Sunday, September 16, 2018

Chúng tôi vừa là Ki-tô hữu vừa là người đứng đầu

Mở đầu bài giảng của thánh Âu-tinh, giám mục, về các mục tử.

Anh em thân mến,

Đây không phải là lần đầu tiên anh em được nghe dạy rằng tất cả niềm hy vọng của chúng ta là ở nơi Chúa Ki-tô, chính Người là tất cả vinh quang đích thực và lành thánh của chúng ta. Anh em ở trong đoàn chiên của Đấng chăm sóc và nuôi dưỡng Ít-ra-en. Nhưng bởi vì có những mục tử chỉ muốn nghe người ta gọi mình là mục tử, mà không muốn chu toàn nhiệm vụ mục tử, nên chúng ta hãy duyệt lại xem Chúa nói gì với họ qua ngôn sứ Ê-dê-ki-en. Anh em hãy chú ý nghe, chúng ta hãy nghe với tất cả lòng kính sợ.

Có lời Đức Chúa phán với tôi rằng : Hỡi con người, hãy tuyên sấm hạch tội các mục tử Ít-ra-en và nói với họ. Chúng ta vừa nghe đọc bài này, nên chúng tôi quyết định nói đôi điều với anh em. Chính Chúa sẽ giúp chúng tôi nói những điều chân thật, nếu chúng tôi không nói theo ý mình. Vì nếu chúng tôi nói theo ý mình, thì chúng tôi sẽ là những mục tử chỉ nuôi mình chứ không nuôi chiên. Còn nếu chúng tôi nói những lời của Chúa, thì đó là chính Người nuôi anh em qua bất cứ ai. Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này : Khốn cho các mục tử Ít-ra-en, những kẻ chỉ biết lo cho mình ! Nào mục tử không phải chăn dắt đàn chiên sao ? Nói cách khác, mục tử không nuôi mình mà nuôi chiên. Lý do khiến các mục tử đó bị khiển trách là họ nuôi chính mình chứ không nuôi chiên. Những kẻ nuôi chính mình là ai ? Thánh Phao-lô tông đồ nói về họ như sau : Ai nấy đều tìm lợi ích cho mình, chứ không tìm lợi ích cho Đức Ki-tô Giê-su.

Do lòng Chúa đoái thương, chứ không vì công trạng của chúng tôi, Chúa đã đặt chúng tôi ở cương vị này, một cương vị đòi phải trả lẽ nghiêm ngặt. Chúng tôi thấy có hai điều cần phân biệt rõ ràng : một đàng chúng tôi là Ki-tô hữu, đàng khác chúng tôi là những người đứng đầu. Chúng tôi là Ki-tô hữu là vì mình, còn chúng tôi là người đứng đầu là vì anh em. Là Ki-tô hữu, chúng tôi lo cho lợi ích của mình ; là người đứng đầu, chúng tôi chỉ lo cho lợi ích của anh em.

Có nhiều người là Ki-tô hữu mà không phải là người đứng đầu : họ đến với Thiên Chúa qua một con đường có khi dễ dàng hơn và có lẽ thuận lợi hơn, vì mang ít hành lý hơn. Còn chúng tôi, nguyên một chuyện là Ki-tô hữu, chúng tôi đã phải trả lẽ với Thiên Chúa về đời sống của mình rồi, huống chi chúng tôi lại là những người đứng đầu, nên còn phải trả lẽ với Thiên Chúa về công việc quản lý của mình nữa.

(Bản dịch của NPD/CGKPV)

Saturday, September 8, 2018

“Do not answer fools according to their folly, lest you too become like them.” (Proverbs 26:4)

“Do not answer fools according to their folly, lest you too become like them.” (Proverbs 26:4, NABRE)

“Do not answer a fool in the terms of his folly for fear you grow like him yourself.” (Proverbs 26:4, NJB)

“Answer not a fool according to his folly, lest you be like him yourself.” (Proverbs 26:4, RSV-CE)

“Answer not a fool according to his folly, lest thou be made like him.” (Proverbs 26:4, Douay-Rheims)

“Do not answer a fool according to his folly, or you yourself will be just like him.” (Proverbs 26:4, NIV)

“Chớ dài dòng đối đáp ngu đần, kẻo lở ra mình giống như họ.” (Sách Châm Ngôn 26,4, Lm. Trần Đức Huân)

“Ðừng trả lời kẻ ngu xuẩn theo sự điên dại của nó, kẻ cả con nữa, con cũng nên giống nó.” (Sách Cách Ngôn 26:4, Lm. Nguyễn Thế Thuấn)

“Đừng đáp lại đứa ngu theo cái ngu của nó, kẻo chính con cũng lại giống nó thôi.” (Sách Châm Ngôn 26,4, PD/CGKPV)

Sunday, September 2, 2018

CHA THÁNH DAMIEN, TÔNG ĐỒ PHONG CÙI ĐẢO MOLOKAI

1. Quần đảo Hawai

Molokai là một trong tám hòn đảo lớn làm thành quần đảo Hawai nằm phía bắc Thái Bình Dương. Hawai là một trong 50 tiểu bang của Hoa Kỳ. Hawai rộng 16.600km2 với 1.106.000 dân. Người bản xứ là dân Polynésiens, hiện nay không tới 1,5. Đa số là người lai Nhật, dân Anglo-Saxon và Philippines. Thủ đô của Hawai la Honolulu.

Quần đảo Hawai nổi tiếng về núi phun lửa và bão táp thường xuyên. Nhiều lần quần đảo còn bị thay hình đổi dạng vì vụ động đất. Xét về lịch sử, thì quần đảo được dân Polyniésiens đến sinh sống từ thế kỷ V, và người Tây Phương khám phá ra là đại tá Kook, năm 1778 và ông đặt tên là ‘quần đảo sanwiche’. Nhưng sau một năm, ông bị người bản xứ giết chết. Từ đó quần đảo Hawai chia thành bốn tiểu quốc có hành chánh, quân đội riêng biệt. Đến năm 1795, vua Kamehameha I thống nhất quần đảo, tổ chức hành chánh, loại trừ các nhóm cướp bể gốc Tây Ban Nha. Đến đời Kamehameha ÌII tuyên bố nền độc lập của quần đảo Hawai, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng quân sự, kinh tế và tôn giáo của Anh và Pháp. Do đó, các nhà truyền giáo Pháp đến quần đảo từ năm 1827 và Tin lành Mormons tới năm 1850. Sau triều đại ‘độc đoán’ (absolutisme) của Kamehameha, dân chúng đòi chế độ dân chủ và xin sát nhập thành một tiểu bang của Hoa Kỳ năm 1898.

Về kinh tế, tiểu bang Hawai sống bằng nghề trồng mía, cà phê, dứa, hoa và nghề đánh cá, nghề chăn nuôi và sản xuất quần áo. Riêng đảo Molokai là đảo lớn nằm giữa quần đảo Hawai, được chọn như một địa điểm giam các tù nhân trọng tội bị lưu đầy và những bệnh nhân phong cùi vào thời ‘hết thuốc chữa’ phải sống tách biệt… Chính tại đảo này mà cha Damien được sai đến làm việc tông đồ.

2. Cha Damien trước khi đến Molokai

Cha Joseph Damien de Veuster là người Bỉ, sinh năm 1840, lớn lên vào dòng Thánh Tâm Chúa Giêsu trong tu viện Picpus tại Louvain, Bỉ, năm 1859. Cha Damien theo học tại Issy và Paris trước khi khấn trọn đời năm 1861, tiếp tục học tại đại học Louvain trong hai năm 1861-1863, và chịu chức linh mục tại Honolulu ngày 19.3.1864. Cha làm việc tông đ
 tại Hawai dưới quyền của Đức cha Maigret cho tới năm 1873, cha xung phong và được chấp nhận ‘đi Molokai phục vụ bệnh nhân phong cùi biệt giam’.

3. Tình hình chung của Molokai

Ngay những ngày đầu đến Molokai, cha Damien còn phải chứng kiến những hậu quả đau thương của vụ động đất kinh hoàng xẩy ra mấy năm trước: Hôm đó, giữa lúc linh mục đang dâng lễ, dân chúng chạy ra khỏi nhà thờ, họ bị chặn lại bởi nhiều cây to đổ xuống đường. Nhiều ngôi nhà bị tan nát. Chính thánh đường cũng hư hại… người ta tưởng như ngày tận thế đã đên nơi rồi…, nữ thần núi lửa lên cơn giận… Những ai có phương tiện, họ tìm cách trốn khỏi đảo Molokai… Chỉ một cơn lốc thổi dến ngày 17.11.1874 đã phá hủy 25 căn nhà, gây đổ nát 50 căn nhà khác, người ta ước lượng thiệt hại 5.000 USD… Chính Đức cha Maigret khi đến thăm Molokai đã rưng rưng nước mắt và thốt lên ‘Họ đã chết, tất cả họ đã tử đạo !’.

Thời gian đầu, chính quyền còn thù nghịch với tôn giáo, họ không muốn cho các thừa sai Công giáo hay Tin lành đặt chân lên đảo Molokai, vịn lý do ‘bệnh phong cùi nguy hiểm phải tuyệt đối tách biệt bệnh nhân ra để tránh lây nhiễm’. Do đó, các trại phong cùi trở thành nơi không có luật pháp và không có đức tin, bệnh nhân sống lẫn lộn nam nữ, dưới màn trời chiếu đất, không được ai giúp đỡ khi hấp hối… Hơn thế, đây là nơi thường xuyên xẩy ra nhiều chuyện vô luân… Nhờ nhiều lần vận động bên các chính phủ Pháp, Anh, Hoa Kỳ, các Giáo Hội mới có thể gửi các thừa sai đến làm việc tại các trại phong cùi biệt giam Molokai…

4. Đặt chân lên đảo Molokai

Cùng đến đảo Molokai với cha Damien và ba cha truyền giáo dòng Thánh Tâm, Đức cha Maigret tiếp xúc với giáo dân sau thánh lễ tại nhà thờ thánh Philomena đổ nát. Ngài hỏi dân chúng: «Ông bà muốn bày tỏ gì không?». Họ thưa : « Chúng con ở đây được chính phủ quan tâm nhiều, chúng con chỉ còn thiếu một sự là ‘thiếu sự hiện diện của một linh mục’». Đức cha trả lời : «Đúng rồi, đây cha Damien, cha sẵn sàng đến đây hy sinh cuộc sống vì phần rỗi linh hồn của anh chị em. Nhưng hiện giờ, cha chưa có nhà ở. Trong thời gian chờ đợi chúng tôi tìm kiếm, tôi xin cha hãy tạm ngủ dưới đất, ngoài trời. Bóng cây Pandanus này sẽ che chở cha Damien». Đức cha nói thêm: «Linh mục thì luôn để tuỳ bề trên chỉ định. Nhưng một điều chắc chắn là chúng tôi sẽ không bỏ rơi anh chị em, khi sống cũng như khi chết»… Giờ từ biệt đã đến, cha Damien xúc động, giáo dân òa lên khóc, Đức cha không cầm nổi nước mắt, yên lặng ban phép lành cho giáo dân bệnh tật… Giáo dân đến vây quanh vị chủ chăn trẻ trung, đầy nghị lực… Vì phải giữ ‘luật tách biệt’ nên cha Damien không dám ngủ trong nhà ngủ của bệnh nhân, cha ngủ ngoài trời dưới gốc cây Pandanus… dưới sự phù trì của thánh nữ Philomena… Báo Pacific Commercial Advertiser đăng tải bài của ký giả Walter Murray Gibson: ‘Cha Damien, anh hùng Kitô’.

