Sunday, March 3, 2019

Linh mục là như thế đó...Thư một linh mục Công giáo gửi báo The New York Times

Nguyễn Trọng Đa dịch
03/Apr/2013

Lời người dịch: “Đây là một bài đọc hữu ích để tái lập sự quân bình phần nào so với một sự tấn công dàn dựng của nhiều phương tiện truyền thông. Liệu việc tìm kiếm sự thật không đòi hỏi rằng các thực tại tiêu cực không ngăn cản chúng ta nhìn thấy các thực tại tích cực, khi các thực tại này có thể khuyến khích chúng ta, truyền cảm hứng cho chúng ta làm sự thiện chăng? Nó cũng sẽ là một thuốc chữa cho sự rầu rĩ lan tràn” (www.riposte-catholique.fr).

Nhật báo The New York Times là một tờ báo lâu đời ở Mỹ, nổi tiếng là chống đạo Công giáo một cách có hệ thống. Báo này khai thác, quá nhiều và không công bằng, một vài vụ linh mục ấu dâm ở Mỹ và nơi khác, trong khi không hề đưa tin về tuyệt đại đa số linh mục có tâm huyết với Giáo Hội, hy sinh cuộc đời vì Chúa và vì tha nhân. Do đó linh mục Martín Lasarte, người Uruguay, Dòng Don Bosco (SDB), một nhà truyền giáo ở Angola từ 20 năm qua, đã viết bài dưới đây gửi nhật báo The New York Times ngày 6-4-2010. Dễ hiểu là nhật báo không hề trả lời lá thư của cha. Vài ngày sau, lá thư được đăng trên trang mạng Enfoques Positivos ở Argentina, và phát tán nhanh trên các trang mạng bằng tiếng Tây Ban Nha. Sau đó, bản dịch tiếng Anh được phổ biến ở nhiều nước nói tiếng Anh. Mới đây, bản dịch tiếng Pháp được trang www.riposte-catholique.fr đăng ngày 22-3-2013. Xin được giới thiệu bài viết đầy tính thời sự này.


Anh bạn phóng viên thân mến.

Tôi chỉ là một linh mục Công giáo bình thường. Tôi cảm thấy hạnh phúc và tự hào về ơn gọi của mình. Trong 20 năm qua, tôi đã sống ở Angola với tư cách là một nhà truyền giáo.
Tôi đọc trong nhiều phương tiện truyền thông, đặc biệt là tờ báo của bạn, sự phóng đại của chủ đề linh mục ấu dâm, nhưng trong một cách bệnh hoạn, vì chỉ tìm kiếm chi tiết trong đời sống các linh mục, các sai lầm trong quá khứ.


Có một trường hợp linh mục ấu dâm, trong một thành phố của Mỹ, trong những năm 1970, một trường hợp ở Úc trong thập niên 1980, và cứ như thế, có trường hợp mới đây hơn.... Chắc chắn rằng tất cả các trường hợp này đáng bị khiển trách!


Có các bài báo được cân nhắc và cân bằng, có các bài khác lại phóng đại, đầy thành kiến và thậm chí hận thù nữa. Tôi tự cảm thấy đau đớn nhiều về sự dữ lớn lao rằng các người đáng lẽ là dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa, lại là con dao găm trong cuộc sống của các người vô tội. Không có từ ngữ nào để biện minh cho các hành vi như vậy. Không có nghi ngờ rằng Giáo Hội phải là đứng về phia kẻ yếu, và người nghèo. Vì lý do này, tất cả các biện pháp mà người ta có thể dùng để ngăn ngừa và bảo vệ nhân phẩm của trẻ em sẽ luôn luôn là một ưu tiên.


Nhưng sẽ là kỳ cục hết sức khi có ít tin tức và sự thiếu quan tâm đến hàng ngàn các linh mục khác, đã hiến đời mình và phục vụ hàng triệu trẻ em, thanh thiếu niên và các người bất hạnh nhất ở bốn phương trời của thế giới.


Tôi nghĩ rằng đối với tờ báo của bạn, các điều sau đây không hề được quan tâm đề nói tới:


1) Tôi phải di chuyển qua các con đường đầy mìn do chiến tranh trong năm 2002, để giúp đỡ các em nhỏ đang chết đói từ Cangumbe đến Lwena (Angola), bởi vì cả chính quyền không thể làm được và cả các tổ chức phi chính phủ không được phép làm;


2) Tôi đã chôn cất hàng chục trẻ em chết do việc dời chỗ vì chiến tranh;


3) Chúng tôi đã cứu sống hàng ngàn người dân ở Mexico, nhờ một trung tâm y tế duy nhất hiện hữu trong một vùng có diện tích 90.000 km2, với việc phân phát thực phẩm và các loại giống cây trồng;


4) Chúng tôi đã có thể cung cấp giáo dục và trường học trong mười năm qua cho hơn 110.000 trẻ em;


5) Cùng với các linh mục khác, chúng tôi đã cứu trợ cho gần 15.000 người ở các trại du kích quân, sau khi họ đã đầu hàng và giao nạp vũ khí, bởi vì thực phẩm của chính phủ và của Liên Hiệp Quốc không thể đến được với họ;


6) Không phải là tin tức thú vị khi một linh mục 75 tuổi, Cha Roberto, rảo qua thành phố Luanda ban đêm, chăm sóc các trẻ em đường phố, dẫn họ đến một nơi trú ngụ, để cho họ không bị ngộ độc bởi xăng dầu mà họ hít để kiếm sống, như là người ném lửa;


7) Việc xoá nạn mù chữ cho hàng trăm tù nhân cũng không phải là tin hay;


8) Các linh mục, như cha Stéphane, tổ chức các nhà tạm trú cho các thanh thiếu niên bị ngược đãi, đánh đập, hãm hiếp, để họ tạm lánh;


9) Linh mục Maiato, 80 tuổi, đến thăm từng ngôi nhà một của người nghèo, an ủi người bệnh và người tuyệt vọng;


10) Không phải là tin hấp dẫn khi hơn 60.000 trong số 400.000 linh mục và tu sĩ hiện nay đã rời đất nước và gia đình của họ để phục vụ anh em mình tại các quốc gia khác trong các trại phong, bệnh viện, trại tị nạn, cô nhi viện cho trẻ em bị cáo buộc là phù thủy, hoặc cho trẻ em mồ côi do cha mẹ chết vì AIDS, trong các trường học dành cho người nghèo nhất, trung tâm dạy nghề, trung tâm tiếp nhận người nhiễm HIV......


