặt với chính mình và khoan dung với người khác.
  • Phải kính cẩn khi đọc kinh, nguyện gẫm, dâng thánh lễ và cử hành bí tích hoặc các lễ nghi phụng vụ.
  • Cố sống trung thành ba lời khấn phúc âm: Vâng lời, Khiết tịnh và Khó nghèo.
  • Phải tự kỷ ám thị: ‘Tôi ước ao sống và chết với Đức Kitô’ (Dissolvi et esse cum Christo).

7. Công việc tay chân
Với chương trình sống như trên, cha Damien đảm đang mọi công việc liên hệ đến sứ mệnh truyền giáo, mà trước mắt là xây lại nhà thờ. Mặc dầu năm 1875, chính quyền gửi tới một nhóm người Trung Hoa xây cất lại nhà cửa cho dân chúng trong trại cùi. Nhưng nhà thờ thì chính cha Damien phải quán xuyến ‘kiếm tiền, mua vật liệu và tự lo xây cất’. Chỉ mấy tháng sau khi cha đến đảo, nhà thờ trở nên quá bé nhỏ. Ngày chủ nhật giáo dân đứng ngồi chen chúc, tràn cả ra ngoài. Vì thế được phép Đức cha Maigret, cha Damien tìm cách nới rộng nhà thờ, và từ đó nhà thờ nhận thánh Philomena làm quan thày. Nhiều lần cha Damien không thể từ chối đến giúp sửa nhà, sửa phòng cho các bệnh nhân. Họ què quặt tay chân, không thể làm việc như ý muốn. Đợi nhân viên nhà nước tới thì đôi khi quá muộn màng. Theo quan điểm của cha, ‘nhà truyền giáo phải trở thành con người lo toan mọi việc’ (homme à tout faire).

8. Những khó khăn

Cấm tiếp xúc trực tiếp: Chính quyền không cho các nhà truỳền giáo, Tin lành hay Công giáo tiếp xúc trực tiếp với các bệnh nhân. Các ngài phải giữ ‘luật cách biệt’ (lois sur la ségrégation). Đây là điểm cha Damien không muốn chấp nhận, vì phải tiếp xúc gần kề mới hiểu được bệnh nhân, mới làm cho họ cảm thấy có sự yên ủi, và do đó mới ‘đem đức tin và tình yêu của Chúa đến cho họ được’. Nếu không đạt được điểm này thì ‘sự hiện diện và sinh hoạt của nhà truyền giáo không còn ý nghĩa. Nhà truyền giáo khác với một công chức’. Ông Trousseau, một bác sĩ người pháp đồng quan điểm với cha Damien. Theo ông, trong các nước văn minh, các bác sĩ và nhà truyền giáo không buộc phải giữ luật tách biệt. Những nhà truyền giáo cũng được hưởng các ưu biệt dành cho các bác sĩ. Chính quyền hiểu điều đó, nhưng họ không muốn tạo thêm các tiền lệ. Họ thường bảo: ‘Nếu cha Damien là một Kitô hữu anh hùng thì cha phải chấp nhận các luật pháp của chính quyền’. Chính Đức cha Maigret đã nhắc cha Damien ngay buổi đầu đến đảo: «Đừng tiếp xúc thể lý để tránh sự lây nhiễm» (pas de contact physique, pas de contamination). Tiếp xúc thể lý như bắt tay, cúi mình đeo giây ảnh vào cổ cho bệnh nhân…

Với anh em cùng hội dòng: Nhiều linh mục truyền giáo dòng Thánh Tâm mà Đức cha sai đến phụ tá cha Damien, không đồng ý với đường lối của ngài. Đặc biệt với cha André trong việc xây cất nhà thờ, thăm viếng và tiếp xúc với các bệnh nhân, việc giữ luật ‘cách biệt’… cụ thể là việc giải tội, việc tổ chức kiệu Thánh Thể trong trại phong cùi, việc chứng hôn phối … Vào quãng năm 1880, André đã làm gương xấu lớn ngay tại trại phong cùi là ‘sống chung với một cô cựu học sinh của trường tu viện Picpus’ nên bề trên phải thuyên chuyển đi khỏi đảo…

Với các nhà truyền giáo Tin lành: đặc biệt nhóm truyền giáo Mormons. Tuy đến đảo Molokai sau các nhà truyền giáo Công giáo, nhưng họ được sự hỗ trợ đặc biệt của chính quyền Anh và Hoa Kỳ. Hầu hết các công chức lớn hay các bác sĩ là những người Tin lành. Hơn thế công việc mục vụ của họ đơn giản hơn, vì không có những việc cử hành bí tích, dâng lễ mỗi ngày hay lần hạt, kiệu Thánh Thể… nên việc giữ luật cách biệt dễ dàng hơn. Đây là điểm họ hay khiếu nại với chính quyền vì thấy cha Damien được lòng dân chúng hơn…

9. Hoạt động mục vụ

Giáo lý dự tòng: Ngay ngày 20.5.1873, cha Damien đã báo cáo cho cha Meyer linh mục kinh lược của dòng: ‘Con có nhiều tin cảm động về họ đạo của con tại đảo, và để cha biết việc làm của con ở đây: Con đã có danh sách 210 giáo dân bệnh hoạn, 20 dự tòng và 20 giáo dân ‘không bệnh tật’ (tức các tù nhân lưu đầy). Người ta còn cho biết địa điểm khác trên đảo là vùng Kahavai, có nhiều giáo dân. Người ta xưng tội rất nhiều. Con không giúp hết được những người hấp hối mỗi ngày, chỉ biết phó thác cho Chúa… xin cho con một số ý lễ và một số sách kinh để phát cho giáo dân…». Mấy tháng sau cha Damien cho biết ‘cha đã rửa tội cho 35 người lớn, trong đó 5 người đã từ trần’. Năm 1877, Đức cha Maigret lại kinh lý đảo Molokai và ban phép Thêm sức cho hơn 100 người tân tòng.

Thăm viếng các bệnh nhân: Như được ghi trong chương trình sống mỗi ngày: cha Damien đi thăm bệnh nhân mỗi buổi chiều, cha đi thăm từng trại, từng khu nhà ở, nhà ăn của các bệnh nhân. Nói chuyện thân mật với họ, hỏi thăm về gia đình, về nhu cầu thiêng liêng của họ… Nhiều lần cha bị chính quyền và ban y tế khuyến cáo, cũng như các nhóm truyền giáo Tin lành ganh tị, và các linh mục truyền giáo dòng Thánh Tâm phản đối.