5. Cắt nghĩa cho gia đình

Mặc dầu được nâng đỡ nhiều bởi gia đình trong nhịp sống ơn gọi ‘tu sĩ dòng thừa sai Thánh Tâm’, lần này cha Damien phải cắt nghĩa làm sao để gia đình đồng tình với cha trong sự lựa chọn ‘xung phong đi truyền giáo cho những bệnh nhân phong cùi biệt giam ở đảo Molokai’. Cha cầu nguyện với Thánh Tâm Chúa Giêsu và thánh nữ Philomena mà cha hằng tôn kính, rồi cha nhờ ông chú của cha là linh mục Jacob, vừa là cha sở xứ Werchter vừa là tuyên úy nhà thương phong cùi, cắt nghĩa với gia đình để ba mẹ và anh chị em khỏi xao xuyến. Ngày 25.11.1873, cha đã viết thư cho gia đình, cha không nói gì đến những khó khăn đang làm cha ‘nhức đầu’, mà chỉ nói chung về tình trạng sức khoẻ, việc làm và vấn đề ăn uống… Cha kể: ‘Cha có một ông nấu cơm, cha vẫn dùng cà phê, sữa bò, ăn thịt cá, ăn cơm hoặc bánh… mọi sự bình thường. Cha vẫn giữ ký, không gầy đi không béo thêm, và vẫn mang đôi kiếng của gia đình cho… Cha kết luận ‘mọi sự nhờ ơn Chúa đều tốt đẹp’…

6. Chương trình sống:

Cha Damien đã nộp cho đức cha Maigret thời khóa biểu ‘một ngày sống’ của cha như sau:

5g00: Thức dậy, dâng ngày, tắm rửa, thay đồ sạch sẽ.
5g15: Ra nhà thờ đọc sách nguyện, nguyện ngắm.
6g00: Đọc kinh sáng với giáo dân.
6g30: Dâng thánh lễ.
7g00: Dọn trật tự phòng áo, làm vệ sinh nhà thờ;
8g00: Ăn sáng, làm việc…
11g30: Đọc sách thiêng liêng.
12g00: Cơm trưa, đi thăm bệnh nhân (nếu gần thì đi bộ, nếu xa đi bằng ngựa).
17g00: Kinh chiều, giáo lý dự tòng.
18g00: Cơm chiều, làm việc…
19g00: Kinh tối, lần chuỗi… làm việc, đọc sách…
22g00: Đi ngủ.

Những điều cha Damien cố gắng thực hiện trong đời sống mỗi ngày:

  • Không bận tâm quá về đời sống vật chất của bệnh nhân.
  • Không xen vào những công việc của các nhân viên dân sự, trừ những trường hợp khẩn cấp và đặc biệt, chỉ nói với trưởng ban hành sự (surintendant).
  • Cố giữ trật tự và sạch sẽ phòng thánh, nhà thờ, nhà ở.
  • Luôn ăn mặc chỉnh tề: phải dung hòa giữa sạch sẽ và khó nghèo.
  • Luôn niềm nở và thân tình với mọi người trong khi trò chuyện, nhưng không thái quá, và tránh ‘những câu chuyện mất giờ và vô bổ’.
  • Giữ vững việc kiểm điểm đời sống, hối cải và cố gắng sửa chữa mọi lỗi lầm.
  • Phải nghiêm nhặt với chính mình và khoan dung với người khác.
  • Phải kính cẩn khi đọc kinh, nguyện gẫm, dâng thánh lễ và cử hành bí tích hoặc các lễ nghi phụng vụ.
  • Cố sống trung thành ba lời khấn phúc âm: Vâng lời, Khiết tịnh và Khó nghèo.
  • Phải tự kỷ ám thị: ‘Tôi ước ao sống và chết với Đức Kitô’ (Dissolvi et esse cum Christo).

7. Công việc tay chân
Với chương trình sống như trên, cha Damien đảm đang mọi công việc liên hệ đến sứ mệnh truyền giáo, mà trước mắt là xây lại nhà thờ. Mặc dầu năm 1875, chính quyền gửi tới một nhóm người Trung Hoa xây cất lại nhà cửa cho dân chúng trong trại cùi. Nhưng nhà thờ thì chính cha Damien phải quán xuyến ‘kiếm tiền, mua vật liệu và tự lo xây cất’. Chỉ mấy tháng sau khi cha đến đảo, nhà thờ trở nên quá bé nhỏ. Ngày chủ nhật giáo dân đứng ngồi chen chúc, tràn cả ra ngoài. Vì thế được phép Đức cha Maigret, cha Damien tìm cách nới rộng nhà thờ, và từ đó nhà thờ nhận thánh Philomena làm quan thày. Nhiều lần cha Damien không thể từ chối đến giúp sửa nhà, sửa phòng cho các bệnh nhân. Họ què quặt tay chân, không thể làm việc như ý muốn. Đợi nhân viên nhà nước tới thì đôi khi quá muộn màng. Theo quan điểm của cha, ‘nhà truyền giáo phải trở thành con người lo toan mọi việc’ (homme à tout faire).

8. Những khó khăn

Cấm tiếp xúc trực tiếp: Chính quyền không cho các nhà truỳền giáo, Tin lành hay Công giáo tiếp xúc trực tiếp với các bệnh nhân. Các ngài phải giữ ‘luật cách biệt’ (lois sur la ségrégation). Đây là điểm cha Damien không muốn chấp nhận, vì phải tiếp xúc gần kề mới hiểu được bệnh nhân, mới làm cho họ cảm thấy có sự yên ủi, và do đó mới ‘đem đức tin và tình yêu của Chúa đến cho họ được’. Nếu không đạt được điểm này thì ‘sự hiện diện và sinh hoạt của nhà truyền giáo không còn ý nghĩa. Nhà truyền giáo khác với một công chức’. Ông Trousseau, một bác sĩ người pháp đồng quan điểm với cha Damien. Theo ông, trong các nước văn minh, các bác sĩ và nhà truyền giáo không buộc phải giữ luật tách biệt. Những nhà truyền giáo cũng được hưởng các ưu biệt dành cho các bác sĩ. Chính quyền hiểu điều đó, nhưng họ không muốn tạo thêm các tiền lệ. Họ thường bảo: ‘Nếu cha Damien là một Kitô hữu anh hùng thì cha phải chấp nhận các luật pháp của chính quyền’. Chính Đức cha Maigret đã nhắc cha Damien ngay buổi đầu đến đảo: «Đừng tiếp xúc thể lý để tránh sự lây nhiễm» (pas de contact physique, pas de contamination). Tiếp xúc thể lý như bắt tay, cúi mình đeo giây ảnh vào cổ cho bệnh nhân…

Với anh em cùng hội dòng: Nhiều linh mục truyền giáo dòng Thánh Tâm mà Đức cha sai đến phụ tá cha Damien, không đồng ý với đường lối của ngài. Đặc biệt với cha André trong việc xây cất nhà thờ, thăm viếng và tiếp xúc với các bệnh nhân, việc giữ luật ‘cách biệt’… cụ thể là việc giải tội, việc tổ chức kiệu Thánh Thể trong trại phong cùi, việc chứng hôn phối … Vào quãng năm 1880, André đã làm gương xấu lớn ngay tại trại phong cùi là ‘sống chung với một cô cựu học sinh của trường tu viện Picpus’ nên bề trên phải thuyên chuyển đi khỏi đảo…

Với các nhà truyền giáo Tin lành: đặc biệt nhóm truyền giáo Mormons. Tuy đến đảo Molokai sau các nhà truyền giáo Công giáo, nhưng họ được sự hỗ trợ đặc biệt của chính quyền Anh và Hoa Kỳ. Hầu hết các công chức lớn hay các bác sĩ là những người Tin lành. Hơn thế công việc mục vụ của họ đơn giản hơn, vì không có những việc cử hành bí tích, dâng lễ mỗi ngày hay lần hạt, kiệu Thánh Thể… nên việc giữ luật cách biệt dễ dàng hơn. Đây là điểm họ hay khiếu nại với chính quyền vì thấy cha Damien được lòng dân chúng hơn…

9. Hoạt động mục vụ

Giáo lý dự tòng: Ngay ngày 20.5.1873, cha Damien đã báo cáo cho cha Meyer linh mục kinh lược của dòng: ‘Con có nhiều tin cảm động về họ đạo của con tại đảo, và để cha biết việc làm của con ở đây: Con đã có danh sách 210 giáo dân bệnh hoạn, 20 dự tòng và 20 giáo dân ‘không bệnh tật’ (tức các tù nhân lưu đầy). Người ta còn cho biết địa điểm khác trên đảo là vùng Kahavai, có nhiều giáo dân. Người ta xưng tội rất nhiều. Con không giúp hết được những người hấp hối mỗi ngày, chỉ biết phó thác cho Chúa… xin cho con một số ý lễ và một số sách kinh để phát cho giáo dân…». Mấy tháng sau cha Damien cho biết ‘cha đã rửa tội cho 35 người lớn, trong đó 5 người đã từ trần’. Năm 1877, Đức cha Maigret lại kinh lý đảo Molokai và ban phép Thêm sức cho hơn 100 người tân tòng.

Thăm viếng các bệnh nhân: Như được ghi trong chương trình sống mỗi ngày: cha Damien đi thăm bệnh nhân mỗi buổi chiều, cha đi thăm từng trại, từng khu nhà ở, nhà ăn của các bệnh nhân. Nói chuyện thân mật với họ, hỏi thăm về gia đình, về nhu cầu thiêng liêng của họ… Nhiều lần cha bị chính quyền và ban y tế khuyến cáo, cũng như các nhóm truyền giáo Tin lành ganh tị, và các linh mục truyền giáo dòng Thánh Tâm phản đối.

Lo cho các bệnh nhân hấp hối: Cha Damien quan tâm nhiều đến các bệnh nhân hấp hối. Hơn thế, có những trường hợp một mình cha lo từ A đến Z. Như ngày 31.01.1880, cha đến tận giường một nữ bệnh nhân hấp hối, cho bà rước lễ ‘như của ăn đàng’, giúp bà chết lành, rồi tự tay đóng quan tài và đào huyệt an táng bà… Sau đó, cha viết thư cho linh mục Pamphile, anh của cha, như sau: «Như vậy, em đã sống bảy năm giữa môi trường phong cùi. Trong thời gian này, em đã có dịp tiếp cận và đụng đến sự khốn cùng của những con người xấu số đáng thương…». Nhiều người chết không có quan tài, đành bó vải liệm xác và đem đi chôn… Đất ở đảo Molokai rất khô rắn, cha phải hì hục nhiều giờ mới đào được một cái huyệt…

Chấp nhận sự hôi hám nồng nặc: Trong một lá thư viết cho người anh là cha Pamphile, cha Damien thổ lộ : «Mặc dầu nhờ ơn Chúa và Đức Mẹ, em chưa phải là người phong cùi, nhưng em đã là phong cùi giữa những người phong cùi. Vì em đã tập quen chấp nhận họ: Mỗi ngày lễ trọng, em đứng trên bàn thờ và mùi hôi thối xông lên, làm em nghĩ đến mồ của ông Lazarô. Mỗi lần em ngồi tòa, mùi hôi từ các vết thương lở loét xông ra làm em lợm mửa. Có lúc em phải bịt mũi lại. Cũng như vậy, mỗi lần em ban phép xức dầu cho một bệnh nhân…»

Những công việc khác: Cha tập hát cho bệnh nhân, thành lập ca đoàn, một nhóm chơi các nhạc cụ đơn giản… Cha xin hoặc mua sách báo về phát cho giáo dân như Book of Common Prayers. Cha góp phần vận động xin các nữ tu bệnh viện đến làm việc tại nhà thương trên đảo Molokai. Các nữ tu đã nhận việc từ 08.11.1883.