11) Nhất là các linh mục dành đời mình trong các giáo xứ và cứ điểm truyền giáo, động viên mọi người sống tốt hơn và nhất là thương mến người khác;


12) Không phải là tin hấp dẫn khi bạn tôi, Cha Marcos Aurelio, để giải cứu trẻ em trong cuộc chiến ở Angola, đã đưa các em từ Kalulo đến Dondo và khi trên đường trở về, cha bị bắn chết; và một tu sĩ tên là Phanxicô và năm nữ giáo lý viên, bị chết trong một tai nạn, khi họ đi giúp đỡ các vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh nhất của đất nước;


13) Hàng chục các nhà truyền giáo tại Angola đã chết vì thiếu các phương tiện y tế, chỉ vì bệnh sốt rét đơn giản;


14) Nhiều người khác đã bị tung xác lên trời do mìn nổ, khi đi thăm các tín hữu; quả vậy, trong nghĩa trang ở Kalulo, có mộ các linh mục đầu tiên đến khu vực ấy... không ai sống hơn 40 tuổi cả....;


15) Không phải là tin hấp dẫn, khi một linh mục "bình thường" sống công việc hàng ngày của mình, trong các khó khăn và niềm vui của mình, sống âm thầm cả đời vì lợi ích của cộng đoàn mình phục vụ;


Sự thật, là linh mục chúng tôi không cố gắng để có tên trong tin tức, nhưng chỉ mang "Tin Mừng", và Tin Mừng này, không ồn ào, đã bắt đầu vào buổi sáng Phục Sinh. Một cây ngã gây tiếng ồn nhiều hơn cả cánh rứng đang mọc và phát triển.


Người ta gây nhiều tiếng ồn cho một linh mục phạm một lỗi lầm, hơn là gây tiếng ồn cho hàng ngàn linh mục hiến đời mình cho hàng chục ngàn trẻ em và người nghèo khó.


Tôi không muốn làm một biện hộ cho Giáo Hội và các linh mục.


Một linh mục không phải là một anh hùng, cũng không phải là một người rối loạn thần kinh. Linh mục chỉ là một con người bình thường, và với bản tính con người của mình, tìm cách theo Chúa và phục vụ Ngài trong anh chị em của mình.


Linh mục có nhiều khổ đau, nghèo đói và sự mỏng giòn như các người khác; nhưng linh mục cũng có vẻ đẹp và hùng vĩ như mọi thụ tạo khác.... Việc nhấn mạnh một cách ám ảnh bẩm sinh và phá hoại về một đề tài đau đớn, trong khi mất tầm nhìn chung của công việc, tạo ra thật sự các biếm họa tấn công vào hàng linh mục Công Giáo, do đó tôi cảm thấy bị xúc phạm.

Tôi chỉ yêu cầu anh, người bạn phóng viên thân mến, hãy tìm kiếm Chân, Thiện, Mỹ. Điều này sẽ làm lớn mạnh nghề nghiệp của bạn.


Chào anh trong Đức Kitô,


Linh mục Martin Lasarte, SDB


"Quá khứ của con, Lạy Chúa, con phó thác cho lòng Thương xót của Chúa; hiện tại của con, cho Tình yêu Chúa; và tương lai của con, cho sự Quan Phòng của Chúa”.


(www.riposte-catholique.fr ngày 22-3-2013)


Nguyễn Trọng Đa dịchhttp://vietcatholic.org/News/Html/103949.htm

Sunday, February 24, 2019

Tội phạm và hình phạt theo luật Giáo Hội Công Giáo

§ Lm Nguyễn Tất Thắng, OP

Xét theo bản chất, Giáo Hội Công Giáo vừa là một thực thể tâm linh (nhiệm thể Chúa Kitô) vừa là một đoàn thể hữu hình bao gồm các giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân Kitô). Đồng thời, Giáo Hội là một tổ chức có cơ cấu phẩm trật, trong đó các phần tử đối với nhau theo công bằng và bác ái. Ngoài ra, các tín hữu phải vâng phục các vị lãnh đạo của mình tại địa phương cũng như tại trung ương.

1. Quyền bính của Giáo Hội

Xét theo đối ngoại, Giáo Hội lãnh nhận quyền hành từ Chúa Giêsu, Đấng Sáng Lập Giáo Hội, chứ không phải do nhân dân hay Nhà nước ban cấp. Do đó, Giáo Hội gọi quyền này là quyền bẩm sinh (x. đ. 362; 747 §1; 1254 §1; 1260). Xét theo đối nội, Giáo Hội phải đặt ra những quy luật thường được gọi là “luật” để xác định rõ ràng tương quan công lý giữa các phần tử. Trước tiên, Giáo Hội phải chu toàn những nghĩa vụ với Chúa như trung thành với Lòi Chúa, đức tin, bí tích, loan truyền Tin Mừng cho mọi người. Tiếp theo, Giáo Hội nhắc nhở các tín hữu chu toàn những nghĩa vụ của họ đối với Chúa và Giáo Hội, sống xứng đáng với địa vị con cái Thiên Chúa, hiệp thông để xây dựng Giáo Hội vững mạnh trong đức tin, đức cậy, và đức ái.

2. Giáo Hội là cộng đoàn các thánh

Giáo Hội ý thức mình là cộng đoàn các thánh nhưng cũng ý thức rằng tất cả thành phần của Giáo Hội đều là những con người yếu đuối tội lỗi (1Ga 1,18). Do đó, có những thánh phần vi phạm luật lệ, không những gây nên xáo trộn trật tự nhưng còn nghịch lại bản tính thánh thiện của các tín hữu cũng như cộng đoàn Kitô. Một đàng, Giáo Hội tỏ ra nghiêm khắc do ý thức cao độ về ơn cứu độ và sự thánh thiện. Đàng khác, Giáo Hội tỏ ra thông cảm do ý thức về thân phận mỏng dòn của con người. Chính các vị lãnh dạo Giáo Hội đã trải qua những sa ngã nhờ ơn Chúa. Thánh Phêrô chối Chúa 3 lần. Thánh Phaolô đã lộng ngôn, bách đạo và ngạo ngược nhưng đã được Chúa thương xót…(1Tim 1,13-15) Trong xã hội hoặc Giáo Hội, có những thành viên hành động sai lầm nên gây thiệt hại cho cộng đoàn và cá nhân. Xã hội có những hình phạt dành cho các phạm nhân vì làm rối loạn trật tự công cộng. Giáo Hội bài trừ các tội phạm vì chúng làm hoen ố sự thánh thiện của Giáo Hội.

3. Ý niệm và những yếu tố tạo nên tội phạm

Theo Giáo luật, tội phạm được hiểu như là sự vi phạm bên ngoài và có thể quy trách một luật có thể gắn theo một chế tài ít là bất định. Có 3 yếu tố cấu thành tội phạm: 1/ Sự vi phạm bên ngoài về một luật hoặc một mệnh lệnh của Giáo Hội qua lời nói hoặc hành động; 2/ Hành vi ấy có thể quy trách được cho chủ thể, nghĩa là đương sự phải nhận trách nhiệm về hành vi đó khi vi phạm luật cách ý thức và tự do; 3/ Luật hay mệnh lệnh có kèm theo chế tài. Một hành vị chỉ bị coi là tội phạm khi vi phạm một luật có kèm theo hình phạt. Một điều đáng chú ý là chỉ có những tín hữu Công Giáo mới là chủ thể của tội phạm bị trừng phạt theo quy định của bộ Giáo luật.

4. Khàc biệt giữa “tội lỗi” (sin) và “tội phạm” (delict)

“Tội lỗi” là từ dùng cho sự vi phạm trong lãnh vực luân lý. Tội phạm dùng trong lãnh vực hình sự. Tội lỗi khác biệt với tội phạm ở những điểm sau: 1/ Tội lỗi có thể diễn ra trong tâm tư, lời nói và hành động. Tội phạm phải được thực hiện ra bên ngoài; 2/ Tội lỗi có thể là nặng hoặc nhẹ (tội nặng hoặc tội nhẹ), trong khi có chỉ có những vi phạm nặng mới có thể trở thành tội phạm; 3/ Tội lỗi là sự vi phạm luân lý nói chung. Tội phạm chỉ giới hạn vào luật hình sự mà thôi.