Lo cho các bệnh nhân hấp hối: Cha Damien quan tâm nhiều đến các bệnh nhân hấp hối. Hơn thế, có những trường hợp một mình cha lo từ A đến Z. Như ngày 31.01.1880, cha đến tận giường một nữ bệnh nhân hấp hối, cho bà rước lễ ‘như của ăn đàng’, giúp bà chết lành, rồi tự tay đóng quan tài và đào huyệt an táng bà… Sau đó, cha viết thư cho linh mục Pamphile, anh của cha, như sau: «Như vậy, em đã sống bảy năm giữa môi trường phong cùi. Trong thời gian này, em đã có dịp tiếp cận và đụng đến sự khốn cùng của những con người xấu số đáng thương…». Nhiều người chết không có quan tài, đành bó vải liệm xác và đem đi chôn… Đất ở đảo Molokai rất khô rắn, cha phải hì hục nhiều giờ mới đào được một cái huyệt…

Chấp nhận sự hôi hám nồng nặc: Trong một lá thư viết cho người anh là cha Pamphile, cha Damien thổ lộ : «Mặc dầu nhờ ơn Chúa và Đức Mẹ, em chưa phải là người phong cùi, nhưng em đã là phong cùi giữa những người phong cùi. Vì em đã tập quen chấp nhận họ: Mỗi ngày lễ trọng, em đứng trên bàn thờ và mùi hôi thối xông lên, làm em nghĩ đến mồ của ông Lazarô. Mỗi lần em ngồi tòa, mùi hôi từ các vết thương lở loét xông ra làm em lợm mửa. Có lúc em phải bịt mũi lại. Cũng như vậy, mỗi lần em ban phép xức dầu cho một bệnh nhân…»

Những công việc khác: Cha tập hát cho bệnh nhân, thành lập ca đoàn, một nhóm chơi các nhạc cụ đơn giản… Cha xin hoặc mua sách báo về phát cho giáo dân như Book of Common Prayers. Cha góp phần vận động xin các nữ tu bệnh viện đến làm việc tại nhà thương trên đảo Molokai. Các nữ tu đã nhận việc từ 08.11.1883.

Vận động lòng kính trọng các bệnh nhân phong cùi: Ngay khi đến các trại cùi biệt giam ở Molokai, cha Damien cũng như nhiều bác sĩ khác có chung một cảm nghĩ ‘Molokai là hòn đảo vô nhân đạo’. Vì thế cha tìm mọi dịp, dùng mọi phương thế đề cao giá trị nhân bản của các bệnh nhân. Cha không ngần ngại trình bày điều đó với các bề trên dòng, với các quan chức cao cấp có trách nhiệm hay chỉ vãng lai đến đảo. Phải chăng nhờ đó mà công chúa Lilituokalani một hôm đã khẳng định trước mọi người: ‘Phong cùi là chứng bệnh chứ không phải là tội phạm. Vì thế không thể vứt người phong cùi, dù đã chết, xuống biển khơi như vứt một con chó chết’. Những lời này đã được in ra và dán khắp nơi trên đảo.

10. Cha Damien được ân thưởng và ái mộ khắp nơi. 


Cuối tháng 6.1881, Đức cha Kockeman, tân giám mục phó của Hawai đã đem trao tận tay cha Damien lá thư của công chúa Liliuokalani. Trong đó, công chúa bày tỏ: ‘Tôi vui mừng bày tỏ cùng cha lòng kính ái của tôi về những công trình anh hùng và vô vị lợi của cha giữa những người xấu số nhất trong vương quốc này, tôi muốn tuyên chứng công khai về sự tận tâm trung tín, nhẫn nại và khả ái mà cha đã quan tâm lo lắng về cả thể xác và tinh thần cho những người bị xa cách gia đình và bạn hữu của họ chỉ vì một chứng bệnh nan y, nguy hiểm. Ý thức rằng lòng tận tụy và hy sinh muốn giúp đỡ những người khổ đau của cha thật đáng được Đức Thánh Cha và Thiên Chúa của mọi người ân thưởng. Dầu vậy, tôi cũng xin cha vui nhận huy chương ‘Hiệp Sĩ Thượng Đẳng’ của Vương quốc Kalakaua như một tuyên chứng công trình tông đồ và bác ái của cha. Chính mắt tôi đã chứng kiến công việc của cha trong dịp thăm viếng Sở Truyền giáo của cha mới đây…”. Hai tờ báo Pacific Commercial Advertiser và Hawaiian Gazette đã đăng nhiều bài khen ngợi cha Damien;

11. Cha Damien bị nhiễm bệnh phong cùi

Bị nhiễm bệnh thật sự. Ngày 25. 02.1885, cha Damien viết cho Đức cha Kockemann như sau: «Thưa đức cha, có thể con không sống bao lâu nữa. Chân con sưng lên và không chữa nổi, cho dù vết thương đã thành sẹo. Các đường gân sưng phồng lên và đau đớn lắm. Con không thể nào di chuyển nữa, con cũng không thể bỏ xa 600 bệnh nhân phong cùi Công giáo, nhiều người chết không có linh mục… Quả thật, con bị nhiễm chứng bệnh ghê sợ, phải nhìn nhận sự chết đang tiến gần lại với con… Con không bận tâm về thân xác, nhưng bận tâm về linh hồn con. Xin đức cha cho con một cha giải tội tốt lành…». Đức giám mục và nhiều quan chức và bác sĩ đến thăm cha Damien… đặc biệt vào ngày 07.10.1885 kỷ niệm cha khấn trọn đời được 27 năm. Nhưng kể từ 10.02.1886, cha Fouesnel bề trên tỉnh dòng xin cha Damien ra sống riêng hẳn trong một phòng và không được tiếp xúc với bất cứ ai… Ngài hy vọng cha Damien sẽ được chữa lành. Theo kết quả khám nghiệm của hai bác sĩ Arning và Mouritz, thì có lẽ cha Damien đã biết mình bị lây nhiễm từ 1877, vì năm đó, cha đã viết cho Ban y tế lời lẽ như sau: «Tôi đã hy sinh sức khoẻ và tất cả mọi sự tôi có trên trần gian, vậy xin quý vị hãy tin tưởng…’. Và ngày 30.4.1886, cha Damien được chính thức ghi danh vào sổ những người bị bệnh phong cùi.

Thời gian chữa bệnh tại Honolulu. Tháng 7.1886 do lời yêu cầu của thủ tướng, cha Damien được đưa về chữa bệnh tại thủ đô Hawai, và mẹ bề trên Marianne nhận chăm sóc cha. Nhiều quan khách đạo đời đã đến đón tiếp và thăm hỏi cha Damien đến nỗi nhiều người gọi đó là ‘cuộc vinh thắng tại Honolulu’ (Triomphe à Honolulu).' Ít lâu sau, cha bề trên Albert cho cha Damien hay: ‘Cha sẽ trở lại Molokai như cha mong ước, ở đó cha sẽ được điều trị theo phương pháp mới của Nhật Bản. Ngoài ra cứ hai tháng một lần, cha Colomban sẽ đến thăm cha’.

Trở lại Molokai: 
Trước ngày xuống tàu về đảo Molokai, cha Damien được đức cha Korkermann báo cho biết một tin vui: “Do sự quan phòng của Chúa, ông Dutton cựu quân nhân, sẽ đến Molokai phụ tá cha để thể hiện những chương trình như cha muốn. Ông đến Molokai làm việc cách khiêm tốn như một hối nhân (penitent)”. Chương trình của cha Damien là xây nghĩa trang Kalawao, xây nhà sưởi, phòng ăn, phòng tắm và nhà bếp, xây hai nhà ngủ lớn một cho nam, một cho nữ. Và ngày 25. 08. cha Damien viết cho các bạn thừa sai: “Cám ơn Chúa, tôi còn đứng được và tiếp tục làm việc”… Lần khác cha viết: “Phương pháp chữa bệnh của Nhật Bản xem ra có hiệu quả, tôi cảm thấy được thuyên giàm…”.