Vận động lòng kính trọng các bệnh nhân phong cùi: Ngay khi đến các trại cùi biệt giam ở Molokai, cha Damien cũng như nhiều bác sĩ khác có chung một cảm nghĩ ‘Molokai là hòn đảo vô nhân đạo’. Vì thế cha tìm mọi dịp, dùng mọi phương thế đề cao giá trị nhân bản của các bệnh nhân. Cha không ngần ngại trình bày điều đó với các bề trên dòng, với các quan chức cao cấp có trách nhiệm hay chỉ vãng lai đến đảo. Phải chăng nhờ đó mà công chúa Lilituokalani một hôm đã khẳng định trước mọi người: ‘Phong cùi là chứng bệnh chứ không phải là tội phạm. Vì thế không thể vứt người phong cùi, dù đã chết, xuống biển khơi như vứt một con chó chết’. Những lời này đã được in ra và dán khắp nơi trên đảo.

10. Cha Damien được ân thưởng và ái mộ khắp nơi. 


Cuối tháng 6.1881, Đức cha Kockeman, tân giám mục phó của Hawai đã đem trao tận tay cha Damien lá thư của công chúa Liliuokalani. Trong đó, công chúa bày tỏ: ‘Tôi vui mừng bày tỏ cùng cha lòng kính ái của tôi về những công trình anh hùng và vô vị lợi của cha giữa những người xấu số nhất trong vương quốc này, tôi muốn tuyên chứng công khai về sự tận tâm trung tín, nhẫn nại và khả ái mà cha đã quan tâm lo lắng về cả thể xác và tinh thần cho những người bị xa cách gia đình và bạn hữu của họ chỉ vì một chứng bệnh nan y, nguy hiểm. Ý thức rằng lòng tận tụy và hy sinh muốn giúp đỡ những người khổ đau của cha thật đáng được Đức Thánh Cha và Thiên Chúa của mọi người ân thưởng. Dầu vậy, tôi cũng xin cha vui nhận huy chương ‘Hiệp Sĩ Thượng Đẳng’ của Vương quốc Kalakaua như một tuyên chứng công trình tông đồ và bác ái của cha. Chính mắt tôi đã chứng kiến công việc của cha trong dịp thăm viếng Sở Truyền giáo của cha mới đây…”. Hai tờ báo Pacific Commercial Advertiser và Hawaiian Gazette đã đăng nhiều bài khen ngợi cha Damien;

11. Cha Damien bị nhiễm bệnh phong cùi

Bị nhiễm bệnh thật sự. Ngày 25. 02.1885, cha Damien viết cho Đức cha Kockemann như sau: «Thưa đức cha, có thể con không sống bao lâu nữa. Chân con sưng lên và không chữa nổi, cho dù vết thương đã thành sẹo. Các đường gân sưng phồng lên và đau đớn lắm. Con không thể nào di chuyển nữa, con cũng không thể bỏ xa 600 bệnh nhân phong cùi Công giáo, nhiều người chết không có linh mục… Quả thật, con bị nhiễm chứng bệnh ghê sợ, phải nhìn nhận sự chết đang tiến gần lại với con… Con không bận tâm về thân xác, nhưng bận tâm về linh hồn con. Xin đức cha cho con một cha giải tội tốt lành…». Đức giám mục và nhiều quan chức và bác sĩ đến thăm cha Damien… đặc biệt vào ngày 07.10.1885 kỷ niệm cha khấn trọn đời được 27 năm. Nhưng kể từ 10.02.1886, cha Fouesnel bề trên tỉnh dòng xin cha Damien ra sống riêng hẳn trong một phòng và không được tiếp xúc với bất cứ ai… Ngài hy vọng cha Damien sẽ được chữa lành. Theo kết quả khám nghiệm của hai bác sĩ Arning và Mouritz, thì có lẽ cha Damien đã biết mình bị lây nhiễm từ 1877, vì năm đó, cha đã viết cho Ban y tế lời lẽ như sau: «Tôi đã hy sinh sức khoẻ và tất cả mọi sự tôi có trên trần gian, vậy xin quý vị hãy tin tưởng…’. Và ngày 30.4.1886, cha Damien được chính thức ghi danh vào sổ những người bị bệnh phong cùi.

Thời gian chữa bệnh tại Honolulu. Tháng 7.1886 do lời yêu cầu của thủ tướng, cha Damien được đưa về chữa bệnh tại thủ đô Hawai, và mẹ bề trên Marianne nhận chăm sóc cha. Nhiều quan khách đạo đời đã đến đón tiếp và thăm hỏi cha Damien đến nỗi nhiều người gọi đó là ‘cuộc vinh thắng tại Honolulu’ (Triomphe à Honolulu).' Ít lâu sau, cha bề trên Albert cho cha Damien hay: ‘Cha sẽ trở lại Molokai như cha mong ước, ở đó cha sẽ được điều trị theo phương pháp mới của Nhật Bản. Ngoài ra cứ hai tháng một lần, cha Colomban sẽ đến thăm cha’.

Trở lại Molokai: 
Trước ngày xuống tàu về đảo Molokai, cha Damien được đức cha Korkermann báo cho biết một tin vui: “Do sự quan phòng của Chúa, ông Dutton cựu quân nhân, sẽ đến Molokai phụ tá cha để thể hiện những chương trình như cha muốn. Ông đến Molokai làm việc cách khiêm tốn như một hối nhân (penitent)”. Chương trình của cha Damien là xây nghĩa trang Kalawao, xây nhà sưởi, phòng ăn, phòng tắm và nhà bếp, xây hai nhà ngủ lớn một cho nam, một cho nữ. Và ngày 25. 08. cha Damien viết cho các bạn thừa sai: “Cám ơn Chúa, tôi còn đứng được và tiếp tục làm việc”… Lần khác cha viết: “Phương pháp chữa bệnh của Nhật Bản xem ra có hiệu quả, tôi cảm thấy được thuyên giàm…”.

12. Cha Damien từ trần
Tin sai của nhà báo: Nhưng chẳng bao lâu, một ký giả lấy tin sai từ mấy cô y tá đến làm việc tại Molokai, và báo Courrier de Bruxelles đăng tải một tin vịt: ‘Cha Damien đã từ trần ngày 21.10.1886’. Sự thực cha Damien vẫn còn tỉnh táo. Ngày 19.3.1889, là ngày kỷ niệm cha Damien đến đảo đúng 25 năm tròn. Nhưng vì cha đã vào sổ ‘bệnh nhân biệt giam’ nên chỉ có mẹ Judith và nữ tu Marie-Laurent đem hoa đến chúc mừng và ông Dutton cùng dùng bữa với cha.

Bệnh trở nên trầm trọng: Theo lời kể của ông Sinnett, ba hôm sau cha Damien chọn nằm dưới đất, trên rơm rạ, như một người bệnh cùi tầm thường nhất, nghèo nàn nhất. Sáng ngày hôm sau, ngài nói với ông Dutton, “Tôi đã dâng hiến tất cả cho Thiên Chúa, tôi chết nghèo, tôi chẳng có gì cho tôi…” Người ta phải năn nỉ mãi ngài mới chịu lên giường, nhưng ôi, cha đã cho đi hết rồi, cho không có một tấm vải trải giường hay một bộ đồ để thay… Ngày 30.3, cha Conrardy xin bác sĩ Swif đến thăm cha Damien. Cha từ chối không ăn gì cả. Cha bị sốt tới 39 độ. Sau trưa cha xin cha Wendelin đến giải tội chung và giúp cha đi vào cơn hấp hối. Cha Wendelin cho cha rước lễ. Ngài kể lại rằng: ‘Hôm đó cha Damien vui vẻ khác thường. Cha bảo tôi ‘cha xem tay tôi trắng lại, các vết thương khép lại rồi, chỉ còn khuỷu tay hơi đen. Tôi ước ao gặp đức giám mục một lần nữa, nhưng Thiên Chúa nhân lành gọi tôi về cử hành lễ Vượt Qua với Ngài. Ngợi khen Chúa nhân lành. Chúa nhân hậu làm sao, Chúa cho tôi hai linh mục thánh thiện giúp tôi trong giờ sau hết của đời sống, rồi cả các nữ tu Bác Ái ở bệnh viện cũng cầu nguyện cho tôi. Bây giờ là ‘nunc dimittis’ của tôi… ». Tôi thưa với cha Damien: «Trên trời, xin cha đừng quên những người cha bỏ lại mồ côi ». Cha Damien trả lời : «Nếu tôi có chút công phúc gì ở bên Chúa, tôi sẽ xin Chúa chuyển ban cho tất cả các bệnh nhân phong cùi... » Tôi lấy một áo măng-tô quàng cho cha Damien và xin cha chúc lành cho tôi… ».

Tử đạo vì bác ái: Những ngày kế tiếp, cha Damien lúc tỉnh lúc mê. Bác sĩ Swif quen cho cha uống Whisky toddy để ngài hồi lại. Ngày 08. 04. 1889, đức cha Korkmann viết cho cha bề trên cả dòng Thánh Tâm : «Có lẽ cha đáng kính Damien sẽ chết vào giờ cha mong ước. Tôi hy vọng sẽ thăm lại vị tử đạo bác ái này sau lễ Phục Sinh. Cha đã thanh thỏa mọi điều chúng ta mong ước. Quỹ bác ái của cha còn 37.000 đola. Tôi sẽ cho người kế vị cha Damien được toàn quyền sử dụng số tiền này cho trại phong cùi… Khi nào cha Damien qua đời, chúng tôi sẽ tổ chức lễ an táng trọng thể cho cha ».

Đến và đi vào cùng ngày chủ nhật lễ Lá: Chúa nhật lễ Lá, 14.4.1889, cha Damien trở bệnh. Cha Wendelin cho cha rước lễ lần cuối. Bác sĩ Swif cho cha uống Whisky toddy, nhưng vô hiệu. Cha Damien vào hôn mê… Cha Wendelin, các nữ tu và bác sĩ Swif, ông Dutton và ông Sinnet quỳ quanh giường cầu nguyện cho cha Damien… Cha tắt thở nhẹ nhàng, và ông Dutton nói: “Cha đã được như lòng mong ước, cha đến đảo vào chủ nhật lễ Lá, cha cũng ra đi vào chủ nhật lễ Lá’. Thực ra cha Damien ra đi sáng thứ hai Tuần Thánh, 15.4.1889. Cha Wendelin tuyên bố: “Tôi nhìn thấy cha Damien thật can đảm, đôi mắt sáng tỏa sự chấp nhận, niềm vui và hài lòng. Môi cha không nói rõ ràng những điều lòng cha muốn bày tỏ, cha nắm chặt tay tôi cách thân tình”.