5. Mục đích Giáo Hội áp dụng những hình phạt

Giáo luật điều 1399 qui định tổng quát: Ngoài những trường hợp do luật này hay do những luật khác ấn định, sự vi phạm bên ngoài về một luật Thiên Chúa hay luật Giáo Hội chỉ có thể bị một hình phạt thích đáng, khi tính cách nghiêm trọng đặc biệt của sự vi phạm đòi hỏi một sự trừng phạt, và khi có yêu cầu thúc bách phải phòng ngừa hay sửa chữa những gương xấu. Hình phạt là biện pháp của Giáo luật trừng trị tội phạm. Hình phạt gồm có 3 yếu tố: 1/ Bị giới hạn hưởng điều tốt. Phạm nhân có thể bị giới hạn về những điều tốt bên ngoài như không được tham dự các bí tích hoặc giữ các chức vụ; 2/ Vị lãnh đạo mới có quyền thiết lập và áp dụng những hình phạt nhất định (đ. 1319); 3/ Mục đích chính hình phạt là cải hóa phạm nhân và sửa chữa tội phạm. Khi ra hình phạt, Giáo Hội không nhắm đến việc loại trừ phạm nhân ra khỏi cộng đoàn cho bằng tìm cách giúp họ xứng đáng lãnh nhận ơn cứu rỗi. Chính vì thế, cải hóa phạm nhân đi trước việc trừng trị tội phạm.

6. Những hình phạt “chữa trị” (penal remedies) và những hình phạt “đền tội” (expiatory penalties)

Hình phạt “chữa trị” được coi như thuốc chữa bệnh, giúp cải thiện phạm nhân để họ từ bỏ cố chấp. Trước khi ra hình phạt, cần phải cảnh cáo họ để họ từ bỏ sự cố chấp, nếu khuyến cáo vô ích thì mới dùng hình phạt (đ. 1347 §1). Hình phạt này kéo dài cho đến khi phạm nhân thành thực hối lỗi. Phạm nhân được tha khi chấm dứt sự cố chấp (đ. 1358 §1). Hình phạt “đền tội” hay báo đáp được áp dụng vì ích lợi thiện ích công cộng hơn là cá nhân. Hình phạt này thường được xác định thời gian.

7. Những vị có thẩm quyền thiết lập hình phạt dưới hình thức luật hoặc mệnh lệnh

Những vị có thẩm quyền được phân chia ra như sau: 1/ Chí có những vị nào có thẩm quyền lập pháp mới có thể thiết lập luật hình sự (đ. 1315); 2/ Ai được quyền cai quản thì có thể thiết lập mệnh lệnh hình sự (đ. 1319). Những người có thẩm quyền lập pháp gồm có: a) Đức Thánh Cha và Công đồng hoàn vũ, đối với toàn thể Giáo Hội; b) Các công đồng địa phương (quốc gia, miền) trong giới hạn địa phương; c) Giám mục giáo phận trong giáo phận của mình. Điều 1315 giải thích thêm về việc cơ quan địa phương có thẩm quyền trong 5 điểm sau: a) Họ có thể ban hành luật kèm theo hình phạt dành cho địa phương của mình (đ. 1315 §1), thí dụ thêm hình phạt cho các sòng bạc, buôn ma tuý hoặc buôn dâm; b) Họ có thể thêm hình phạt vào một luật Chúa (đ. 1315 §1) thi dụ như thêm hình phạt cho những người ly dị tại toà án dân sự; c) Họ có thể thêm hình phạt vào một luật do cấp trên ban hành (đ. 1315 §1); d) Khi cần thiết trầm trọng, họ có thể tăng thêm hình phạt vào một luật hình do cơ quan lập pháp toàn cầu đã ban hành (đ. 1315 §3); e) Họ có thể quy định hình phạt xác định và bó buộc mà luật chung có tính cách bất định hoặc nhiệm ý (đ. 1315 §3). Tuy nhiên, điều 1317 nhắc nhở: Chỉ nên thiết lập hình phạt khi thực sự cần thiết để bảo vệ kỷ luật Giáo Hội một cách thích hợp.

8. Tính chất hình luật

Khi áp dụng , những hình luật có thể là “xác định” (determinate) hay “bất định” (indeterminate), có thể là “bắt buộc” (obligatory) hay “nhiệm ý” (facultative). Gọi là xác định khi luật đã xác định rõ ràng hình phạt cho phạm nhân, thí dụ ai phạm tội ly giáo thì bị phạt tuyệt thông (x. đi 1364). Gọi là bất định vì nhà lập pháp dành việc xác định hình phạt cụ thể cho cơ quan hành pháp (đ. 1315 §2). Gọi là bắt buộc khi luật buộc phải ra hình phạt phạm nhân. Gọi là nhiệm ý khi luật để cho nhà chức trách tùy nghi thẩm định có cần ra hình phạt hay không (đ. 1369; 1370 §3; 1371; 1372; 1376; 1377; 1379; 1381; 1386; 1392; 1395 §2; 1396). Ngoài ra còn có hình phạt “tiền kết” hay tự kết (latae sententiae) và hình phạt “hậu kết” (ferendae sententiae). Về hình phạt tiền kết, phạm nhân mắc phải hình phạt ngay khi vi phạm do luật qui định và không cần tòa kết án (x. đ 1314). Hình phạt hậu kết chỉ nhận hình phạt sau khi bị toà kết án.

9. Những tội phạm mắc phải các hình phạt tiền kết

a. Có 6 tội phạm mắc hình phạt tuyệt thông tiền kết: 1/ Những người bội giáo, lạc giáo hay ly giáo (đ. 1364 §1); 2/ Những người ném bỏ, lấy hoặc giữ Mình Máu Thánh Chúa với mục đích phạm thánh (đ. 1367); 3/ Người nào dung vũ lực thể lý chống lại Đức Giáo Hoàng Roma (đ. 1370 §1); 4/ Tư tế nào giải tội phạm điều thứ sáu cho người đồng lõa, chiếu theo điều 977 (đ. 1378 §1); 5/ Giám Mục nào phong chức Giám Mục cho một người mà không có thư ủy nhiệm của Đức Giáo Hoàng, cũng như người nào được vị ấy truyền chức cho (đ. 1382); 6/ Cha giải tội trực tiếp vi phạm ấn tòa giải tội (đ. 1388)

b. Có 5 tội phạm mắc hình phạt cầm chế tiền kết: 1 Người nào dung vũ lực thể lý chống lại một người có chức Giám Mục (đ. 1370 §2); 2/ Người nào không phải là tư tế mà cám cử hành Thánh Lễ hay ban bí tích Giải tội hoặc nghe xưng tội như bí tích (1378 §2); 3/ Giám mục phong chức cho một người thuộc quyền Giám Mục khác mà không có thư giới thiệu hợp pháp (đ. 1383); 4/ Người nào cáo gian một cha giải tội với Bề Trên trong Giáo Hội về tội dụ dỗ hối nhân phạm tội điều răn thứ sáu, chiếu theo điều 1387 (đ. 1390 §1); 5/ Một giáo sĩ mưu toan kết hôn, dù chỉ là dân sự, thì bị vạ huyền chức tiền kết (đ. 1394 §1)