12. Cha Damien từ trần
Tin sai của nhà báo: Nhưng chẳng bao lâu, một ký giả lấy tin sai từ mấy cô y tá đến làm việc tại Molokai, và báo Courrier de Bruxelles đăng tải một tin vịt: ‘Cha Damien đã từ trần ngày 21.10.1886’. Sự thực cha Damien vẫn còn tỉnh táo. Ngày 19.3.1889, là ngày kỷ niệm cha Damien đến đảo đúng 25 năm tròn. Nhưng vì cha đã vào sổ ‘bệnh nhân biệt giam’ nên chỉ có mẹ Judith và nữ tu Marie-Laurent đem hoa đến chúc mừng và ông Dutton cùng dùng bữa với cha.

Bệnh trở nên trầm trọng: Theo lời kể của ông Sinnett, ba hôm sau cha Damien chọn nằm dưới đất, trên rơm rạ, như một người bệnh cùi tầm thường nhất, nghèo nàn nhất. Sáng ngày hôm sau, ngài nói với ông Dutton, “Tôi đã dâng hiến tất cả cho Thiên Chúa, tôi chết nghèo, tôi chẳng có gì cho tôi…” Người ta phải năn nỉ mãi ngài mới chịu lên giường, nhưng ôi, cha đã cho đi hết rồi, cho không có một tấm vải trải giường hay một bộ đồ để thay… Ngày 30.3, cha Conrardy xin bác sĩ Swif đến thăm cha Damien. Cha từ chối không ăn gì cả. Cha bị sốt tới 39 độ. Sau trưa cha xin cha Wendelin đến giải tội chung và giúp cha đi vào cơn hấp hối. Cha Wendelin cho cha rước lễ. Ngài kể lại rằng: ‘Hôm đó cha Damien vui vẻ khác thường. Cha bảo tôi ‘cha xem tay tôi trắng lại, các vết thương khép lại rồi, chỉ còn khuỷu tay hơi đen. Tôi ước ao gặp đức giám mục một lần nữa, nhưng Thiên Chúa nhân lành gọi tôi về cử hành lễ Vượt Qua với Ngài. Ngợi khen Chúa nhân lành. Chúa nhân hậu làm sao, Chúa cho tôi hai linh mục thánh thiện giúp tôi trong giờ sau hết của đời sống, rồi cả các nữ tu Bác Ái ở bệnh viện cũng cầu nguyện cho tôi. Bây giờ là ‘nunc dimittis’ của tôi… ». Tôi thưa với cha Damien: «Trên trời, xin cha đừng quên những người cha bỏ lại mồ côi ». Cha Damien trả lời : «Nếu tôi có chút công phúc gì ở bên Chúa, tôi sẽ xin Chúa chuyển ban cho tất cả các bệnh nhân phong cùi... » Tôi lấy một áo măng-tô quàng cho cha Damien và xin cha chúc lành cho tôi… ».

Tử đạo vì bác ái: Những ngày kế tiếp, cha Damien lúc tỉnh lúc mê. Bác sĩ Swif quen cho cha uống Whisky toddy để ngài hồi lại. Ngày 08. 04. 1889, đức cha Korkmann viết cho cha bề trên cả dòng Thánh Tâm : «Có lẽ cha đáng kính Damien sẽ chết vào giờ cha mong ước. Tôi hy vọng sẽ thăm lại vị tử đạo bác ái này sau lễ Phục Sinh. Cha đã thanh thỏa mọi điều chúng ta mong ước. Quỹ bác ái của cha còn 37.000 đola. Tôi sẽ cho người kế vị cha Damien được toàn quyền sử dụng số tiền này cho trại phong cùi… Khi nào cha Damien qua đời, chúng tôi sẽ tổ chức lễ an táng trọng thể cho cha ».

Đến và đi vào cùng ngày chủ nhật lễ Lá: Chúa nhật lễ Lá, 14.4.1889, cha Damien trở bệnh. Cha Wendelin cho cha rước lễ lần cuối. Bác sĩ Swif cho cha uống Whisky toddy, nhưng vô hiệu. Cha Damien vào hôn mê… Cha Wendelin, các nữ tu và bác sĩ Swif, ông Dutton và ông Sinnet quỳ quanh giường cầu nguyện cho cha Damien… Cha tắt thở nhẹ nhàng, và ông Dutton nói: “Cha đã được như lòng mong ước, cha đến đảo vào chủ nhật lễ Lá, cha cũng ra đi vào chủ nhật lễ Lá’. Thực ra cha Damien ra đi sáng thứ hai Tuần Thánh, 15.4.1889. Cha Wendelin tuyên bố: “Tôi nhìn thấy cha Damien thật can đảm, đôi mắt sáng tỏa sự chấp nhận, niềm vui và hài lòng. Môi cha không nói rõ ràng những điều lòng cha muốn bày tỏ, cha nắm chặt tay tôi cách thân tình”.

Đám tang trọng thể: Tin cha Damien từ trần được các báo chí loan truyền mau lẹ. Nhiều chương trình xây cất theo phương án của cha chưa được hoàn tất. Nhà thờ thánh Philomena mới gỡ mái, chưa lợp lại, nhà tạm lộng lẫy do ông Hudson dâng cúng chưa đưa về… Tất cả mọi cơ sở của chính quyền hay tư nhân đều treo cờ tang. Mẹ Marianne và nữ tu Vincent phụ với cha Wendelin tổ chức lễ an táng. Những bệnh nhân tương đối còn khoẻ mạnh đều đến tham dự, có ban kèn đồng, có nữ sinh ký túc xá thắt dây lưng đen, có các em nam nhà mồ côi… Cha Wendelin chủ sự thánh lễ, đoàn rước xác gồm: Một người vác cây Thánh giá lớn, ban kèn trống, thành viên các hội đoàn, các nữ tu và các bệnh nhân, đoàn thanh nữ. Linh cữu do tám người phong cùi da trắng khiêng, đại diện cho người Anh, Balan, Ái Nhĩ Lan và Hoa Kỳ. Theo linh cữu là cha Wendelin, cha Conrardy và các bệnh nhân nam… Huyệt an táng cha Damien được đào dưới gốc cây Pandanus, xây và gắn xi măng vững chắc…

Sau khi cha Damien qua đời: Nhiều người cho rằng ‘cha Damien quá dấn thân, không giữ mình đủ… Bằng không cha còn sống phục vụ dân nghèo…’. Tuy nhiên mọi người, chính quyền và giáo quyền đều đồng tâm ‘tiếp nối công trình nhân đạo của cha Damien’. Một thánh lễ ‘Requiem’ được cử hành trọng thể tại nhà thờ chính tòa Honolulu. Trong bài giảng đức cha Kockermann nhấn mạnh đến tinh thần tông đồ và bác ái của cha Damien, cha xứng đáng mang tước hiệu là ‘anh hùng và tử đạo vì bác ái’. Cha không làm mất lòng ai, cha chỉ muốn theo chân Chúa Kitô, phục vụ mọi người bằng gương sáng…

Trên đường vinh quang: Ngày 27.01.1936, xác cha Damien được bốc lên, đem về Honolulu, rồi đem về Bỉ an táng trong nhà thờ của tu viện Picpus, hai tay chắp lại hướng về Hawai… Cha được phong Chân phước năm 1995 bởi Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II và tôn vinh Hiển Thánh ngày 21.10.2009 bởi Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI.