Đám tang trọng thể: Tin cha Damien từ trần được các báo chí loan truyền mau lẹ. Nhiều chương trình xây cất theo phương án của cha chưa được hoàn tất. Nhà thờ thánh Philomena mới gỡ mái, chưa lợp lại, nhà tạm lộng lẫy do ông Hudson dâng cúng chưa đưa về… Tất cả mọi cơ sở của chính quyền hay tư nhân đều treo cờ tang. Mẹ Marianne và nữ tu Vincent phụ với cha Wendelin tổ chức lễ an táng. Những bệnh nhân tương đối còn khoẻ mạnh đều đến tham dự, có ban kèn đồng, có nữ sinh ký túc xá thắt dây lưng đen, có các em nam nhà mồ côi… Cha Wendelin chủ sự thánh lễ, đoàn rước xác gồm: Một người vác cây Thánh giá lớn, ban kèn trống, thành viên các hội đoàn, các nữ tu và các bệnh nhân, đoàn thanh nữ. Linh cữu do tám người phong cùi da trắng khiêng, đại diện cho người Anh, Balan, Ái Nhĩ Lan và Hoa Kỳ. Theo linh cữu là cha Wendelin, cha Conrardy và các bệnh nhân nam… Huyệt an táng cha Damien được đào dưới gốc cây Pandanus, xây và gắn xi măng vững chắc…

Sau khi cha Damien qua đời: Nhiều người cho rằng ‘cha Damien quá dấn thân, không giữ mình đủ… Bằng không cha còn sống phục vụ dân nghèo…’. Tuy nhiên mọi người, chính quyền và giáo quyền đều đồng tâm ‘tiếp nối công trình nhân đạo của cha Damien’. Một thánh lễ ‘Requiem’ được cử hành trọng thể tại nhà thờ chính tòa Honolulu. Trong bài giảng đức cha Kockermann nhấn mạnh đến tinh thần tông đồ và bác ái của cha Damien, cha xứng đáng mang tước hiệu là ‘anh hùng và tử đạo vì bác ái’. Cha không làm mất lòng ai, cha chỉ muốn theo chân Chúa Kitô, phục vụ mọi người bằng gương sáng…

Trên đường vinh quang: Ngày 27.01.1936, xác cha Damien được bốc lên, đem về Honolulu, rồi đem về Bỉ an táng trong nhà thờ của tu viện Picpus, hai tay chắp lại hướng về Hawai… Cha được phong Chân phước năm 1995 bởi Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II và tôn vinh Hiển Thánh ngày 21.10.2009 bởi Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI.

Mai Đức Vinh

Sunday, August 26, 2018

Thánh Maximilian Kolbe – lễ kính 14/8 hàng năm - "Không ai có tình yêu lớn hơn ..."

Thanh Quảng sdb

Trong Thế chiến II, trại tập trung Auschwitz Ba Lan đã trở nên khét tiếng là trại tập trung giết hại nhiều sinh mạng nhất của Đức Quốc xã, nơi đây có ít nhất 1,1 triệu người nam nữ, già trẻ đã bị giết, trong số đó 90% là người Do Thái.


Can đảm thay, một linh mục Công Giáo đã can đảm dám xin Đức quốc xã cho mình chết thay cho một tủ nhân xấu số, vì tình yêu vị tha của Tin Mừng, do đó Ngài được coi là một vị tử đạo đã hiến trọn tình yêu cho Thiên Chúa và loài người. Tên của Ngài là Thánh Maximilian Kolbe, một linh mục dòng Phanxicô, một trong những nạn nhân của trại tập trung Auschwitz Ba lan.

Sau cuộc xâm lược Ba Lan của Đức vào năm 1939, cha Kolbe và dòng của cha đã mở cửa trợ giúp khoảng 3.000 người tỵ nạn Ba Lan, trong số đó có 2.000 người Do thái. Đức Quốc Xã đã chiếm đóng tu viện vào tháng 5 năm 1941 và cha Kolbe và bốn tu sĩ khác đã bị đưa về trại tập trung Auschwitz, nơi đây các ngài bị lao động khổ sai chung thân với các tù nhân khác.

Khi một tù nhân đào thoát khỏi trại, Đức Quốc xã đã chỉ điểm 10 người phải chết thay thế cho kẻ trốn thoát. Một trong 10 người đó là Franciszek Gajowniczek, òa lên khóc khi ông ta nhớ tới người vợ trẻ và các con thơ của ông.

Không thể cầm lòng trước nỗi thống khổ ấy, cha Kolbe đã lặng lẽ bước ra, bỏ mũ cúi mình trước viên chỉ huy và nói: 'Tôi là một linh mục Công Giáo. Tôi xin chết thay cho một trong 10 người này. Tôi đã già rồi. Và vị linh mục dòng Phanxicô chỉ tay về phía Franciszek Gajowniczek và lặp lại 'Tôi là một linh mục Công Giáo Ba Lan; Tôi muốn thay thế vị trí của anh ta, bởi vì anh ta còn vợ và con trẻ!'

Yêu cầu của Ngài đã được chấp thuận!

Cha Maximilian Kolbe, tù nhân số 16770 đã cùng với 9 người tù khác bị bỏ đói để chết dần chết mòn, trong khi các ngài cầu nguyện… Sau hơn 15 ngày nhịn đói cha Kolbe vẫn còn thoi thóp sống nên Ngài được Đức quốc xã tiêm cho một liều thuốc carbolic để kết liễu sự sống của ngài. Ngài qua đời vào lúc 12 giờ 30 ngày 14 tháng 8 năm 1941 khi vừa tròn 47 tuổi xuân, Ngài là một vị tử đạo của lòng nhân ái
.
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tuyên phong chân phước cho Cha Kolbe vào ngày 17 tháng 10 năm 1971, và Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đã phong hiển thánh cho Ngài vào ngày 10 tháng 10 năm 1982.

http://www.vietcatholic.net/News/html/246204.htm

Sunday, August 19, 2018

Linh mục, Người là ai?

Ví như Tôn Tẩn đã nói răng: “Tri kỹ tri bỉ, bách chiến bách thắng” (Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng), thì linh mục chúng ta, trong cuộc chiến đấu vật lộn với đời, chúng ta cần phải biết chính mình.

Hôm nay, xin nói về vấn đề: “Linh mục, người là ai?

Để đào tạo linh mục, Giáo Hội phải tốn bao nhiêu công sức và thời gian. Chúng ta là người trong cuộc, nhiều khi gần quá hóa quen, nên ít khi đặt lại vấn đề, ít khi xét lại để thấy căn tính của mình. Hôm nay trong những ngày phòng ngắn ngủi này, chúng ta hãy dành một ít phút để suy gẫm về chính mình, rà soát lại xem thế nào là linh mục đích thực, và chúng ta đã sống thiên chức linh mục ấy thế nào.

Vậy, linh mục, người là ai?

Hình ảnh của linh mục rất đa dạng nơi cảm nghĩ của dân chúng. Cách đây ba bốn mươi năm, linh mục là người dâng thánh lễ, cử hành các Bí tích, giảng dạy đức tin, luân lý, Kinh Thánh, là con người của Giáo Hội, độc thân, xa lìa thế gian, mặc áo dòng đen, một viên chức có quyền thế, một nhà quý phái có bàn tay trắng. Nhưng gần đây hơn, danh từ linh mục gợi lên trong trí óc người ta, hình ảnh của một người bạn nghèo, có bàn tay chai cứng, đấu tranh cho hòa bình, cho độc lập, cho tự do, tham gia chính trị, vận động yêu nước, chống tham nhũng…

Những ý tưởng chồng chất ngổn ngang, có khi mâu thuẫn và hời hợt như người ta móc đầy áo đủ loại trên một cái móc áo. Chúng ta hãy bắt đầu cởi bỏ những gì gán cho linh mục và chỉ giữ lại thực chất của linh mục, được truyền thống giới thiệu bắt đầu từ Chúa Giêsu cho đến các linh mục ngày nay.

Đã từ lâu, các nhà thần học, vì muốn truy tìm chính xác, đã tháo gỡ guồng máy Giáo Hội ra và đã định vị từng bộ phận. Do đó, họ đưa Đức Giáo Hoàng ra khỏi Giám mục đoàn, Giám mục ra khỏi linh mục đơn giản, tu sĩ ra khỏi những người được rửa tội, linh mục khỏi giáo dân, Đức Nữ Đồng Trinh khỏi các thánh khác và khỏi Hội Thánh chung chung, bảy phép Bí tích ra khỏi những động tác Bí tích của Hội Thánh. Tháo rời như vậy để hiểu rõ hơn từng bộ phận một.

Giờ đây, có chiều hướng đổi ngược. Các nghị phụ Công Đồng Vatican II cũng như các nhà thần học mới, ráp lại, đặt các bộ phận vào trong toàn khối. Họ đặt Đức Giáo Hoàng trong Giám mục đoàn và trong Hội Thánh (Phêrô tuy đứng đầu, nhưng cũng là một trong nhóm 12 và nhóm 12 cũng là toàn thể dân Chúa), đặt linh mục trong cộng đoàn tín hữu, đặt đời sống tu trì trong đời sống những người được rửa tội, đặt các Bí tích trong Hội Thánh và Hội Thánh được coi là Bí tích Mẹ, đặt Đức Trinh Nữ Maria vào Mầu nhiệm Chúa Kitô và Hội Thánh Người.

Đặc biệt đối với các linh mục, sự biến cải hiện thời của lịch sử, liên kết với nền thần học mới, đưa linh mục trở về hàng ngũ thực sự của mình. Ngày nay, linh mục có uy tín và thế giá, không phải chỉ vì ông được thụ phong linh mục, có chức thánh, mà quan trọng là do đời sống tông đồ và mục vụ của mình. Bởi lẽ, xưa kia người ta coi linh mục là người thông biết mọi sự. Ngày nay, cùng với sự phổ thông văn hóa, linh mục không còn là người duy nhất nắm giữ kiến thức. Người giáo dân bây giờ cũng thông thái, có khả năng chuyên môn, ngay cả cũng đào sâu Kinh Thánh, giáo luật; có những người có bằng cấp cao trong các trường đại học công giáo. Còn về tu đức, có những giáo dân được công nhận như bậc thầy. Họ cũng giảng phòng, làm cố vấn thiêng liêng như các linh mục, chẳng hạn như anh Francois Duff, sáng lập Legio Mariae.

Đàng khác, trong xã hội tục hóa hiện nay, các linh mục không có vai trò nổi bật nữa. Không còn lối sống riêng cho linh mục nữa, không có chỗ dành riêng cho các linh mục trên khán đài danh dự nữa. Linh mục cũng không than phiền về vấn đề này. Không còn là tai mắt đáng được để ý, linh mục lấy làm hạnh phúc sống hòa mình trong cộng đoàn huynh đệ, thích làm một tín hữu giữa các tín hữu, thích làm một công dân như các công dân khác.

Nhưng không phải vì thế mà chúng ta từ bỏ căn tính độc đáo của linh mục. Trong thánh lễ truyền chức linh mục, Đức Giám Mục hỏi ứng viên:

- “Con quý mến, con có muốn trở thành linh mục, cộng tác viên của Giám Mục trong chức linh mục, để phục vụ và dẫn dắt Dân Chúa dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần không?

- “Con có muốn trung thành chu toàn tác vụ Lời Chúa, nghĩa là rao giảng Tin mừng và trình bày giáo lý Đức Tin công giáo theo truyền thống của Hội Thánh để ngợi khen Thiên Chúa và thánh hóa Dân Kitô giáo không?

- “Con có muốn mỗi ngày kết hiệp với Linh Mục Thượng Phẩm là Chúa Kitô, Đấng tận hiến mình cho Cha Người và với Người, thánh hiến con cho Thiên Chúa để cứu rỗi loài người không ?

Sau khi ưng thuận và hứa vâng phục Đức Giám Mục, tiến chức đến quỳ gối đặt tay vào lòng bàn tay Đức Giám Mục. Rồi cộng đoàn đọc kinh cầu Các Thánh, cả triều thần thánh, cộng đoàn Dân Chúa đều tập hợp và cầu nguyện cho tiến chức đang nằm phủ phục dưới đất. Đó là hình ảnh tuyệt đẹp, gây xúc động trong ngày thụ phong linh mục.