c. Có 6 tội phạm mắc hình phạt huyền chức: 1/ Giáo sĩ dung vũ lực thể lý chống lại một người có chức Giám Mục (1370 §2); 2/ Giáo sĩ không phải là tư tế mà dám cử hành phụng vụ Hiến Tế Thánh Thể hoặc dám ban bí tích Giải Tội hoặc nghe xưng tội như bí tích (đ 1378 §2); 3/ Người được thụ phong do một Giám Mục khác mà không có thư giới thiệu hợp pháp (đ. 1383); 4/ Giáo sĩ cáo gian một cha giải tội với Bề Trên trong Giáo Hội về tội dụ dỗ hối nhân phạm tội điều răn thứ sáu, chiếu theo điều 1387 (đ. 1390 §1); 5/ Giáo sĩ mưu toan kết hôn, dù chỉ là hôn nhân dân sự (đ. 1394 §1)

d. Có 1 tội phạm mắc cấm chế tiền kết: Giám Mục truyền chức cho một người thuộc quyền Giám Mục khác mà không có giấy giới thiệu hợp pháp, thì bị cấm truyền thức trong vòng một năm (đ. 1383

10. Những hình phạt chữa trị

Trong bộ Giáo luật hiện hành, nhà lập pháp đã liệ kê ba thứ hình phạt chữa trị: tuyệt thông (excommunication), cấm chế (censure) và huyền chức (suspension). 1/ Hình phạt vạ tuyệt thông ngăn cấm phạm nhân lãnh nhận tất cả các bí tích. Chính đương sự tự ý rời bỏ Giáo Hội, chứ không phải là Giáo Hội đã trục xuất họ (x. Đ. 316 §1; 1117); 2/ Cấm chế có nghĩa là bị cấm đoán. Trong giai đoạn một, phạm nhân bị: a) cấm không được làm thừa tác viên trong các buổi cử hành phụng vụ; b) cấm không được ban và nhận lãnh các bí tích và á bí tích. Trong giai đoạn hai (sau khi bị tuyên án) phạm nhân bị trục xuất khỏi các buổi cử hành phụng vụ hay buổi lễ phải tạm đình chỉ; 3/ Huyền chức (suspension) chỉ áp dụng cho giáo sĩ. Phạm nhân bị cấm thi hành các chức năng thuộc quyền thánh chức, quyền cai quản hoặc quyền lợi trong bậc giáo sĩ (đ. 1333 §1)

11. Những hình phạt đền tội

Những hình phạt đền tội nhắm mục đích sửa chữa những tổn hại mà tội phạm đãy gây ra. Điều 1336 §1 nêu lên 5 hình thức hình phạt vĩnh viễn hoặc tạm thời: 1/ Cấm chỉ (prohibition) hay bắt buộc lưu trú tại một nơi hay một lãnh thổ nhất định. Hình phạt này áp dụng cho giáo sĩ và tu sĩ; 2/ Tước quyền hành (privation of power) hay chức vụ (office), nhiệm vụ (function), quyền lợi (right), đặc ân (privilege), năng quyền (faculty), ân huệ (grace) danh hiệu (title) hoặc phù hiệu (insignia) dù chỉ là thuần túy danh dự; 3/ Cấm thi hành những điều kê khai ở số 2 hoặc cấm thi hành các điều ấy ở một nơi hoặc ngoài một nơi nhất định; 4/ Thuyên chuyển sang chức vụ khác vì tính cách hình sự. Theo giáo luật, có thứ thuyên chuyển như là thủ tục hành chánh (đ. 190-191; 1748-1752) nhắm tới ích lợi của các tín hữu hoặc nhu cầu của Giáo Hội. Còn sự thuyên chuyển hình sự nhằm trừng phạt một tội phạm; 5/ Trục xuất khỏi hàng giáo sĩ. Ấn tích đã nhận lãnh do chức thánh không thể nào bị hủy bỏ hoặc tước đoạt (đ. 1328 §2). Tuy nhiên, giáo sĩ bị cấm thi hành tác vụ chức thánh và mất hết quyền lợi bậc giáo sĩ. Việc cấm thi hành chức thánh bị đình chỉ mỗi khi cần phải giúp một người tín hữu đang trong tình trạng nguy tử (đ. 1338 §2, đ. 1335)

12. Những biện pháp hình sự và việc sám hối

Điều 1339 nói đến hai biện pháp “cảnh cáo” (warning) và “khiển trách” (rebuke). Bề Trên cảnh cáo để họ dừng lại việc họ đang toan tính hoặc cảnh cáo họ từ bỏ sự cố chấp. Cảnh cáo bằng văn thư là điều kiện hữu hiệu cho việc tuyên kết (đ. 1347). Nhà lập pháp đòi hỏi Bề Trên Dòng tu phải cảnh cáo tu sĩ hai lần trước khi tiến hành thủ tục trục xuất (đ. 697). Bề trên khiển trách đương sự để họ thấy hạnh kiểm của họ gây ra gương xấu và xáo trộn trật tự trầm trọng. Theo sự khôn ngoan của mình, Đấng Bản Quyền có thể thêm những việc sám hối vào dược hình cảnh cáo và khiển trách thay vì đưa ra cách hình phạt nặng hơn vì phạm nhân đáng được khoan hồng (đ. 1324 §1; 1328 §2) hay đã hối cải (đ. 1343)

Lm Nguyễn Tất Thắng, OP
http://danchuausa.net/giao-hoi-hoan-vu/toi-pham-va-hinh-phat-theo-luat-giao-hoi-cong-giao/

Sunday, January 27, 2019

Ba vị Tiến sĩ “lặng thinh” trước câu hỏi của một cụ bà

Sau Thế chiến I, một nước nọ muốn dùng phương pháp khoa học để tuyên truyền người dân không tin vào Thần Phật, họ mong muốn cả dân tộc thoát ly khỏi tín ngưỡng. Vậy là trong một buổi hội thảo, chính quyền mời ba vị Tiến sĩ lên thuyết giảng…

Vị thứ nhất là Tiến sĩ về Thiên văn, sau khi ông bước lên sân khấu lý giải vô số lý do về thuyết vô thần, cuối cùng ông hô to: “Tôi đã dùng kính viễn vọng quan sát vũ trụ hơn 20 năm nhưng chưa bao giờ trông thấy Thần, vì thế chắc chắn không có thần thánh”. Sau câu nói ông nhận được tràng pháo tay của số đông công chúng.

Vị thứ hai là Tiến sĩ Y học, sau khi nói rất nhiều đạo lý cho rằng con người tuyệt nhiên không có linh hồn, ông kết luận: “Tôi từng giải phẫu hàng trăm thi thể, quan sát tỉ mỉ các bộ phận, thế nhưng không phát hiện có nơi nào để linh hồn gửi gắm. Trong tim à? Trong đầu à? Trong máu à? Tôi đều giải phẫu nhiều lần rồi nhưng không thấy gì, vì thế chắc chắn không có linh hồn”. Nói xong lại nhận được tràng pháo tay vang dội.