Mai Đức Vinh

Sunday, August 26, 2018

Thánh Maximilian Kolbe – lễ kính 14/8 hàng năm - "Không ai có tình yêu lớn hơn ..."

Thanh Quảng sdb

Trong Thế chiến II, trại tập trung Auschwitz Ba Lan đã trở nên khét tiếng là trại tập trung giết hại nhiều sinh mạng nhất của Đức Quốc xã, nơi đây có ít nhất 1,1 triệu người nam nữ, già trẻ đã bị giết, trong số đó 90% là người Do Thái.


Can đảm thay, một linh mục Công Giáo đã can đảm dám xin Đức quốc xã cho mình chết thay cho một tủ nhân xấu số, vì tình yêu vị tha của Tin Mừng, do đó Ngài được coi là một vị tử đạo đã hiến trọn tình yêu cho Thiên Chúa và loài người. Tên của Ngài là Thánh Maximilian Kolbe, một linh mục dòng Phanxicô, một trong những nạn nhân của trại tập trung Auschwitz Ba lan.

Sau cuộc xâm lược Ba Lan của Đức vào năm 1939, cha Kolbe và dòng của cha đã mở cửa trợ giúp khoảng 3.000 người tỵ nạn Ba Lan, trong số đó có 2.000 người Do thái. Đức Quốc Xã đã chiếm đóng tu viện vào tháng 5 năm 1941 và cha Kolbe và bốn tu sĩ khác đã bị đưa về trại tập trung Auschwitz, nơi đây các ngài bị lao động khổ sai chung thân với các tù nhân khác.

Khi một tù nhân đào thoát khỏi trại, Đức Quốc xã đã chỉ điểm 10 người phải chết thay thế cho kẻ trốn thoát. Một trong 10 người đó là Franciszek Gajowniczek, òa lên khóc khi ông ta nhớ tới người vợ trẻ và các con thơ của ông.

Không thể cầm lòng trước nỗi thống khổ ấy, cha Kolbe đã lặng lẽ bước ra, bỏ mũ cúi mình trước viên chỉ huy và nói: 'Tôi là một linh mục Công Giáo. Tôi xin chết thay cho một trong 10 người này. Tôi đã già rồi. Và vị linh mục dòng Phanxicô chỉ tay về phía Franciszek Gajowniczek và lặp lại 'Tôi là một linh mục Công Giáo Ba Lan; Tôi muốn thay thế vị trí của anh ta, bởi vì anh ta còn vợ và con trẻ!'

Yêu cầu của Ngài đã được chấp thuận!

Cha Maximilian Kolbe, tù nhân số 16770 đã cùng với 9 người tù khác bị bỏ đói để chết dần chết mòn, trong khi các ngài cầu nguyện… Sau hơn 15 ngày nhịn đói cha Kolbe vẫn còn thoi thóp sống nên Ngài được Đức quốc xã tiêm cho một liều thuốc carbolic để kết liễu sự sống của ngài. Ngài qua đời vào lúc 12 giờ 30 ngày 14 tháng 8 năm 1941 khi vừa tròn 47 tuổi xuân, Ngài là một vị tử đạo của lòng nhân ái
.
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tuyên phong chân phước cho Cha Kolbe vào ngày 17 tháng 10 năm 1971, và Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đã phong hiển thánh cho Ngài vào ngày 10 tháng 10 năm 1982.

http://www.vietcatholic.net/News/html/246204.htm

Sunday, August 19, 2018

Linh mục, Người là ai?

Ví như Tôn Tẩn đã nói răng: “Tri kỹ tri bỉ, bách chiến bách thắng” (Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng), thì linh mục chúng ta, trong cuộc chiến đấu vật lộn với đời, chúng ta cần phải biết chính mình.

Hôm nay, xin nói về vấn đề: “Linh mục, người là ai?

Để đào tạo linh mục, Giáo Hội phải tốn bao nhiêu công sức và thời gian. Chúng ta là người trong cuộc, nhiều khi gần quá hóa quen, nên ít khi đặt lại vấn đề, ít khi xét lại để thấy căn tính của mình. Hôm nay trong những ngày phòng ngắn ngủi này, chúng ta hãy dành một ít phút để suy gẫm về chính mình, rà soát lại xem thế nào là linh mục đích thực, và chúng ta đã sống thiên chức linh mục ấy thế nào.

Vậy, linh mục, người là ai?

Hình ảnh của linh mục rất đa dạng nơi cảm nghĩ của dân chúng. Cách đây ba bốn mươi năm, linh mục là người dâng thánh lễ, cử hành các Bí tích, giảng dạy đức tin, luân lý, Kinh Thánh, là con người của Giáo Hội, độc thân, xa lìa thế gian, mặc áo dòng đen, một viên chức có quyền thế, một nhà quý phái có bàn tay trắng. Nhưng gần đây hơn, danh từ linh mục gợi lên trong trí óc người ta, hình ảnh của một người bạn nghèo, có bàn tay chai cứng, đấu tranh cho hòa bình, cho độc lập, cho tự do, tham gia chính trị, vận động yêu nước, chống tham nhũng…

Những ý tưởng chồng chất ngổn ngang, có khi mâu thuẫn và hời hợt như người ta móc đầy áo đủ loại trên một cái móc áo. Chúng ta hãy bắt đầu cởi bỏ những gì gán cho linh mục và chỉ giữ lại thực chất của linh mục, được truyền thống giới thiệu bắt đầu từ Chúa Giêsu cho đến các linh mục ngày nay.

Đã từ lâu, các nhà thần học, vì muốn truy tìm chính xác, đã tháo gỡ guồng máy Giáo Hội ra và đã định vị từng bộ phận. Do đó, họ đưa Đức Giáo Hoàng ra khỏi Giám mục đoàn, Giám mục ra khỏi linh mục đơn giản, tu sĩ ra khỏi những người được rửa tội, linh mục khỏi giáo dân, Đức Nữ Đồng Trinh khỏi các thánh khác và khỏi Hội Thánh chung chung, bảy phép Bí tích ra khỏi những động tác Bí tích của Hội Thánh. Tháo rời như vậy để hiểu rõ hơn từng bộ phận một.