Các câu hỏi trên đây trình bày súc tích căn tính của linh mục, đó là hợp tác với Giám Mục điều hành dân Chúa, rao giảng Lời Chúa và trao ban các Bí tích. Làm mọi sự liên kết Đức Giám Mục trong kính trọng và vâng lời. Nói cách khác, linh mục là hiện thân của Đức Kitô, làm đầu của Nhiệm Thể Người là Hội Thánh, kéo dài sự nghiệp Chúa Giêsu ở trần gian để điều hành Dân Chúa, thánh hóa và rao giảng Tin mừng. Nếu thánh Phaolô đã nhận xét về mình trong câu bất hủ: “Nay tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà Chúa Kitô sống trong tôi”, thì linh mục cũng có thể khiêm tốn tự hào nói lên: “Nay tôi nói và làm, nhưng không còn là tôi, mà Chúa Kitô nói và làm qua tôi”.

Khi nhìn ngắm đóa hoa phô sắc trên bàn thờ, người ta dễ quên đi quá trình hình thành của nó. Nếu chúng ta theo dõi cây hoa từ khi mới được ươm trong vườn, nó phải chống chọi với sương nắng, với gió lạnh, đương đầu với khí nóng, phải hút lấy nhựa sống, hô hấp khí trời và thải ra những chất carbon. Tất cả những tiến trình này phải lựa chọn và từ bỏ liên tục mới đi đến thành công, giúp chúng ta đánh giá đúng mức sự quý báu của đóa hoa mà chúng ta đang nhìn ngắm.

Cũng vậy, từ một cậu bé chập chững đi vào Tiểu Chủng Viện với cả một trời bí mật bao trùm trên con đường ơn gọi cho đến lúc lớn khôn, trưởng thành dần dần, chú rồi thầy, rồi mới đến cha, bao nhiêu là thử thách, bao nhiêu là cố gắng, bao nhiêu là kiên nhẫn đợi chờ. Quá khứ nặng nề ấy chúng ta đã vượt qua, nhưng đàng trước, là bổn phận, là trách nhiệm. Đời sống linh mục có vẻ đầy đủ, có khi khá huy hoàng, nhưng là đời sống hy sinh, phục vụ quên mình, thì làm sao không đau khổ. Trách nhiệm chồng chất, trách nhiệm trong sự đều đều đến kinh sợ, và trước tiên, là đời sống cô độc. Có thể ví cuộc đời linh mục với thân phận con gà treo, tuy bên ngoài đầy đủ thức ăn nước uống, nhưng phải đứng im trong ô chuồng không cựa quậy, trong một không gian chật hẹp, mỗi ngày có bổn phận đẻ cho chủ một quả trứng, không được đi đó đi đây, không được bươi móc như các con gà khác, vì nếu được tự do thong thả thì mất trứng.

Trong xã hội vật chất và hưởng thụ, người ta bảo đời sống linh mục như vậy là gò bó, không thoải mái. Nhưng có đời sống nào trên trần gian này hoàn toàn thoải mái? Công nhân, thợ thuyền, giáo chức, nông dân, thương gia, sinh viên…, mỗi người cũng phải nai lưng làm việc, phải chu toàn mọi trách nhiệm của mình, phải đấu tranh vật lộn với đời và phải tuân thủ mọi lề luật. Chỉ có lúc ngủ quên hay chết, chớ không bao giờ nói đến chuyện thoải mái, nếu mỗi người muốn sống nghiêm chỉnh theo căn tính của mình.

Còn hơn thế nữa, linh mục là người của muôn người, được sai đi để phục vụ, để làm đầy tớ thiên hạ, thế tất phải sống đời hy sinh, còn lâu và còn xa mới nói đến chuyện thoải mái vô tư trong đời sống mục vụ. Đúng như Cha Chevrier đã nói: “Linh mục là người bị ăn”. Bị ăn, thế tất phải hao mòn thân xác và tinh thần.

Không thể nghe theo những kẻ bệnh hoạn, kêu la ầm ỹ, lượng định cách lệch lạc giá trị cao cả của chức linh mục. Còn tệ hơn nữa, là đang mang trong mình kho tàng quý báu, không biết coi trọng, lại làm hoạt kê chân dung linh mục trong đời sống mình. Đa số 90% linh mục âm thầm làm việc, tiến bước trên con đường trọn lành bằng những bước chân vững chắc, can đảm đương đầu với mọi thử thách gian lao. Những người không sanh sự, không khoác lác, ồn ào thì không được dư luận để ý đến, còn thiểu số kia bỏ cuộc, thì báo chí, truyền thanh, truyền hình làm rùm beng gây tiếng vang ầm ỷ. Sức sống thiêng liêng do các linh mục mang lại đang trào dâng từ đầu não, lan tỏa khắp thân thể là Giáo Hội. Tại sao nói là đầu não? Bởi lẽ linh mục, hiện thân cho Chúa Giêsu, là Đầu của Thân Thể Người là Giáo Hội. Trong sắc lệnh về “Chức vụ và Đời sống linh mục”, Công Đồng Vatican II có dạy: “Vì được liên kết với chức Giám Mục, nên chức năng của các linh mục cũng tham dự vào quyền bính mà chính Đức Kitô đã dùng để kiến tạo, thánh hóa và cai quản thân mình Người. Vì vậy, chức linh mục tuy dựa trên các Bí tích khai tâm Kitô giáo (rửa tội, thêm sức và Thánh Thể), nhưng lại được một Bí tích riêng in dấu đặc biệt khi họ được Chúa Thánh Thần xức dầu và làm cho nên giống Chúa Kitô Linh Mục, hầu làm cho họ có khả năng nhân danh Đức Kitô Đầu mà hành động”.

Trong quyển sách tựa đề “Hình ảnh mới của Hội Thánh”, Đức cha Ancel viết như sau: “Muốn hiểu các linh mục, phải nhìn vào Giám Mục; muốn hiểu các Giám Mục, phải nhìn vào các tông đồ;muốn hiểu các tông đồ, phải nhìn vào Đức Kitô xét như Đầu của thân thể, là Đấng sáng lập và cứu chuộc Hội Thánh, một Hội Thánh đang nhờ trung gian của Chúa Thánh Thần mà Người đã sai đến để giảng dạy, thánh hóa và dẫn đưa mọi người về với Chúa Cha”.

Như vậy, linh mục vừa là người được rửa tội, trước hết và luôn luôn, linh mục ở trong cộng đoàn tư tế của dân Chúa, là chi thể cùng với các chi thể khác trong thân mình của Đức Kitô.

Vừa là người được truyền chức, linh mục đồng thời cũng là người đứng trước cộng đoàn, như thể một ai khác đang triệu tập và nói với cộng đoàn, như thể là Đầu của Thân Mình ấy.

Như vậy, chúng ta có thể rút từ đây, những phận sự chính yếu của linh mục là rao giảng Tin mừng, cử hành các Bí tích và dẫn dắt đoàn chiên Chúa giao phó.

Linh mục là cộng sự viên của Giám mục, nên trước tiên có nhiệm vụ loan báo Tin mừng của Thiên Chúa. Lãnh nhưng không, phải cho nhưng không. Lãnh Lời Chúa để phát, linh mục mắc nợ với mọi người. Các linh mục phải thông truyền chân lý Tin mừng mà Chúa đã trao cho họ và phải ra sức thực hiện điều này trong mọi trường hợp, dù khi họ sống một cuộc đời tốt đẹp gương mẫu giữa dân ngoại, lôi kéo dân ngoại ca tụng Thiên Chúa, dù khi họ công khai giảng thuyết cho những người chưa tin, dù khi họ dạy giáo lý Kitô giáo hay giải thích học thuyết của Hội Thánh cho các tín hữu, hoặc chuyên lo nghiên cứu những vấn đề thời đại đi nữa, nhất là chu toàn bổn phận truyền giáo đối với lương dân.

Cha Andrée Depierre đã viết trong quyển “Gió muốn thổi đâu thì thổi” những lời trăn trở sau đây: “Tôi thiết tưởng không phù hợp với Kitô giáo khi đa số linh mục đều phục vụ các cộng đoàn dân Chúa được quy tụ trong Hội Thánh và chỉ một số nhỏ các linh mục lo cho những người chưa nhận biết Đức Kitô, mà số này đông biết bao”.

Phận sự thứ hai của linh mục là thánh hóa Dân Chúa: các linh mục được Thiên Chúa hiến thánh để tham dự đặc biệt vào chức linh mục của Chúa Kitô và để trong khi cử hành các việc thánh, họ hành động như những thừa tác viên của Đấng, nhờ Thánh Thần của mình, vẫn không ngừng thi hành chức vụ để mưu ích cho chúng ta. Thực vậy, nhờ phép rửa, họ dẫn đưa con người gia nhập vào Dân Thiên Chúa; nhờ Bí tích thống hối, họ giao hòa tội nhân với Thiên Chúa và Hội Thánh; nhờ việc xức dầu bệnh nhân, họ xoa dịu những ai đang đau đớn; nhất là nhờ việc cử hành thánh lễ, họ tiến dâng hy lễ của Đức Kitô cách Bí tích. Như thế, tiệc Thánh Thể là trung tâm của cộng đoàn tín hữu mà chủ sự là linh mục. Ngoài ra, kinh Nhật Tụng hay Phụng Vụ Các Giờ Kinh làm cho linh mục kéo dài thánh lễ suốt ngày, đồng thời qua đó, các linh mục nhân danh Giáo Hội, thành khẩn cầu cùng Thiên Chúa cho toàn dân đã được trao phó cho các Ngài, và hơn nữa, các Ngài cầu cho toàn thể thế giới.

Thừa tác vụ thứ ba là làm chủ chăn Dân Thiên Chúa. Tuy phân biệt thừa tác vụ linh mục làm ba chức năng như xưa nay, đáp ứng với những khía cạnh thật của sứ mệnh linh mục, nhưng trong cụ thể, khi sinh hoạt, thì cả ba gắn liền và hòa trộn lẫn nhau chẳng khác nào việc hô hấp, tiêu hóa và tuần hoàn trong cùng một cơ thể. Lời Chúa không ngừng lại ở ngưỡng cửa Bí tích, trái lại ở đó, nó còn âm vang mạnh mẽ vì tất cả các Bí tích đều là những Bí tích đức tin. Cũng vậy, chức vụ chủ chăn quy tụ Dân Chúa không phải là chuyện làm sau khi cử hành xong phép Thánh Thể, nhưng là quy tụ để cử hành Thánh Thể. Một khi đã dành ưu tiên cho việc phúc âm hóa và quan tâm đến các con chiên lạc, thì các bổn phận khác sẽ được bảo đảm và hòa chung trong một chức vụ chăn chiên. Như vậy, linh mục là người quy tụ mọi người trong Đức Kitô Giêsu, xây dựng cộng đồng, mở rộng cộng đồng ấy và liên kết với mọi cộng đồng trên thế giới, nói cách khác, đào tạo và làm tăng trưởng Thân Thể Chúa Kitô.