Vị thứ ba là một nữ Tiến sĩ, một nhà luận lý học. Cô từ từ bước lên sân khấu rồi phát biểu: “Người chết giống như cái đèn bị tắt. Chết là hết, tuyệt đối không có cái gọi là Thiên đàng hay Địa ngục để phán xét. Tôi từng đọc qua các sách cổ kim đông tây nhưng không thấy ghi chép gì về chuyện này”.

Sau khi ba vị tiến sĩ thuyết giảng xong, người chủ trì hướng về phía công chúng nói: “Nếu trong tất cả mọi người có ai không thỏa mãn, hoặc muốn tranh luận, đều có quyền lên thảo luận công khai”.

Sau một lúc lâu nhưng không có ai lên tiếng phản bác, buổi tuyên truyền chuẩn bị kết thúc trong sự đắc thắng. Bỗng một bà cụ bước lên sân khấu, nói với người chủ trì: “Tôi có thể hỏi thêm vài câu hỏi được không?”

Vị chủ trì nói: “Rất hoan nghênh cụ!”

Thế rồi bà cụ nhìn vị tiến sĩ đầu tiên, hỏi: “Anh dùng kính viễn vọng nhìn được hơn 20 năm, thế anh có nhìn thấy gió không? Nó có hình dạng thế nào?”.

Vị tiến sĩ trả lời: “Kính viễn vọng sao có thể trông thấy gió được thưa cụ?”

Bà cụ nói: “Trên thế giới có gió không? Anh dùng kín viễn vọng nhìn không thấy gió, lẽ nào anh có thể dùng kính viễn vọng nhìn thấy Thần? Anh dùng kính viễn vọng nhìn không thấy Thần thì có nghĩa là không có Thần sao?”. Vị Tiến sĩ chỉ biết im lặng không thể nói lại được.

Thế rồi bà cụ lại nhìn sang vị Tiến sĩ thứ hai, hỏi: “Anh có yêu vợ anh không?”

Vị Tiến sĩ kia thưa: “Dạ, có yêu thưa cụ”.

Bà cụ tiếp lời: “Vậy anh đưa con dao giải phẫu cho tôi, tôi thử mổ bụng anh xem thử cái gọi là ‘yêu’ đó nằm ở bộ phận nào? Trong gan? Trong dạ dày? Hay trong ruột?”. Bên dưới mọi người cười vang dội.

Tiếp tục, bà cụ lại nhìn sang nữ Tiến sĩ hỏi: “Cô đã đọc quyển sách này chưa? Nó gọi là «Kinh thánh». Chẳng phải rõ ràng quyển sách này có nói mọi người sau khi chết đều chịu phán quyết sao? Cô đừng tưởng chết là hết, phải biết rằng việc sau khi chết còn nhiều và dài hơn lúc còn sống rất nhiều! Khi cô còn trong bụng mẹ, nếu có người nói với cô rằng ‘không lâu nữa cô sẽ có mặt trên trái đất, có trời trăng sơn thủy, phải ăn cơm mặc quần áo’, cô có tin không? Thế nhưng hôm nay cô không chỉ tin mà còn thực sự đã đang sống trong thế giới này. Thế giới vĩnh hằng cũng là như thế!”

…..(khoảng lặng dài)……

(Sưu tầm)

Sunday, January 20, 2019

Tuân Giữ…LAW

Linh mục Phạm Tĩnh, SDD
http://www.chatinh.org/tuan-giu-law/

Bạn có biết tại sao chiến tranh, chia rẽ, ghanh ghét và hận thù cứ liên tục xảy ra và cứ tiếp diễn mãi trên thế giới như vậy không? Có nhiều lý do lắm, nhưng tôi nghĩ một trong những nguyên nhân gây ra những sự xáo trộn và phiền não…như vậy là bởi vì người ta, trong đó có tôi và có bạn, CHƯA BIẾT TÔN TRỌNG NHỮNG LUẬT LỆ & NHỮNG TÔN TI TRẬT TỰ ở những nơi ấy một cách nghiêm chỉnh. Thật đấy! 

Xin Bấm Vào Đây Để Đọc Tiếp

Sunday, January 13, 2019

Johannes, chủ ngân hàng trở thành linh mục

Ngọc Yến - Vatican
09 tháng bảy 2018

Johannes sinh năm 1981, trong một gia đình nổi tiếng nhất ở châu Âu, có truyền thống Công Giáo lâu đời. Ông bà của Johannes là cặp vợ chồng hoàng gia cuối cùng của Áo. Thụy Sĩ là quốc gia lưu vong đầu tiên của họ, sau sự sụp đổ của chế độ quân chủ Áo-Hung năm 1918.

Đi khắp các nơi trên thế giới, sau đó gia đình của Johannes trở về Helvetia. Gia đình hoàng gia này có đời sống thực hành đạo nền tảng, tham dự thánh lễ mỗi ngày trong tuần. Nhưng đối với Johannes, khuôn mặt của Chúa Giêsu chưa thực sự có điểm nhấn trong tâm hồn cậu. Johannes thừa nhận: "Tôi ngoan đạo, tôi tham dự Thánh lễ và cầu nguyện, nhưng không thực sự biết rằng Đức Kitô đang sống động, rằng Ngài đã nhập thể và thực sự hiện diện với chúng ta". Trong giai đoạn này, Johannes có những quan tâm khác hơn là tôn giáo. Chàng thanh niên đặt mục tiêu tạo ra sự nghiệp trong thế giới tài chính. Sau khi học tại Romont và sau đó tại trường cao đẳng Sait-Michel ở Fribourg, Johannes bắt đầu học kinh tế. Chỉ mới 23 tuổi, chàng trai gia nhập một ngân hàng Paris chuyên về sáp nhập và mua lại. Uy tín, tiền bạc, có tầm nhìn xa, Johannes đạt được những gì mình mãi mê tìm kiếm.

Nhưng tận trong cõi lòng Johannes cảm thấy có một điều gì đó không ổn. Anh nói. "Bao quanh tôi là những người cởi mở và thân thiện; tôi sống trong một bầu khí tốt. Tôi có rất nhiều bạn. Nhưng đồng thời tôi cảm thấy rất cô đơn và có một cảm giác tận cõi lòng thiếu một điều gì đó trong tâm hồn tôi. Trong môi trường kinh doanh này, một nơi tình yêu không bao giờ thực sự là cho không, tôi hiểu "sự phù vân của thế giới". Không có gì sai khi làm tài chính, nhưng tôi nhận ra rằng người ta không thể đặt tất cả cuộc sống, tất cả sự tin tưởng của mình trong đó". Johannes rời ngân hàng Paris sau một năm để cống hiến hoàn toàn cho một nhiệm vụ khác:có ý nghĩa .

Cha của Johannes, người đã tham gia tại Viện Philanthropos ở Freiburg, đã mời anh ở đó một ngày. Tại đây anh đã gặp một "thế giới mới", nơi anh gặp những người mà "Thiên Chúa là tất cả". Sau đó, anh hiểu sâu sắc thêm rằng trái tim mình khát khao Đức Kitô và quyết định theo học tại học viện nằm trên ngọn đồi Bourguillon.