Giờ đây, có chiều hướng đổi ngược. Các nghị phụ Công Đồng Vatican II cũng như các nhà thần học mới, ráp lại, đặt các bộ phận vào trong toàn khối. Họ đặt Đức Giáo Hoàng trong Giám mục đoàn và trong Hội Thánh (Phêrô tuy đứng đầu, nhưng cũng là một trong nhóm 12 và nhóm 12 cũng là toàn thể dân Chúa), đặt linh mục trong cộng đoàn tín hữu, đặt đời sống tu trì trong đời sống những người được rửa tội, đặt các Bí tích trong Hội Thánh và Hội Thánh được coi là Bí tích Mẹ, đặt Đức Trinh Nữ Maria vào Mầu nhiệm Chúa Kitô và Hội Thánh Người.

Đặc biệt đối với các linh mục, sự biến cải hiện thời của lịch sử, liên kết với nền thần học mới, đưa linh mục trở về hàng ngũ thực sự của mình. Ngày nay, linh mục có uy tín và thế giá, không phải chỉ vì ông được thụ phong linh mục, có chức thánh, mà quan trọng là do đời sống tông đồ và mục vụ của mình. Bởi lẽ, xưa kia người ta coi linh mục là người thông biết mọi sự. Ngày nay, cùng với sự phổ thông văn hóa, linh mục không còn là người duy nhất nắm giữ kiến thức. Người giáo dân bây giờ cũng thông thái, có khả năng chuyên môn, ngay cả cũng đào sâu Kinh Thánh, giáo luật; có những người có bằng cấp cao trong các trường đại học công giáo. Còn về tu đức, có những giáo dân được công nhận như bậc thầy. Họ cũng giảng phòng, làm cố vấn thiêng liêng như các linh mục, chẳng hạn như anh Francois Duff, sáng lập Legio Mariae.

Đàng khác, trong xã hội tục hóa hiện nay, các linh mục không có vai trò nổi bật nữa. Không còn lối sống riêng cho linh mục nữa, không có chỗ dành riêng cho các linh mục trên khán đài danh dự nữa. Linh mục cũng không than phiền về vấn đề này. Không còn là tai mắt đáng được để ý, linh mục lấy làm hạnh phúc sống hòa mình trong cộng đoàn huynh đệ, thích làm một tín hữu giữa các tín hữu, thích làm một công dân như các công dân khác.

Nhưng không phải vì thế mà chúng ta từ bỏ căn tính độc đáo của linh mục. Trong thánh lễ truyền chức linh mục, Đức Giám Mục hỏi ứng viên:

- “Con quý mến, con có muốn trở thành linh mục, cộng tác viên của Giám Mục trong chức linh mục, để phục vụ và dẫn dắt Dân Chúa dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần không?

- “Con có muốn trung thành chu toàn tác vụ Lời Chúa, nghĩa là rao giảng Tin mừng và trình bày giáo lý Đức Tin công giáo theo truyền thống của Hội Thánh để ngợi khen Thiên Chúa và thánh hóa Dân Kitô giáo không?

- “Con có muốn mỗi ngày kết hiệp với Linh Mục Thượng Phẩm là Chúa Kitô, Đấng tận hiến mình cho Cha Người và với Người, thánh hiến con cho Thiên Chúa để cứu rỗi loài người không ?

Sau khi ưng thuận và hứa vâng phục Đức Giám Mục, tiến chức đến quỳ gối đặt tay vào lòng bàn tay Đức Giám Mục. Rồi cộng đoàn đọc kinh cầu Các Thánh, cả triều thần thánh, cộng đoàn Dân Chúa đều tập hợp và cầu nguyện cho tiến chức đang nằm phủ phục dưới đất. Đó là hình ảnh tuyệt đẹp, gây xúc động trong ngày thụ phong linh mục.

Các câu hỏi trên đây trình bày súc tích căn tính của linh mục, đó là hợp tác với Giám Mục điều hành dân Chúa, rao giảng Lời Chúa và trao ban các Bí tích. Làm mọi sự liên kết Đức Giám Mục trong kính trọng và vâng lời. Nói cách khác, linh mục là hiện thân của Đức Kitô, làm đầu của Nhiệm Thể Người là Hội Thánh, kéo dài sự nghiệp Chúa Giêsu ở trần gian để điều hành Dân Chúa, thánh hóa và rao giảng Tin mừng. Nếu thánh Phaolô đã nhận xét về mình trong câu bất hủ: “Nay tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà Chúa Kitô sống trong tôi”, thì linh mục cũng có thể khiêm tốn tự hào nói lên: “Nay tôi nói và làm, nhưng không còn là tôi, mà Chúa Kitô nói và làm qua tôi”.

Khi nhìn ngắm đóa hoa phô sắc trên bàn thờ, người ta dễ quên đi quá trình hình thành của nó. Nếu chúng ta theo dõi cây hoa từ khi mới được ươm trong vườn, nó phải chống chọi với sương nắng, với gió lạnh, đương đầu với khí nóng, phải hút lấy nhựa sống, hô hấp khí trời và thải ra những chất carbon. Tất cả những tiến trình này phải lựa chọn và từ bỏ liên tục mới đi đến thành công, giúp chúng ta đánh giá đúng mức sự quý báu của đóa hoa mà chúng ta đang nhìn ngắm.

Cũng vậy, từ một cậu bé chập chững đi vào Tiểu Chủng Viện với cả một trời bí mật bao trùm trên con đường ơn gọi cho đến lúc lớn khôn, trưởng thành dần dần, chú rồi thầy, rồi mới đến cha, bao nhiêu là thử thách, bao nhiêu là cố gắng, bao nhiêu là kiên nhẫn đợi chờ. Quá khứ nặng nề ấy chúng ta đã vượt qua, nhưng đàng trước, là bổn phận, là trách nhiệm. Đời sống linh mục có vẻ đầy đủ, có khi khá huy hoàng, nhưng là đời sống hy sinh, phục vụ quên mình, thì làm sao không đau khổ. Trách nhiệm chồng chất, trách nhiệm trong sự đều đều đến kinh sợ, và trước tiên, là đời sống cô độc. Có thể ví cuộc đời linh mục với thân phận con gà treo, tuy bên ngoài đầy đủ thức ăn nước uống, nhưng phải đứng im trong ô chuồng không cựa quậy, trong một không gian chật hẹp, mỗi ngày có bổn phận đẻ cho chủ một quả trứng, không được đi đó đi đây, không được bươi móc như các con gà khác, vì nếu được tự do thong thả thì mất trứng.

Trong xã hội vật chất và hưởng thụ, người ta bảo đời sống linh mục như vậy là gò bó, không thoải mái. Nhưng có đời sống nào trên trần gian này hoàn toàn thoải mái? Công nhân, thợ thuyền, giáo chức, nông dân, thương gia, sinh viên…, mỗi người cũng phải nai lưng làm việc, phải chu toàn mọi trách nhiệm của mình, phải đấu tranh vật lộn với đời và phải tuân thủ mọi lề luật. Chỉ có lúc ngủ quên hay chết, chớ không bao giờ nói đến chuyện thoải mái, nếu mỗi người muốn sống nghiêm chỉnh theo căn tính của mình.

Còn hơn thế nữa, linh mục là người của muôn người, được sai đi để phục vụ, để làm đầy tớ thiên hạ, thế tất phải sống đời hy sinh, còn lâu và còn xa mới nói đến chuyện thoải mái vô tư trong đời sống mục vụ. Đúng như Cha Chevrier đã nói: “Linh mục là người bị ăn”. Bị ăn, thế tất phải hao mòn thân xác và tinh thần.