Sau khi ôn kỹ bản chất và các chức năng của linh mục, chúng ta hãy xét xem chúng ta sống chính danh như thế nào. Mỗi ngày chúng ta có luôn trau dồi kiến thức về Kinh Thánh để rao giảng không phải lời riêng của mình, mà Lời Chúa cho giáo dân đang khao khát của ăn nuôi hồn không ? Chúng ta có chịu khó suy gẫm trước và thực hành những điều chúng ta phải trình bày cho dân Chúa không? Hay chúng ta đã lợi dụng tòa giảng như diễn đàn để tranh biện, để tự khẳng định mình hoặc chửi mắng la rầy giáo dân? Thật ra, có lúc cần phải sửa dạy, nhưng luôn dùng lời tao nhã, luôn dùng văn từ sao cho xứng với thiên chức linh mục của mình. Hãy bắt chước tiên tri Nathan khi phải sửa sai Đavit.

Chúng ta có luôn ra sức dâng lễ sốt sắng, không đọc lua láu quá nhanh hay kề cà quá chậm, làm sao cho Dân Chúa tham dự thánh lễ sốt sắng và tiếp cận với hy lễ tuyệt vời này một cách hữu ích để lãnh nhận tối đa ơn thánh không?

Hãy rà soát lại cung cách chúng ta giải tội. Có coi đó như một phương tiện tốt để hòa giải nhân loại với Chúa, những người anh em với nhau, hay coi đó chỉ là xâu bơi cực nhọc?

Linh mục trong tòa giải tội đóng nhiều vai trò tế nhị: vừa là cha, là thầy thuốc, là bạn, vừa là thẩm phán, nhưng cũng là thầy dạy, là mẹ hiền.

·          -Chúng ta có sẵn sàng giải tội khi giáo dân cần đến, hay chúng ta cứng nhắc tính giờ định khắc để biến việc xưng tội của giáo dân thành khổ cực và đáng ngại không?

·          -Chúng ta có sẵn sàng đi kẻ liệt vào bất cứ giờ nào trong niềm xác tín đây là dịp cuối cùng để chúng ta tiễn đưa một cách quyết định người con chiên của chúng ta vào cõi sống muôn đời không?

·          -Chúng ta có chuẩn bị thanh niên nam nữ đi vào cuộc hôn nhân cách chu đáo không?

·          -Chúng ta có tích cực tìm hiểu ơn gọi, nuôi lấy những mầm non để sau này đưa các thanh niên ấy vào các dòng tu, các chủng viện, và tích cực tạo điều kiện tốt để họ sống đời sống dâng hiến trong tôn thờ và phục vụ đắc lực hơn không?

·          -Chúng ta có làm mọi sự với nhiệt tình Nhà Chúa không?

·          -Trong đời sống mục vụ, trong giáo xứ, trong môi trường đào tạo, chúng ta có cư xử đầy tình bác ái và xây dựng với những cộng sự viên của chúng ta không?

·          -Chúng ta có để cho các linh mục đồng nghiệp, cho những ông câu, ông biện, những người trong ban hành giáo có sáng kiến không? Chúng ta có tôn trọng những đề nghị của họ không?

·          -Chúng ta có lắng nghe trong đối thoại chân thành và quyết định cách khách quan không? Hay chúng ta biến họ thành những dụng cụ sai vặt như những người đầy tớ phải tuyệt đối vâng lời ông chủ? Chúng ta có bóp chết mọi sáng kiến của họ, chỉ đề cao cá nhân của mình một cách chủ quan, chỉ cho mình là trung tâm truyệt đối bất khả ngộ?

·          -Chúng ta có ra sức tổ chức các lớp giáo lý có hệ thống, có tìm những giáo lý viên đắc lực, có sắp xếp các lớp theo lứa tuổi và theo nhu cầu?

·          -Chúng ta có tìm mọi cách biết rõ con chiên của mình để tận tình giúp đỡ hay là dửng dưng sống chết mặc bay?

·          -Trong đời sống xã hội, với người lương cũng như giáo, chúng ta có ngay thẳng trong lời nói, trong phong cách, trong lối đối xử, cách ăn uống, nhất nhất phải ý tứ cẩn thận, vì qua đời sống của linh mục, người ta phải nhận ra dáng dấp của Chúa Giêsu Cứu Thế?

Những tiêu chuẩn được đưa ra cho các linh mục xưa nay là: Thánh thiện, nhiệt thành, trở nên muối đất đèn đời, hoàn toàn quên mình trong sứ vụ, bất chấp khó khăn, hoạt động hăng say dưới nhiều hình thức khác nhau để mở mang Nước Chúa, nêu gương nhân đức, chăm lo cho con chiên cả tinh thần lẫn vật chất. Muốn đạt được những tiêu chuẩn ấy, linh mục cần phải tự huấn luyện mình quảng đại, nhiệt thành, nội tâm sâu sắc, sống giản dị, phục vụ tận tình, sẵn sàng đối thoại không định kiến

Như vậy có quá đòi hỏi nơi linh mục hay không?

Tại sao phải dồn hết gánh nặng trên vai của linh mục?

Đúng là sứ vụ của linh mục rất vinh dự nhưng cũng rất nặng nề. Một viên ngọc quý được đặt trong bình sành. Nhưng có Chúa ở cùng, chúng ta không lo sợ. Vì theo sát gót Chúa Giêsu, nên bổn phận chúng ta cũng làm con người-Chúa như chính Đức Kitô. Có nghĩa là làm trung gian giữa trời và đất.

Sau đây tôi xin giới thiệu một chứng nhân anh hùng: suốt đời chứng nhân đó đã theo sát gót Chúa Giêsu trong ơn gọi của mình. Người đó là cha Đamiên, biệt danh tông đồ người hủi ở đảo Molokai, một đảo nằm trong quần đảo Hawai, giữa Thái bình dương. Tại đây, từ 700 đến 800 người mắc bệnh phong hủi đàn ông, đàn bà, trẻ con chồng chất trong một phòng nhỏ của đảo, bị đuổi ra khỏi những đảo lân cận mà trước kia họ ở, để khỏi lây bệnh cho người khác. Mảnh đất chật hẹp dành cho họ phía trước mặt là đại dương, phía sau là một dãy núi sừng sững bao quanh, khó bề thoát ra được. Lúc đó, người ta đã biết rõ thế nào là phong cùi: một bệnh làm cho thân xác mỗi ngày thêm thối rữa, người ta chứng kiến cảnh thối dần, thối dần, cho tới khi toàn thân biền thành cái thây ma. Khi bệnh phát hiện, người ta biết từ đây trở nên dị dạng dị hình, không thuốc men, chỉ có một việc là chờ chết.

Mọi người chỉ sống trong những túp lều cất bằng gốc cây già và lợp lá; quần áo của họ chỉ còn là những tấm giẻ rách thối tha. Nước quá thiếu để được tắm sạch, muốn có một chút khí để thở phải ra khỏi lều. Người bệnh nhẹ luôn bị ám ảnh trước mắt mình những khuôn mặt biến dạng, tay chân cụt ngủn đầy những ung nhọt, và rơi rụng dần dần, xông ra những mùi nồng nặc. Rồi đây họ cũng sẽ trở nên giống như vậy. Không ai săn sóc họ, họ chỉ sống nhờ nguồn tiếp tế duy nhất đến từ chính phủ Hawai. Khi dù mang thực phẩm được thả xuống, họ cướp giật tranh nhau, họ không thiết gì canh tác trồng trọt, chỉ có một điều cần duy nhất là rượu, uống rượu để quên hết những đau khổ và ưu phiền. Với những người mới đến, người ta tuyên bố ở đây không có luật lệ gì hết. Đó là sự thất vọng hoàn toàn, một sự dơ bẩn ghê tởm nhất. Không có ai mang lại cho những người xấu số này một chút hy vọng sao? Cho tới lúc đó, chỉ có những nhà truyền giáo tạm dừng chân một vài ngày rồi lại đi mất, nhưng Thiên Chúa đã không thể bỏ con cái Ngài.

Năm 1873, một nhóm sáu nhà truyền giáo họp với Đức Giám mục. Đức Giám mục bày tỏ: “Khắp nơi trong địa phận nhà đã được Phúc âm hóa”. Một trong các vị truyền giáo trả lời: “Thưa Đức Cha, Đức Cha đã quên một hòn đảo, phải, hòn đảo đó là Molokai. Các nơi khác có thể là thiên đàng, nhưng Molokai quả là một hỏa ngục”. Một vị khác tuyên bố: “Con đây sẵn sàng được chôn sống giữa họ”. Mọi người quay nhìn vị truyền giáo đó và nhận ra là cha Đamiên, một linh mục trẻ, sinh tại nước Bỉ vào năm 1840 và từ 18 tuổi, đã ước ao làm nhà truyền giáo. Ngài có mặt ở quần đảo Hawai từ 10 năm nay, thay thế anh ruột mình, một linh mục trẻ định sang truyền giáo ở đây nhưng chết trước khi thi hành ý nguyện. Đức Giám Mục chấp thuận đề nghị nhưng với ý định chỉ để cha ở đó ít tháng thôi.

Sau một thời gian, Đức Giám mục nhận được thư những người hủi, trong đó có viết: “Thưa Đức Cha, cám ơn Đức Cha vì đã gởi đến cho chúng con một linh mục, nhưng tại sao Ngài lại muốn cất linh mục ấy đi, vì linh mục này yêu thương chúng con nồng nàn và rất muốn ở lại với chúng con?”. Đức Giám Mục bằng lòng chấp thuận, và trước mặt những tín hữu mới của Ngài, cha Đamiên tuyên bố: “Các con quý mến, cha sẽ ở với các con cho đến mãn đời. Đời sống các con là đời sống của cha, và nếu Chúa muốn, một ngày nào đó bệnh của các con cũng là bệnh của cha. Cha sẵn sàng trở nên hủi với chúng con”. Trong cái nghĩa địa sống đó, cha Đamiên không ngừng làm phát triển đức ái.

Một ngày khi trở về lều mình, cha nghe một tiếng yếu ớt phát ra từ miệng hố. Ngài nhìn xuống và thấy một người hủi nằm gọn trong đó. Ngài hỏi: “Con làm gì ở dưới vậy?”, người hủi trả lời: “Những người khác đuổi con, con không chống lại được, người ta nói con không cần lều để chết”. Cha Đamiên đưa người đó vào lều mình và đặt người đó trên giường mình.

Lần khác, Ngài đi ngang qua một hố đổ rát, thấy một người đẩy một chiếc xe cút kít, sau đó hắt một vật gì trên xe xuống đống rác, cha tưởng là đồ dơ, nhưng khi vật đụng đến đất, một tiếng người khẽ rên lên. Người ta đã không đợi cho anh ấy thở hơi cuối cùng để vứt vào đống rác.

Cha Đamiên, từ đó, tự đi đóng cho mỗi người một cái hòm. Để chôn những người xấu số này, cha đã lập một nghĩa địa. Cha Đamiên lo lắng chăm sóc cho hết mọi người, băng bó mọi vết thương, đỡ nâng những người không đi nổi, khai mở nước từ xa về để cho người phong cùi tắm rửa sạch sẽ. Những túp lều cũ thối hôi đầy gián, mối, cha phá đi để cất những lều mới. Cha Đamiên quả thật là một người cha của mọi người, ngay cả đối với những người lúc đầu tìm cách trục xuất Ngài khỏi đó. Có những lúc Ngài gặp những trở ngại to lớn: chính phủ từ chối không cho Bề trên Ngài đến thăm Ngài, hay đến nơi Ngài ở. Ngài đành phải đứng dưới thuyền để xưng tội to tiếng cùng với một linh mục đứng giải tội trên tàu, vì sợ lây bệnh, nhà nước không cho cha ấy xuống đảo.