Trong các cuộc nghiên cứu của mình, anh có một cuộc thảo luận quyết định với em gái, Marie-des-Neiges, người mới 17 tuổi, "đã có một cuộc gặp gỡ cá nhân với Thiên Chúa". Cô đề nghị: "Hãy nói với Chúa Giêsu đến trong tâm hồ anh". Câu nói này khơi dậy trong Johannes một lời van nài nội tâm, cho đến một buổi sáng vào tháng 10 năm 2005, tại nhà thờ Philanthropos, trong Thánh lễ với vai trò là người giúp lễ, anh cảm thấy bên trong một niềm vui lạ thường, một tình yêu mà Đức Kitô mang đến cho anh. Anh nói: "Tôi có một sự hiểu biết bất ngờ rằng Chúa Giêsu là tất cả cho tôi và tôi là tất cả cho Ngài". Một trải nghiệm mà anh mô tả là không thể nói được. Ý tưởng trở thành linh mục bắt đầu nảy sinh trong anh.

Từ khi bắt đầu học tại Philanthropos, Johannes trở nên gần gũi hơn với cộng đoàn Fraternité Eucharistein, có trụ sở tại Valais. Lòng nhiệt thành, tôn trọng, tiếp đón những người nghèo của các thành viên đã gây ấn tượng nơi Johannes. Anh quyết định thực hiện một năm nghỉ phép trong cộng đoàn.

Từ buổi tối đầu tiên, Johannes có một cuộc gặp quyết định cho hành trình tâm linh của mình. Đó là David, một người sử dụng ma túy và từng được điều trị ở bệnh viện tâm thần. Người thanh niên này ban đầu có vẻ "rất kỳ lạ", anh ta nói chuyện với Johannes hàng giờ về niềm đam mê Star Wars.

Johannes thú nhận: "Tôi tự hỏi làm thế nào tôi có thể dành cả một năm với những người như thế này. Một thách thức đối với tôi, tôi cảm thấy lần đầu tiên trong cuộc đời mình là không có khả năng để yêu người thân cận trong sự thật. Sau đó tôi hét lên với Chúa cầu xin ân sủng để có thể vượt qua điều này. Đó là lần đầu tiên tôi "quỳ gối". Cuối cùng, một tình bạn đẹp và lâu dài được hình thành giữa Johannes và David. Johannes trở thành người đỡ đầu cho chàng trai. Johannes hứa sẽ cố gắng hết sức để đến tiến tới chức linh mục. Trong thời gian học Johannes có nhiều bài viết và bài viết cuối cùng của anh có tựa đề "đe dọa của TC". Johannes nói: "Nhiều người sợ từ bỏ chính mình hoàn toàn cho Thiên Chúa trong cuộc sống cụ thể của họ, bởi vì họ sợ phải từ bỏ sự an toàn và những thành công đã đạt được. Trong Kinh Thánh cũng cho thấy Thiên Chúa dường như là một mối đe dọa đối với người được tuyển chọn. Nhưng cuối cùng Thiên Chúa vô cùng tốt lành, là Đấng duy nhất có thể thực sự nâng cao con người lên".

Trở lại và dành tất cả thời gian cho cộng đoàn Fraternité Eucharistein, Johannes có nhiều cuộc gặp gỡ khác với những "người nhỏ bé". Một trong những sứ vụ mà cộng đoàn đã đặt ra là đón tiếp và trợ giúp người "bị lãng quên" của xã hội. Được trang bị với một sự nhạy cảm trí tuệ và nghệ thuật, công việc của Johannes chủ yếu là về thủ công. Một công việc mà từ khi lên 10 tuổi Johannes đã làm, anh không bao giờ nghĩ đến việc sẽ sử dụng nó. Johannes nói: "Chúa phán với tôi như với Áp-ra-ham hay Môi-se, "hãy rời bỏ xứ sở của người". Tôi hiểu rằng Ngài đã trồng tôi ở vùng đất mới này, nơi tôi có thể mang lại hoa trái tốt nhất".

Johannes được chịu chức linh mục ngày 16 tháng 6 năm 2018, tại Verolliez, trên cánh đồng tử đạo, ngay cạnh Tu viện Saint-Maurice. Johannes mau mắn phó thác để cố gắng hơn nữa sự dấn thân của mình với người lân cận, cho Giáo Hội và cộng đoàn Fraternité. Cha muốn đặt mình hoàn toàn vào sự phục vụ của đặc sủng đặc biệt của Eucharistein, đó là phát triển của đức tin qua đời sống cộng đồng, sùng kính Thánh Thể, cũng như chia sẻ cuộc sống với những người gặp khó khăn.(Cath.ch 13/06/2018)


Sunday, December 23, 2018

ĐTC Phanxicô: Đừng tục hóa lễ Giáng sinh; sống những bất ngờ từ Thiên Chúa

Hồng Thủy - Vatican
https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2018-12/dtc-phanxico-giang-sinh-nhung-bat-ngo-thien-chua-yeu-thich.html

Chỉ còn 6 ngày nữa là đến lễ Giáng sinh. Vì thế, trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư 19/12, ĐTC Phanxicô đã trình bày về những điều ngạc nhiên trong lễ Giáng sinh đầu tiên và mời gọi các tín hữu đừng hiểu sai về cách mừng lễ Giáng sinh, đừng tục hóa lễ Giáng sinh nhưng hãy tự hỏi xem Chúa Giêsu thích chúng ta mừng lễ Giáng sinh như thế nào.

ĐTC bắt đầu bài giáo lý với nhận xét rằng: Các cây thông, những đồ trang trí, đèn điện ở khắp mọi nơi nhắc rằng Giáng sinh năm nay cũng là một ngày lễ hội. Chiếc máy quảng cáo mời người ta trao đổi những món quà mới lạ để tạo cho nhau sự ngạc nhiên. Nhưng đây có phải là ngày lễ mà Thiên Chúa yêu thích không? Đâu là lễ Giáng Sinh mà Chúa mong muốn? Những món quà nào, những ngạc nhiên nào mà Thiên Chúa đang chờ đợi?

Giáng sinh đầu tiên trong lịch sử đầy những điều ngạc nhiên

Chúng ta hãy quan sát ngày Giáng sinh đầu tiên trong lịch sử để khám phá điều Chúa yêu thích. Lễ Giáng sinh đầu tiên trong lịch sử đầy những điều ngạc nhiên. Bắt đầu từ Mẹ Maria, vị hôn thê của thánh Giuse: thiên thần hiện ra với Mẹ và thay đổi cuộc đời của Mẹ. Từ một trinh nữ Mẹ sẽ trở thành bà mẹ.

Rồi đến lượt thánh Giuse, được gọi làm cha của đứa con mà ngài không sinh ra. Cao trào của câu chuyện là khi đứa con xuất hiện vào thời điểm không được chờ đợi nhất, là khi Mẹ Maria và thánh Giuse đã hứa hôn và theo Luật Do thái họ chưa thể chung sống. Trước xì căng đan đó, nếu theo cách xử thế khôn ngoan của thời đó, thánh Giuse nên ruồng bỏ Mẹ Maria để cứu lấy danh dự tốt đẹp của ngài; nhưng dù có quyền đó, thánh nhân làm mọi người ngạc nhiên: để không làm tổn hại đến Mẹ Maria, thánh nhân nghĩ đến việc rời bỏ Mẹ cách kín đáo, dù có khi phải trả giá cho việc làm này là chính thanh danh của ngài.