Không thể nghe theo những kẻ bệnh hoạn, kêu la ầm ỹ, lượng định cách lệch lạc giá trị cao cả của chức linh mục. Còn tệ hơn nữa, là đang mang trong mình kho tàng quý báu, không biết coi trọng, lại làm hoạt kê chân dung linh mục trong đời sống mình. Đa số 90% linh mục âm thầm làm việc, tiến bước trên con đường trọn lành bằng những bước chân vững chắc, can đảm đương đầu với mọi thử thách gian lao. Những người không sanh sự, không khoác lác, ồn ào thì không được dư luận để ý đến, còn thiểu số kia bỏ cuộc, thì báo chí, truyền thanh, truyền hình làm rùm beng gây tiếng vang ầm ỷ. Sức sống thiêng liêng do các linh mục mang lại đang trào dâng từ đầu não, lan tỏa khắp thân thể là Giáo Hội. Tại sao nói là đầu não? Bởi lẽ linh mục, hiện thân cho Chúa Giêsu, là Đầu của Thân Thể Người là Giáo Hội. Trong sắc lệnh về “Chức vụ và Đời sống linh mục”, Công Đồng Vatican II có dạy: “Vì được liên kết với chức Giám Mục, nên chức năng của các linh mục cũng tham dự vào quyền bính mà chính Đức Kitô đã dùng để kiến tạo, thánh hóa và cai quản thân mình Người. Vì vậy, chức linh mục tuy dựa trên các Bí tích khai tâm Kitô giáo (rửa tội, thêm sức và Thánh Thể), nhưng lại được một Bí tích riêng in dấu đặc biệt khi họ được Chúa Thánh Thần xức dầu và làm cho nên giống Chúa Kitô Linh Mục, hầu làm cho họ có khả năng nhân danh Đức Kitô Đầu mà hành động”.

Trong quyển sách tựa đề “Hình ảnh mới của Hội Thánh”, Đức cha Ancel viết như sau: “Muốn hiểu các linh mục, phải nhìn vào Giám Mục; muốn hiểu các Giám Mục, phải nhìn vào các tông đồ;muốn hiểu các tông đồ, phải nhìn vào Đức Kitô xét như Đầu của thân thể, là Đấng sáng lập và cứu chuộc Hội Thánh, một Hội Thánh đang nhờ trung gian của Chúa Thánh Thần mà Người đã sai đến để giảng dạy, thánh hóa và dẫn đưa mọi người về với Chúa Cha”.

Như vậy, linh mục vừa là người được rửa tội, trước hết và luôn luôn, linh mục ở trong cộng đoàn tư tế của dân Chúa, là chi thể cùng với các chi thể khác trong thân mình của Đức Kitô.

Vừa là người được truyền chức, linh mục đồng thời cũng là người đứng trước cộng đoàn, như thể một ai khác đang triệu tập và nói với cộng đoàn, như thể là Đầu của Thân Mình ấy.

Như vậy, chúng ta có thể rút từ đây, những phận sự chính yếu của linh mục là rao giảng Tin mừng, cử hành các Bí tích và dẫn dắt đoàn chiên Chúa giao phó.

Linh mục là cộng sự viên của Giám mục, nên trước tiên có nhiệm vụ loan báo Tin mừng của Thiên Chúa. Lãnh nhưng không, phải cho nhưng không. Lãnh Lời Chúa để phát, linh mục mắc nợ với mọi người. Các linh mục phải thông truyền chân lý Tin mừng mà Chúa đã trao cho họ và phải ra sức thực hiện điều này trong mọi trường hợp, dù khi họ sống một cuộc đời tốt đẹp gương mẫu giữa dân ngoại, lôi kéo dân ngoại ca tụng Thiên Chúa, dù khi họ công khai giảng thuyết cho những người chưa tin, dù khi họ dạy giáo lý Kitô giáo hay giải thích học thuyết của Hội Thánh cho các tín hữu, hoặc chuyên lo nghiên cứu những vấn đề thời đại đi nữa, nhất là chu toàn bổn phận truyền giáo đối với lương dân.

Cha Andrée Depierre đã viết trong quyển “Gió muốn thổi đâu thì thổi” những lời trăn trở sau đây: “Tôi thiết tưởng không phù hợp với Kitô giáo khi đa số linh mục đều phục vụ các cộng đoàn dân Chúa được quy tụ trong Hội Thánh và chỉ một số nhỏ các linh mục lo cho những người chưa nhận biết Đức Kitô, mà số này đông biết bao”.

Phận sự thứ hai của linh mục là thánh hóa Dân Chúa: các linh mục được Thiên Chúa hiến thánh để tham dự đặc biệt vào chức linh mục của Chúa Kitô và để trong khi cử hành các việc thánh, họ hành động như những thừa tác viên của Đấng, nhờ Thánh Thần của mình, vẫn không ngừng thi hành chức vụ để mưu ích cho chúng ta. Thực vậy, nhờ phép rửa, họ dẫn đưa con người gia nhập vào Dân Thiên Chúa; nhờ Bí tích thống hối, họ giao hòa tội nhân với Thiên Chúa và Hội Thánh; nhờ việc xức dầu bệnh nhân, họ xoa dịu những ai đang đau đớn; nhất là nhờ việc cử hành thánh lễ, họ tiến dâng hy lễ của Đức Kitô cách Bí tích. Như thế, tiệc Thánh Thể là trung tâm của cộng đoàn tín hữu mà chủ sự là linh mục. Ngoài ra, kinh Nhật Tụng hay Phụng Vụ Các Giờ Kinh làm cho linh mục kéo dài thánh lễ suốt ngày, đồng thời qua đó, các linh mục nhân danh Giáo Hội, thành khẩn cầu cùng Thiên Chúa cho toàn dân đã được trao phó cho các Ngài, và hơn nữa, các Ngài cầu cho toàn thể thế giới.

Thừa tác vụ thứ ba là làm chủ chăn Dân Thiên Chúa. Tuy phân biệt thừa tác vụ linh mục làm ba chức năng như xưa nay, đáp ứng với những khía cạnh thật của sứ mệnh linh mục, nhưng trong cụ thể, khi sinh hoạt, thì cả ba gắn liền và hòa trộn lẫn nhau chẳng khác nào việc hô hấp, tiêu hóa và tuần hoàn trong cùng một cơ thể. Lời Chúa không ngừng lại ở ngưỡng cửa Bí tích, trái lại ở đó, nó còn âm vang mạnh mẽ vì tất cả các Bí tích đều là những Bí tích đức tin. Cũng vậy, chức vụ chủ chăn quy tụ Dân Chúa không phải là chuyện làm sau khi cử hành xong phép Thánh Thể, nhưng là quy tụ để cử hành Thánh Thể. Một khi đã dành ưu tiên cho việc phúc âm hóa và quan tâm đến các con chiên lạc, thì các bổn phận khác sẽ được bảo đảm và hòa chung trong một chức vụ chăn chiên. Như vậy, linh mục là người quy tụ mọi người trong Đức Kitô Giêsu, xây dựng cộng đồng, mở rộng cộng đồng ấy và liên kết với mọi cộng đồng trên thế giới, nói cách khác, đào tạo và làm tăng trưởng Thân Thể Chúa Kitô.