Năm 1885, sau một lần đi thăm bệnh trở về, cha thấy chân mình nhúng vào nước sôi mà không biết nóng. Đó là dấu Ngài bị lây hủi. Ngài viết cho Đức Giám Mục: “Người ta thấy có những vết đỏ trên má con, bên tai trái con, lông mày rụng, rồi đây con sẽ trở nên dị dạng. Con cảm thấy rất an bình và hạnh phúc hơn bao giờ ở giữa dân tộc của con”. Ngài tiếp tục làm việc bốn năm nữa với cơn bệnh ngày càng phát triển. Ngày 30.03.1889, Ngài nằm liệt giường, Ngài nói: “Hãy xem tay tôi: các vết thương đều đóng lại, vảy trở thành đen. Đó là dấu chỉ sự chết đến gần. Hãy xem mắt tôi: tôi đã giúp bao người hủi hấp hối, tôi không lầm, sự chết không còn xa”. Ngài chết ngày 15.04.1889.

Tấm gương anh hùng trên đây đã nhắc cho chúng ta bổn phận sống lời cam kết mà chúng ta đọc mỗi ngày: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến”. Loan truyền và tuyên xưng không phải chỉ bằng môi miệng, hay như người ta thường nói “đầu môi chót lưỡi”, nhưng bằng chính cuộc sống mình. Biết hy sinh, biết chết đi như Chúa Kitô trên thập giá, như cha Đamiên tông đồ người hủi, trong niềm hy vọng sống lại với Chúa.

Không cần gì dốc lòng nhiều lời, hãy cố tâm thực hiện cho bằng được những cử chỉ, dầu nhỏ mọn, để hy sinh và mang lại niềm hy vọng, được như thế, là chúng ta đạt được những gì Chúa muốn và những gì lòng ta, những linh mục chân chính, đầy thiện chí, hằng ước mơ.

+ GM Phêrô Nguyễn Soạn          
VietCatholic News (28/02/2005)

Sunday, August 5, 2018

Lẽ Sống - Tha Nhân Không Là Hỏa Ngục

(Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu Radio Veritas Asia)

05 Tháng Tám

Có một chàng thanh niên khao khát trở thành một thánh nhân. Chàng xin vào một dòng tu. Không mấy chốc, chàng khám phá ra tính tình nóng nảy của mình. Nhưng thay vì tìm căn nguyên nơi mình, chàng quy trách cho những người xung quanh. Tha nhân đã trở thành hỏa ngục đối với chàng.

Sau cùng, không còn chịu nổi đời sống tập thể nữa, chàng nghĩ có thể tìm thấy sự yên tĩnh trong sa mạc. Thế là chàng đã lên đường tìm đến một nơi hoang vu vắng vẻ để cắm lều sống đời ẩn sĩ. Mà thật thế, chàng đã tìm lại được sự thanh thản trong tâm hồn...

Tuy nhiên, sự bình an trong cô quạnh ấy không kéo dài được. Ma quỷ đã kéo đến và chúng đã gây xáo trộn trong căn lều xinh xắn của chàng. Không còn giữ được bình tĩnh, chàng đã nổi tam bành và đạp đổ tất cả...

Sau cơn giận dữ, trở lại trạng thái bình thường, chàng mới hồi tâm suy nghĩ: Tôi đã bỏ lại tu viện các anh em của tôi, nhưng tôi lại mang chính tôi vào sa mạc. Không phải anh em tôi là căn nguyên của đau khổ của tôi, nhưng tính tình của tôi mới là đầu mối của mọi đổ vỡ...

Chúng ta được sinh ra trong một gia đình, chúng ta được mời gọi để sống trong xã hội. Tha nhân không phải là một trở ngại, nhưng chính là một trợ giúp để chúng ta phát triển nhân cách và thành toàn.

Tất cả mọi căn nguyên chính của thất bại và thành công đều nằm trong ta. Cuộc chiến cam go nhất và liên lỉ nhất của chúng ta, chính là chiến đấu chống lại bản thân chúng ta. Xã hội có thể thay đổi, cuộc sống có thể tốt đẹp hơn nếu chúng ta biết cải thiện con người của chúng ta trước.

Sunday, July 29, 2018

Ðức Cha Cassaigne Sanh, Giám mục người cùi Việt Nam

Thi Chương

Gioan Cassaigne sinh ngày 30-01-1895, tại Grenade-sur-l’Adour, Landes (miền 40), giáo phận Air et Dax, Pháp. Con trai duy nhất của ông Joseph Cassaigne (1842-1948) làm nghề thử và bán rượu, và bà Nelly Cassaigne (1852-1907). Gia đình còn bà ngoại tên Héloise Cassaigne, qua đời khi cha Cassaigne ở Di Linh (22-4-1929). Là con một, nên được mẹ và bà ngoại chăm sóc giáo dục cẩn thận. Chính mẹ đã dạy con học, đọc kinh, lần chuỗi và dẫn con đi nhà thờ, ghi tên cho con vào nhóm trẻ giúp lễ. Gioan thích và chăm chỉ mỗi khi giúp lễ. Khi còn nhỏ, Gioan theo học nội trú ở trường Saint Bernard, ở Bayonne và sau chuyển qua trường San Sabastien ở Tây Ban Nha. Gioan giỏi Toán, tiếng Pháp, và đứng đầu về thể thao. Năm Gioan 12 tuổi mẹ mất (18-8-1907) và khi đang làm Giám Mục Sàigòn thì cha mất (15-1-1950). Sau khi mẹ mất Gioan phải bỏ học 3 năm, về nhà phụ cha đi ban rượu cho tới năm 1911. Gioan buồn vì phải bỏ học tiếng Latin để học tiếng Tây Ban Nha, cho tiện buôn bán. Ơn gọi của Gioan đến trong trường hợp sau : Thời đó, nhiếu gia đình đọc Journal des Voyages của cha Alexandre de Rhodes (1653 ), và Annales de la Propagation de la foi. Trong đó có nhiều tin tức về công việc truyền giáo ở Ấn Độ, Phi Châu và Đông Dương. Gioan thích ngồi bên mẹ và bà ngoại sau khi đọc báo, nghe kể lại những chuyện bên các xứ truyền giáo, tò mò hỏi bà ngoại về những danh từ Latin. Gioan say mê tiểu sử thày giảng Anrê Phú Yên, vị tử đạo đầu tiên của VN. Một hôm, vào năm 1906, Gioan thấy được một carte postale, từ Tonkin, con dấu tròn của bưu điện ghi ngày 18 Juin 1906. Bên cạnh dấu Bưu điện có ghi : 200. TONKIN - Kebao - Village sur Pilotis en baie d’Along. Gioan nói với mẹ : Con muốn trở thành linh mục, và nhà truyền giáo. Bà ngoại hay chuyện này. Nhưng quyết định là do người cha và phải học tiếng Latin. Gioan cất kỹ carte postale này và luôn kẹp vào sách Missel. Ơn gọi luôn ấp ủ trong lòng cậu bé ngoan, tốt lành. Năm 1908, áp lễ các linh hồn, bà ngoại nói với Gioan : Mai là lễ các linh hồn, cháu nhớ cầu cho mẹ nhiều nhé. Hôm sau tại nhà thờ, Gioan mở Missel ra, có kẹp ảnh mẹ. Gioan đăm chiêu cầu nguyện. Qua Phúc Âm lễ, Gioan linh cảm mẹ đã ‘‘yên vui và hoan lạc trên Quê Trời Cõi Phúc’’ và chứng dám cho ơn gọi của mình. Gioan vui sướng như ý Chúa đã thành. Nhưng biết đến bao giờ, ngày nào, làm gì bây giờ ? Thế rồi, một hôm tại trường học, trong lớp Gioan làm rớt Carte Postale, sư huynh giám thị Zéphyrin lượm được. Qua trao đổi, thày Zéphyrin biết ý định đi tu truyền giáo ở Tonkin của Gioan. Và nhà giáo dục trẻ này đã giúp Gioan đạt ý nguyện. Năm 1913, Gioan vào tu học trường Sư Huynh tại Saint-Lo. Từ năm 1914, Gioan 19 tuổi, nhập ngũ và phục vụ trong sư đoàn 6 ở Vincennes. Gioan đã tham dự tác chiến ở Saint Michel, ở Bar-le-Duc. Trong quân ngũ, Gioan làm việc trong bệnh xá chung với Hội Hồng ThậpTự. Ít nguy hiểm mà dơ bẩn. Nhưng Gioan thích và sốc vác công việc. Áo blouse trắng lúc nào cũng dính đầy máu. Nhiều khi không có băng-ca, Gioan đã cõng hay vác bệnh nhân chạy, tránh bom đạn.

Sau khi giải ngũ, từ 1919-1925 Gioan nhập học chủng viện Thừa Sai Paris và thụ phong linh mục ngày 19-12-1925. Ngày 06-04-1926, Cha mới từ giã ba mẹ tại ga Lyon đi Marseille lấy tàu qua Việt Nam, và tới Sàgòn ngày 05-05-1926, học tiếng Việt ở Cái Mơn và chọn tên VN là Gioan Sanh. Ngày 24-01-1927, Đức Cha Isidore Marie Joseph Dumortier Đượm (MEP. 1869. 1893. 1925. 1940) cử Ngài làm cha sở họ Di Linh. Thánh lễ đầu tiên gồm Cha, chú giúp lễ đem từ Sài-gòn, ông bõ điếc xin theo từ Cái Mơn và vợ chồng người Mọi.

Viên Đá đầu tiên

Vào một ngày thứ Năm, cuối 1927, khi đi săn kiếm thức ăn, Cha gặp một phụ nữ cùi rên la bị gia đình bỏ mặc trong một chòi lá cao, chờ chết. Cha trèo lên đến sát bên an ủi. Hôm sau Cha đem thuốc và đồ ăn tới. Cha tiếp tục thăm và chăm sóc, và rửa tội cho bà, được hai tuần bà chết, ngày 08-12-1927, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm. Trước khi nhắm mắt, bà nói : Ông Lớn ơi, con sẽ nhớ đến Ông Lớn, khi con về Nước Trời. Đó là viên đá đầu tiên trong đời truyền giáo của Cha. Cha đã dâng thánh lễ tạ ơn sốt sắng như lễ mở tay. Nhờ đó Cha biết có nhiều người cùi lang thang trong rừng. Cha tiếp tục tìm kiếm người cùi, thuyết phục họ về sống chung, gần ngài. Từ từ Cha tập trung họ sống thành làng. Cuối tháng 3-1927, cất nhà nguyện bằng lá, bắt đầu có thánh lễ mỗi Chúa nhật. Tháng 7-1927, ban ngày mở lớp học cho trẻ em, vừa dạy chữ vừa giáo lý. Ban đêm cho người lớn. Ngày 19-3-1929, chọn lễ thánh Giuse, làm ngày khai sinh làng cùi, rửa tội cho người thượng đầu tiên tên Giuse Braé. Làng được 23 bệnh nhân cả nam nữ, tại đồi Kala, ở trong 6 nhà lá. Noel 1930, một gia đình được rửa tội, khánh thành tháp chuông. Tiếng chuông đầu tiên vang lên thay cho tiếng cồng. Một mình coi xứ đạo, và làm đủ việc : y tá có khi đỡ đẻ, chạy gạo và thuốc men cho dân làng cùi. Từ đây, Cha nhuốm bệnh sốt rét và lao phổi. Một năm bị sốt tới 10 tháng như cha nói : ‘‘Trong 12 tháng, tôi bị sốt hết 10 tháng. Nhưng tôi không thể nằm nghỉ, vì không chút yên lòng và không có một ai thay thế tôi lo cho bệnh nhân’’. Năm 1938, có thêm 3 nữ tu dòng Bác Ái Vinh Sơn người Pháp đến giúp. Làng cùi đã có tới 100 người.