Rồi lại một điều ngạc nhiên khác nữa: Trong giấc mơ, Thiên Chúa đã thay đổi kế hoạch của thánh Giuse và yêu cầu thánh nhân đón nhận Mẹ Maria về với mình. Khi Chúa Giêsu đã chào đời, khi mà thánh Giuse đã có những kế hoạch cho gia đình thì trong giấc mơ, ngài được Chúa bảo hãy trỗi dậy và đi sang Ai cập. Tóm lại, Giáng sinh đem đến những thay đổi bất ngờ cho cuộc sống. Và nếu chúng ta muốn sống lễ Giáng sinh, chúng ta phải chuẩn bị tâm hồn mình sẵn sàng trước những ngạc nhiên, nghĩa là sẵn sàng cho một sự thay đổi đời sống cách bất ngờ.

Chúa Giêsu sinh tại Belem là ngạc nhiên lớn nhất

Nhưng chính trong đêm Giáng sinh, bất ngờ lớn nhất xảy đến. Đấng Tối Cao là một hài nhi bé nhỏ. Ngôi Lời trở thành một trẻ sơ sinh, theo nghĩa đen là “không nói được. Không có các vị lãnh đạo chính quyền thời đó hay các vị đại sứ, đón tiếp Đấng Cứu Thế mà chỉ có các mục đồng đơn sơ, những người đang làm việc trong đêm tối và bị bất ngờ bởi lời loan báo của các thiên thần, nhưng không chậm trễ chờ đợi, họ đã chạy đi gặp Người. Ai mà chờ đợi điều đó xảy ra? Giáng sinh là việc cử hành điều chưa bao giờ xảy ra của Thiên Chúa, hay nói cách hay hơn, là cử hành một Thiên Chúa chưa từng được biết như thế, là điều đảo lộn các lý luận và chờ đợi của chúng ta.

Giáng sinh khai mở một kỷ nguyên mới

Do đó, cử hành lễ Giáng sinh là đón nhận những điều ngạc nhiên từ Trời cao đến trên trái đất này. Chúng ta không thể sống “những điều của thế giới này trên trái đất này”, khi mà Trời cao đã mang đến thế gian những điều mới mẻ. Giáng sinh khai mở một kỷ nguyên mới, nơi mà cuộc sống không theo những lập trình cứng ngắc nhưng là trao tặng; nơi người ta không sống vì mình, theo những sở thích riêng của mình, nhưng sống cho Chúa; và với Thiên Chúa, bởi vì Giáng sinh của Thiên Chúa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Đấng sống cùng chúng ta, bước đi cùng chúng ta.

Để mình được những điều ngạc nhiên đánh động

Sống biến cố Giáng sinh là để cho mình được những điều mới mẻ ngạc nhiên đánh động. Giáng sinh của Chúa Giêsu không mang lại hơi ấm bảo vệ của lò sưởi nhưng là một sự rùng mình thiêng liêng làm rung chuyển lịch sử. Giáng sinh là chiến thắng của sự khiêm nhường trước sự kiêu ngạo, của sự đơn giản trước sự giàu sang, của thinh lặng trước ồn ào, của cầu nguyện về "thời gian của tôi", của Thiên Chúa trên “cái tôi” của tôi.

Cử hành Giáng sinh như Chúa Giêsu, Mẹ Maria, thánh Giuse, các mục đồng

Như thế, chúng ta phải cử hành lễ Giáng sinh thế nào cho thích hợp? ĐTC giải thích: Cử hành lễ Giáng sinh là cử hành với Chúa Giêsu, Đấng đã trở nên nghèo khó vì chúng ta và Người xuống thế với những ai cần đến chúng ta. Đó là cử hành như Mẹ Maria: tín thác, vâng phục Thiên Chúa, ngay cả khi không hiểu điều mà Thiên Chúa sẽ làm. Đó là cử hành như thánh Giuse: đứng dậy thi hành điều Thiên Chúa muốn, ngay cả khi nó không theo các kế hoạch của chúng ta. Thánh Giuse ngạc nhiên: trong Tin mừng thánh Giuse không bao giờ nói điều gì, không có lời nào của thánh Giuse được thuật lại trong Tin mừng; và Thiên Chúa nói với ngài trong sự thinh lặng, ngay trong giấc mơ. Giáng sinh là chọn lựa tiếng nói âm thầm của Thiên Chúa hơn là sự ồn ào huyên náo của chủ nghĩa tiêu thụ. Nếu chúng ta biết ở bên hang đá trong thinh lặng, Giáng sinh cũng sẽ là một sự ngạc nhiên đối với chúng ta, chứ không phải là một điều đã nhìn thấy, đã xưa rồi. Thinh lặng trước hang đá: đây là lời mời gọi cho lễ Giáng sinh. Bạn hãy dành chút thời gian, đến trước hang đá và thinh lặng. Bạn sẽ cảm thấy, sẽ nhìn thấy điều ngạc nhiên.

Đừng tục hóa lễ Giáng sinh

ĐTC nhận xét rằng: Tuy nhiên, thật không may, người ta có thể nhầm lẫn về ngày lễ và yêu thích những điều bình thường của thế gian hơn là những điều mới mẻ từ Trời. Nếu Giáng sinh vẫn chỉ là một ngày lễ truyền thống đẹp đẽ, nơi mà chúng ta là trung tâm chứ không phải là Thiên Chúa, thì nó sẽ chỉ là một cơ hội bị đánh mất. Xin anh chị em đừng tục hóa lễ Giáng sinh! Chúng ta đừng bỏ qua việc mừng lễ, như ngày xưa đó, khi “Người đến giữa dân Người và họ đã không đón tiếp Người” (Ga 1,11). Ngay từ đầu Tin mừng của mùa Vọng, Chúa đã cảnh giác chúng ta, khi yêu cầu chúng ta đừng để cho mình trở nên nặng nề vì chè chén say sưa và lo lắng sự đời (LC 21,24). Trong những ngày này, người ta vội vàng như thể chưa bao giờ trong suốt năm. Nhưng mà như thế là người ta làm trái ngược lại điều Chúa Giếu mong muốn. Chúng ta đổ lỗi cho nhiều thứ phải làm trong ngày, cho thế gian này qua mau quá. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã không đổ lỗi cho thế gian, Người yêu cầu chúng ta đừng để mình bị lôi kéo, nhưng tỉnh thức cầu nguyện trong mọi lúc.