Sau khi ôn kỹ bản chất và các chức năng của linh mục, chúng ta hãy xét xem chúng ta sống chính danh như thế nào. Mỗi ngày chúng ta có luôn trau dồi kiến thức về Kinh Thánh để rao giảng không phải lời riêng của mình, mà Lời Chúa cho giáo dân đang khao khát của ăn nuôi hồn không ? Chúng ta có chịu khó suy gẫm trước và thực hành những điều chúng ta phải trình bày cho dân Chúa không? Hay chúng ta đã lợi dụng tòa giảng như diễn đàn để tranh biện, để tự khẳng định mình hoặc chửi mắng la rầy giáo dân? Thật ra, có lúc cần phải sửa dạy, nhưng luôn dùng lời tao nhã, luôn dùng văn từ sao cho xứng với thiên chức linh mục của mình. Hãy bắt chước tiên tri Nathan khi phải sửa sai Đavit.

Chúng ta có luôn ra sức dâng lễ sốt sắng, không đọc lua láu quá nhanh hay kề cà quá chậm, làm sao cho Dân Chúa tham dự thánh lễ sốt sắng và tiếp cận với hy lễ tuyệt vời này một cách hữu ích để lãnh nhận tối đa ơn thánh không?

Hãy rà soát lại cung cách chúng ta giải tội. Có coi đó như một phương tiện tốt để hòa giải nhân loại với Chúa, những người anh em với nhau, hay coi đó chỉ là xâu bơi cực nhọc?

Linh mục trong tòa giải tội đóng nhiều vai trò tế nhị: vừa là cha, là thầy thuốc, là bạn, vừa là thẩm phán, nhưng cũng là thầy dạy, là mẹ hiền.

·          -Chúng ta có sẵn sàng giải tội khi giáo dân cần đến, hay chúng ta cứng nhắc tính giờ định khắc để biến việc xưng tội của giáo dân thành khổ cực và đáng ngại không?

·          -Chúng ta có sẵn sàng đi kẻ liệt vào bất cứ giờ nào trong niềm xác tín đây là dịp cuối cùng để chúng ta tiễn đưa một cách quyết định người con chiên của chúng ta vào cõi sống muôn đời không?

·          -Chúng ta có chuẩn bị thanh niên nam nữ đi vào cuộc hôn nhân cách chu đáo không?

·          -Chúng ta có tích cực tìm hiểu ơn gọi, nuôi lấy những mầm non để sau này đưa các thanh niên ấy vào các dòng tu, các chủng viện, và tích cực tạo điều kiện tốt để họ sống đời sống dâng hiến trong tôn thờ và phục vụ đắc lực hơn không?

·          -Chúng ta có làm mọi sự với nhiệt tình Nhà Chúa không?

·          -Trong đời sống mục vụ, trong giáo xứ, trong môi trường đào tạo, chúng ta có cư xử đầy tình bác ái và xây dựng với những cộng sự viên của chúng ta không?

·          -Chúng ta có để cho các linh mục đồng nghiệp, cho những ông câu, ông biện, những người trong ban hành giáo có sáng kiến không? Chúng ta có tôn trọng những đề nghị của họ không?

·          -Chúng ta có lắng nghe trong đối thoại chân thành và quyết định cách khách quan không? Hay chúng ta biến họ thành những dụng cụ sai vặt như những người đầy tớ phải tuyệt đối vâng lời ông chủ? Chúng ta có bóp chết mọi sáng kiến của họ, chỉ đề cao cá nhân của mình một cách chủ quan, chỉ cho mình là trung tâm truyệt đối bất khả ngộ?

·          -Chúng ta có ra sức tổ chức các lớp giáo lý có hệ thống, có tìm những giáo lý viên đắc lực, có sắp xếp các lớp theo lứa tuổi và theo nhu cầu?

·          -Chúng ta có tìm mọi cách biết rõ con chiên của mình để tận tình giúp đỡ hay là dửng dưng sống chết mặc bay?

·          -Trong đời sống xã hội, với người lương cũng như giáo, chúng ta có ngay thẳng trong lời nói, trong phong cách, trong lối đối xử, cách ăn uống, nhất nhất phải ý tứ cẩn thận, vì qua đời sống của linh mục, người ta phải nhận ra dáng dấp của Chúa Giêsu Cứu Thế?

Những tiêu chuẩn được đưa ra cho các linh mục xưa nay là: Thánh thiện, nhiệt thành, trở nên muối đất đèn đời, hoàn toàn quên mình trong sứ vụ, bất chấp khó khăn, hoạt động hăng say dưới nhiều hình thức khác nhau để mở mang Nước Chúa, nêu gương nhân đức, chăm lo cho con chiên cả tinh thần lẫn vật chất. Muốn đạt được những tiêu chuẩn ấy, linh mục cần phải tự huấn luyện mình quảng đại, nhiệt thành, nội tâm sâu sắc, sống giản dị, phục vụ tận tình, sẵn sàng đối thoại không định kiến

Như vậy có quá đòi hỏi nơi linh mục hay không?

Tại sao phải dồn hết gánh nặng trên vai của linh mục?

Đúng là sứ vụ của linh mục rất vinh dự nhưng cũng rất nặng nề. Một viên ngọc quý được đặt trong bình sành. Nhưng có Chúa ở cùng, chúng ta không lo sợ. Vì theo sát gót Chúa Giêsu, nên bổn phận chúng ta cũng làm con người-Chúa như chính Đức Kitô. Có nghĩa là làm trung gian giữa trời và đất.

Sau đây tôi xin giới thiệu một chứng nhân anh hùng: suốt đời chứng nhân đó đã theo sát gót Chúa Giêsu trong ơn gọi của mình. Người đó là cha Đamiên, biệt danh tông đồ người hủi ở đảo Molokai, một đảo nằm trong quần đảo Hawai, giữa Thái bình dương. Tại đây, từ 700 đến 800 người mắc bệnh phong hủi đàn ông, đàn bà, trẻ con chồng chất trong một phòng nhỏ của đảo, bị đuổi ra khỏi những đảo lân cận mà trước kia họ ở, để khỏi lây bệnh cho người khác. Mảnh đất chật hẹp dành cho họ phía trước mặt là đại dương, phía sau là một dãy núi sừng sững bao quanh, khó bề thoát ra được. Lúc đó, người ta đã biết rõ thế nào là phong cùi: một bệnh làm cho thân xác mỗi ngày thêm thối rữa, người ta chứng kiến cảnh thối dần, thối dần, cho tới khi toàn thân biền thành cái thây ma. Khi bệnh phát hiện, người ta biết từ đây trở nên dị dạng dị hình, không thuốc men, chỉ có một việc là chờ chết.

Mọi người chỉ sống trong những túp lều cất bằng gốc cây già và lợp lá; quần áo của họ chỉ còn là những tấm giẻ rách thối tha. Nước quá thiếu để được tắm sạch, muốn có một chút khí để thở phải ra khỏi lều. Người bệnh nhẹ luôn bị ám ảnh trước mắt mình những khuôn mặt biến dạng, tay chân cụt ngủn đầy những ung nhọt, và rơi rụng dần dần, xông ra những mùi nồng nặc. Rồi đây họ cũng sẽ trở nên giống như vậy. Không ai săn sóc họ, họ chỉ sống nhờ nguồn tiếp tế duy nhất đến từ chính phủ Hawai. Khi dù mang thực phẩm được thả xuống, họ cướp giật tranh nhau, họ không thiết gì canh tác trồng trọt, chỉ có một điều cần duy nhất là rượu, uống rượu để quên hết những đau khổ và ưu phiền. Với những người mới đến, người ta tuyên bố ở đây không có luật lệ gì hết. Đó là sự thất vọng hoàn toàn, một sự dơ bẩn ghê tởm nhất. Không có ai mang lại cho những người xấu số này một chút hy vọng sao? Cho tới lúc đó, chỉ có những nhà truyền giáo tạm dừng chân một vài ngày rồi lại đi mất, nhưng Thiên Chúa đã không thể bỏ con cái Ngài.

Năm 1873, một nhóm sáu nhà truyền giáo họp với Đức Giám mục. Đức Giám mục bày tỏ: “Khắp nơi trong địa phận nhà đã được Phúc âm hóa”. Một trong các vị truyền giáo trả lời: “Thưa Đức Cha, Đức Cha đã quên một hòn đảo, phải, hòn đảo đó là Molokai. Các nơi khác có thể là thiên đàng, nhưng Molokai quả là một hỏa ngục”. Một vị khác tuyên bố: “Con đây sẵn sàng được chôn sống giữa họ”. Mọi người quay nhìn vị truyền giáo đó và nhận ra là cha Đamiên, một linh mục trẻ, sinh tại nước Bỉ vào năm 1840 và từ 18 tuổi, đã ước ao làm nhà truyền giáo. Ngài có mặt ở quần đảo Hawai từ 10 năm nay, thay thế anh ruột mình, một linh mục trẻ định sang truyền giáo ở đây nhưng chết trước khi thi hành ý nguyện. Đức Giám Mục chấp thuận đề nghị nhưng với ý định chỉ để cha ở đó ít tháng thôi.

Sau một thời gian, Đức Giám mục nhận được thư những người hủi, trong đó có viết: “Thưa Đức Cha, cám ơn Đức Cha vì đã gởi đến cho chúng con một linh mục, nhưng tại sao Ngài lại muốn cất linh mục ấy đi, vì linh mục này yêu thương chúng con nồng nàn và rất muốn ở lại với chúng con?”. Đức Giám Mục bằng lòng chấp thuận, và trước mặt những tín hữu mới của Ngài, cha Đamiên tuyên bố: “Các con quý mến, cha sẽ ở với các con cho đến mãn đời. Đời sống các con là đời sống của cha, và nếu Chúa muốn, một ngày nào đó bệnh của các con cũng là bệnh của cha. Cha sẵn sàng trở nên hủi với chúng con”. Trong cái nghĩa địa sống đó, cha Đamiên không ngừng làm phát triển đức ái.

Một ngày khi trở về lều mình, cha nghe một tiếng yếu ớt phát ra từ miệng hố. Ngài nhìn xuống và thấy một người hủi nằm gọn trong đó. Ngài hỏi: “Con làm gì ở dưới vậy?”, người hủi trả lời: “Những người khác đuổi con, con không chống lại được, người ta nói con không cần lều để chết”. Cha Đamiên đưa người đó vào lều mình và đặt người đó trên giường mình.

Lần khác, Ngài đi ngang qua một hố đổ rát, thấy một người đẩy một chiếc xe cút kít, sau đó hắt một vật gì trên xe xuống đống rác, cha tưởng là đồ dơ, nhưng khi vật đụng đến đất, một tiếng người khẽ rên lên. Người ta đã không đợi cho anh ấy thở hơi cuối cùng để vứt vào đống rác.

Cha Đamiên, từ đó, tự đi đóng cho mỗi người một cái hòm. Để chôn những người xấu số này, cha đã lập một nghĩa địa. Cha Đamiên lo lắng chăm sóc cho hết mọi người, băng bó mọi vết thương, đỡ nâng những người không đi nổi, khai mở nước từ xa về để cho người phong cùi tắm rửa sạch sẽ. Những túp lều cũ thối hôi đầy gián, mối, cha phá đi để cất những lều mới. Cha Đamiên quả thật là một người cha của mọi người, ngay cả đối với những người lúc đầu tìm cách trục xuất Ngài khỏi đó. Có những lúc Ngài gặp những trở ngại to lớn: chính phủ từ chối không cho Bề trên Ngài đến thăm Ngài, hay đến nơi Ngài ở. Ngài đành phải đứng dưới thuyền để xưng tội to tiếng cùng với một linh mục đứng giải tội trên tàu, vì sợ lây bệnh, nhà nước không cho cha ấy xuống đảo.

Năm 1885, sau một lần đi thăm bệnh trở về, cha thấy chân mình nhúng vào nước sôi mà không biết nóng. Đó là dấu Ngài bị lây hủi. Ngài viết cho Đức Giám Mục: “Người ta thấy có những vết đỏ trên má con, bên tai trái con, lông mày rụng, rồi đây con sẽ trở nên dị dạng. Con cảm thấy rất an bình và hạnh phúc hơn bao giờ ở giữa dân tộc của con”. Ngài tiếp tục làm việc bốn năm nữa với cơn bệnh ngày càng phát triển. Ngày 30.03.1889, Ngài nằm liệt giường, Ngài nói: “Hãy xem tay tôi: các vết thương đều đóng lại, vảy trở thành đen. Đó là dấu chỉ sự chết đến gần. Hãy xem mắt tôi: tôi đã giúp bao người hủi hấp hối, tôi không lầm, sự chết không còn xa”. Ngài chết ngày 15.04.1889.

Tấm gương anh hùng trên đây đã nhắc cho chúng ta bổn phận sống lời cam kết mà chúng ta đọc mỗi ngày: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến”. Loan truyền và tuyên xưng không phải chỉ bằng môi miệng, hay như người ta thường nói “đầu môi chót lưỡi”, nhưng bằng chính cuộc sống mình. Biết hy sinh, biết chết đi như Chúa Kitô trên thập giá, như cha Đamiên tông đồ người hủi, trong niềm hy vọng sống lại với Chúa.

Không cần gì dốc lòng nhiều lời, hãy cố tâm thực hiện cho bằng được những cử chỉ, dầu nhỏ mọn, để hy sinh và mang lại niềm hy vọng, được như thế, là chúng ta đạt được những gì Chúa muốn và những gì lòng ta, những linh mục chân chính, đầy thiện chí, hằng ước mơ.

+ GM Phêrô Nguyễn Soạn          
VietCatholic News (28/02/2005)