Sẽ là lễ Giáng sinh, nếu…

ĐTC nhắc nhở các tín hữu: Sẽ là lễ Giáng sinh nếu, như thánh Giuse, chúng ta dành chỗ cho thinh lặng; nếu, như Mẹ Maria, chúng ta thưa với Chúa “này con đây”; nếu, như Chúa Giêsu, chúng ta sẽ ở gần bên những người cô đơn; nếu, như các mục đồng, chúng ta sẽ đi ra khỏi những tường rào cản trở chúng ta để ở với Chúa Giêsu. Sẽ là lễ Giáng sinh nếu chúng ta tìm thấy ánh sáng nơi hang đá đơn hèn ở Bêlem. Nó sẽ không phải là lễ Giáng sinh nếu chúng ta tìm những ánh sáng lung linh của thế giới, nếu chúng ta chỉ chất đầy quà cáp, những bữa ăn tiệc tùng mà không giúp đỡ ít nhất là một người nghèo, giống như Thiên Chúa, bởi vì vào đêm Giáng sinh Thiên Chúa đã trở nên nghèo khó.

Hãy để Chúa Giêsu làm chúng ta ngạc nhiên

Cuối cùng, ĐTC chúc mừng Giáng sinh đến các tín hữu, ngài nói: “Anh chị em quý mến, tôi chúc mừng Giáng sinh đến anh chị em, một Giáng sinh đầy những bất ngờ của Chúa Giêsu! Có thể nó có vẻ là những bất ngờ không như ý nhưng là điều Thiên Chúa yêu thích. Nếu chúng ta đón nhận những bất ngờ đó thì chính chúng ta sẽ làm cho mình trở thành một bất ngờ tuyệt vời. Mỗi người trong chúng ta dấu ẩn trong lòng mình khả năng biết ngạc nhiên. Trong Giáng sinh này, chúng ta hãy để cho Chúa Giêsu làm cho chúng ta ngạc nhiên.”

Sunday, December 9, 2018

ĐTC Phanxicô: Tỉnh thức thật sự đòi hỏi hoán cải; hoán cải là sống yêu thương

Hồng Thủy - Vatican

https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2018-12/dtc-phanxico-tinh-thuc-that-su-doi-hoi-hoan-cai.html

Trong buổi đọc Kinh Truyền tin với 45 chục ngàn tín hữu hiện diện tại quảng trường thánh Phêrô trưa Chúa nhật mùng 09.12, dựa trên đoạn Tin mừng Chúa nhật thứ hai mùa Vọng, ĐTC Phanxicô đã mời gọi các tín hữu theo gương thánh Gioan Tẩy giả, dọn đường cho Chúa bằng cách hoán cải đời sống và là chứng nhân cho Chúa khi thắp sáng lại hy vọng trong những cảnh đời đen tối.

Tỉnh thức thật sự là hoán cải

ĐTC bắt đầu bài huấn dụ như sau: Chúa nhật trước phụng vụ mời gọi chúng ta sống thời gian mùa Vọng và chờ đợi Chúa với thái độ tỉnh thức. Chúa nhật thứ hai mùa Vọng hôm nay, phụng vụ chỉ rõ cho chúng ta biết làm thế nào để sống sự chờ đợi này cách thật sự và có ý nghĩa: đó là bắt đầu một hành trình hoán cải.

Bài Tin mừng hôm nay giới thiệu với chúng ta nhân vật Gioan Tẩy giả như là người hướng dẫn cho cuộc hành trình này. Thánh Gioan đi khắp vùng ven sông Giordan, "rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” (Lc 3,3). Để miêu tả sứ vụ của thánh Gioan Tẩy giả, thánh sử Luca dùng lời tiên tri cổ xưa của ngôn sứ Isaia: “Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải san cho phẳng.” (cc. 4-5).

Quan tâm đến nhu cầu của tha nhân; nhận ra lỗi lầm và xin tha thứ

ĐTC nêu lên hai chiều kích hoán cải. Ngài nói: Để dọn đường cho Chúa đến, cần phải nhận thức về các yêu cầu đòi hỏi hoán cải mà thánh Gioan Tẩy giả mời gọi chúng ta. Trước hết, chúng ta được kêu gọi san bằng những hố sâu tạo nên bởi sự lạnh lẽo dửng dưng và thờ ơ, bằng cách cởi mở với tha nhân trong cùng những tâm tình của Chúa Giêsu, nghĩa là với tình thân mến và sự quan tâm huynh đệ, lo lắng cho nhu cầu của người anh em. Và tất cả những điều được làm với một sự quan tâm chú ý đặc biệt dành cho những người nghèo khổ nhất. Tiếp đến, chúng ta cần san phẳng bao nhiêu cay đắng khắc nghiệt cứng cỏi gây ra bởi lòng kiêu hãnh và tự hào, bằng cách thực hành những cử chỉ hòa giải cụ thể với anh em của chúng ta, cầu xin tha thứ những lỗi lầm của chúng ta. Thật không dễ dàng để xin tha thứ và hòa giải vì chúng ta thường nghĩ xem ai phải là người đi lên tiếng trước. Trên thực tế, sự hoán cải được thực hiện hoàn toàn nếu nó giúp nhìn nhận cách khiêm tốn những sai lầm, bất trung và thiếu sót của chúng ta.

Thắp sáng lại hy vọng với tình yêu và an ủi như Chúa Giêsu

Tiếp đến, ĐTC xác định rằng người tin là người, qua việc đến gần với anh em, như thánh Gioan Tẩy giả mở những con đường trong hoang địa, nghĩa là chỉ ra những chiều kích hy vọng ngay cả trong những hoàn cảnh sống không thể chịu đựng nỗi, thể hiện qua những thất bại gục ngã. Chúng ta không thể đầu hàng trước những tình cảnh tiêu cực khi người ta đóng kín lòng mình và chối từ người khác; chúng ta không được để cho mình chịu ảnh hưởng bởi não trạng của thế gian, bởi vì Chúa Giêsu và lời ánh sáng, tình yêu và an ủi của Người là trung tâm cuộc sống chúng ta. Thánh Gioan Tẩy giả đã mạnh mẽ, kiên quyết và cứng rắng mời gọi người dân cùng thời với ngài hoán cải. Tuy nhiên thánh nhân biết lắng nghe, biết thực hiện những cử chỉ nhẹ nhàng dịu dàng và tha thứ dành cho đám đông những người đến với ngài để xưng thú tội lỗi của họ và để lãnh nhận phép rửa sám hối.

Vương quốc của Thiên Chúa được xây dựng mỗi ngày Chứng tá cuộc sống của thánh nhân, sự trong sáng trong lời loan báo của Người và lòng can đảm loan báo sự thật đã thành công trong việc đánh thức sự chờ đợi và niềm hy vọng Đấng Cứu Thế từ lâu đã bị mê ngủ. Ngày hôm nay cũng thế, các môn đệ của Chúa Giêsu được mời gọi là những chứng nhân khiêm nhường nhưng can đảm để thắp sáng lại niềm hy vọng, để giúp hiểu rằng dù cho tất cả, vương quốc của Thiên Chúa tiếp tục được xây dựng mỗi ngày với sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Làm thế nào chúng ta giúp người khác nhận ra Chúa đến qua thái độ sống của chúng ta




Cuối cùng, ĐTC cầu xin Đức Trinh nữ Maria giúp mọi người dọn đường cho Chúa từng ngày, bắt đầu từ chính chúng ta, và để rắc gieo xung quanh chúng ta, với sự kiên nhẫn ngoan cường, những hạt giống của hòa bình, công lý và tình huynh đệ.