Cha học và nói thông thạo tiếng thượng Koho và xuất bản tự điển thượng ngữ Koho-Pháp Việt (1929), và Giáo lý (?) và phong tục Thượng (1937), in tại Tân Định. Vào thập niên 60, chính cha tổ chức và phát thanh trên đài phát thanh Đà Lạt chương trình tiếng Koho. Khu vực mục vụ của Cha rất rộng, chạy dài cả 100 cây số dọc theo đường từ Di Linh ngược lên tới Bắc Hội, Cầu Đất, Bảo Lộc, Kala, Công Hinh... Cha làm việc kiệt sức, không chịu nghỉ, người ta bắt đem cha vào nhà thương Đà Lạt (1929), không bớt lại đem Cha về Sàigòn (1930) và bắt Cha phải về Pháp chữa trị (1931). Ở Pháp cha vẫn nóng lòng : ‘‘Mau mau cho tôi về Việt Nam với những đứa con Thượng của tôi. Vì tôi không thể bỏ chúng một mình’’.

Cha đã tả về tình trạng con cái người như sau : Giữa họ có rất nhiều người mắc bệnh cùi mà thiếu ăn nên chết đói. Thiếu thuốc chữa, thiếu nhà ở nên bị bỏ rơi, phải chui rúc dưới bụi cây, ở trong hang lỗ, đau ốm, đói khổ rồi chết (1965)... Cha phùc trình về Pháp : Khi còn làm việc được thì người cùi còn được sống trong gia đình. Khi thân tàn ma dại vì bệnh cùi, nhất là khi các ung thối bắt đầu phá : miệng lở loét, mủ máu vấy đầy, khiến người chung quanh nhờm gớm kinh tởm không chịu được. Lúc ấy dân làng đưa họ vào xó rừng, để họ ở lại đó một mình, sống chết sao mặc kệ. Rồi yếu liệt trong túp lều hiu quạnh, đói khổ, mà chết dần chết mòn... Không kể trường hợp bị cọp tha đi... Người cùi là người biết mình đang chết, nhìn rõ ràng những sinh thúi rục rã của chốn mồ sâu...

Giám mục đơn nghèo

Ngày 20-02-1941, đang lúc băng bó vết thương cho bệnh nhân, Cha nhận được thư Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám Mục Sàigòn. Ngài nói : ‘‘Lần thứ ba, nước mắt lại đến với tôi : mất mẹ, bỏ cha và nay lại xa các con tôi’’. Được tin này, Ngài viết thư cho bố : Con chỉ mong ước làm vị truyền giáo tầm thường, nghèo là vui thỏa lắm rồi. Nay người ta lại đổi áo, đổi chỗ cho con trong Giáo Hội. Khẩu hiệu Giám Mục là Bác Ái và Tình Yêu (Caritas et Amor). Ngày lễ thụ phong giám mục (24-06-1941) người ta lấy làm lạ vì có đoàn con chiên cùi vây quanh Ngài. Cha con vui vẻ. Địa phận Sàigòn rất quen với hình ảnh của Ngài là ‘‘Đức Cha đi xe đạp’’ có khi Ngài đi vespa đi đến các họ đạo, dễ len lỏi vào khu dân cư. Trong thời gian làm Giám Mục, Sàigòn trải qua nhiều đổ nát, chết chóc do cuộc đảo chính của người Nhật 19-3-1945, Việt Minh nổi dậy tuyên bố độc lập 2-9-1945 và chiến tranh Đông Dương kết thúc bằng hiệp định Genève 20-7-1954. Sàigòn đón nhận 6.000 người di cư từ Bắc vào Nam... Tòa Giám mục luôn mở cửa đón nhận và lắng nghe tiếng kêu cứu, nguyện vọng mọi ngưòi, từ mọi nơi. Ngài luôn có mặt tại những nơi hỏa hoạn, giúp đỡ lo cơm, áo mặc cho người tỵ nạn và dân nghèo.

Cả đời, từ khi chịu chức linh mục cho tới qua đời, Ngài sống hết sức đơn nghèo. Ngài thường nói : Nghèo khó là ngọn gió thiêng thổi đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Linh đạo của Ngài là sống nghèo. Vì thế Ngài thương người nghèo. Ngài luôn khước từ những cái dư thừa, chỉ dùng những cái cần thiết. Khi còn làm giám mục ở Sài gòn, Ngài đã xin các cha giúp ngài có lễ để làm, lấy tiền mua vé tàu thủy đi triều yết Đức Giáo Hoàng Pio XII vào ngày 17-10-1947. Sau Roma, Đức Cha về Pháp thăm trụ sở MEP, về quê thăm bố đã 85 tuổi. Hai cha con đi hành hương Lộ Đức. Đồ đạc quần áo hành hương, Ngài để gọn trong chiếc rương mà Hội Thừa Sai Paris đã cho khi qua VN. Gia tài chỉ có thế. Trước khi đi Roma, vì thấy Ngài không có quần áo nào tốt có thể mặc được nên cha quản lý đã may cho Ngài ít quần áo mới để Ngài mang theo. Nhưng cha này sợ Ngài không nhận, nên cha đã gói những quần áo mới này vào trong một bọc riêng, và nhờ Ngài khi tới Marseille chuyển cho linh mục Fabre. Khi Ngài đi rồi, cha quản lý viết thư nói rằng gói quần áo đó để cho Đức Cha dùng, chứ không phải gửi cho cha Fabre nào đâu. Ba tuần sau, Ngài viết thư về : Cám ơn con, nhưng con đã làm không vừa ý Cha. Khi trở lại Sàigòn, Ngài nói số quần áo đó Ngài đã để lại cho những người khác cần hơn mình. Có lần ở Di Linh, Ngài không có tiền để vá bánh xe. Cha sở đưa cho Ngài 100 đồng. Vá xe hết 50 còn 50 đồng, Ngài đem trả lại cho cha sở. Ai đến thăm Ngài ở Di Linh thì thấy căn phòng Ngài rộng 14 m2, là 1 trong 38 phòng của trại, chẳng có gì đáng kể : 1 giường gỗ loại bệnh viện, 1 tủ gỗ nhỏ, 1 bàn với hai ghế thô sơ, 1 rương sắt đem từ Pháp qua. Về già, Ngài tự nấu bữa ăn sáng và tối. Trưa thì nhận phần cơm nhà thương như bệnh nhân khác. Sài gòn vào năm 1951, Ngài đã tổ chức Đại Hội Thánh Thể rất lớn, lôi cuốn hàng trăm ngàn người trong giáo phận về tham dự.

Làm việc ở Sàigòn mà vẫn nhớ tới con chiên ở Di Linh. Tạm rời Kala về Sàigòn làm giám mục, nhưng Đức Cha vẫn nhớ và hướng về con cháu cùi của mình trên cao nguyên giá lạnh. Nơi mà nhiều sách viết gọi là ‘‘Thiên Đàng của Tình Thương và hoan lạc’’ (La cité de l’Amour et de la Joie). Ngài lo lắng và đi ‘‘ăn xin’’ cho đàn con xấu số. Với tư cách là giám mục, lời kêu cầu của Ngài có thế lực và hiệu quả tốt. Chính quyền đương thời nhận trực tiếp giúp đỡ, mở mang trại cùi. Làng cùi được chuyển từ chân lên ngọn đồi, diện tích gần 5 mẫu. Mỗi người cùi được trợ cấp mỗi ngày là 0$50.

Sau 14 năm làm Giám mục, bệnh cùi phát hiện trong người. Ngày 23-6-1943, áp lễ quan thày của Ngài, Ngài đem mở bao thơ ghi kết quả của viện thí nghiệm ngài mắc bệnh Hansen và nói với các cha đến chúc mừng rằng : Đây là quà lễ quan thầy của tôi. Quà mà tôi vừa tiếp nhận. Thật là đẹp. Một cha đọc thấy ghi ‘‘Positif’, liền chảy nước mắt và thưa : Ôi, Đức Cha bị bệnh cùi rồi’’. Đức Cha cười và đáp : Pas du tout ‘‘bị’’ mais c’est ‘’được’’ (đâu phải bị mà được chứ). Với kết quả này, Đức Cha tuyên bố : Tôi bị bệnh phong cùi rồi, Đức Thánh Cha không có lý do gì từ chối đơn xin từ nhiệm của tôi. Trong những ngày ở Di Linh, khi tìm kiếm người cùi, Cha đã từng nói : Tôi muốn được cùi để có thể hiểu và thương người cùi nhiều hơn.

Chọn Việt Nam làm quê hương

Nguyện vọng và vận động của Đức Cha Gioan Sanh là muốn có giám mục VN thay Ngài. Ngày 30-11-1955, Đức Cha trao quyền cho Đức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền (1906-1973). Ngày 03-12-1955, Đức Cha Sanh sung sướng và vui vẻ trở về làng Kala tiếp tục sống rồi chết bên người con cùi. Cha con lại gặp nhau, niềm vui khôn tả. Cha lại tiếp nối con đường cũ, mở rộng làng cùi, có trường học, trạm xá, đường tráng nhựa.

Đề cập đến bệnh nhân cùi, Đức Cha thường khuyên các sơ trẻ mới tiếp xúc với bệnh nhân : Họ quá đau khổ, đừng làm hay có cử chỉ gì khiến họ đau khổ hay buồn tủi thêm. Họ là những người đáng qúi, đáng thương và tha thứ. Phải băng bó họ cả hai vết thương một lúc, thể xác và tinh thần. Ngài kể lại, ngày đầu mới băng vết thương cho người cùi, chưa quen, cha suýt nữa ói mửa. Cha đã chạy vội vào lùm cây bên cạnh nói là đi cầu. Ói xong, lau mặt, cha trở ra tiếp tục băng bó. Làm như vậy, để cho người cùi bớt tủi hổ, vì mình dơ bẩn. Đức Cha rất mực thương bệnh nhân, người giàu, có học hay nghèo, đối xử như nhau. Không quở mắng hay nặng lời với bất cứ bệnh nhân nào. Một hôm vào dịp tết, có hai anh vì say, đánh nhau, Đức Cha đến can, nhưng bị một anh xô té. Người đứng dậy, tươi cười đến vỗ vai anh ta không chút giận hờn. Sợ rằng các sơ biết sẽ quở anh này, Đức Cha đã giữ kín chuyện này. Sau này có người kể lại cho một sơ. Sơ đã hỏi Đức Cha. Đức Cha trả lời : Đâu có gì đáng trách với người bệnh hoạn tật nguyền. Con đừng để ý nữa. Cha muốn vậy. Tội cho cả cha lẫn họ.

Lần khác, môt bệnh nhân bị một sơ quở nặng lời, vì anh phạm lỗi. Đức Cha nghe thấy, liền lên tiếng trách sơ trước mặt bệnh nhân. Sau đó, Ngài đi tìm xin lỗi sơ và nói : Hôm qua cha trách con, cốt ý để cho bệnh nhân đừng tủi, mặc dầu con đã làm phải. Cha đến xin con đừng buồn. Chúng ta không thể làm Chúa Giêsu buồn, thì cũng đừng làm cho người cùi buồn. Vì họ là con Chúa, là hình ảnh Chúa Cứu Thế đau khổ trên Thập Giá. Ba nữ tu VN tận tụy, cánh tay đắc lực, giúp Ngài điều hành lang cùi là : Céleste, Josephine và Angélique. Đức Cha hay nói với các sơ rằng : Cha là người Pháp, nhưng có trái tim Việt Nam.

Đức Cha luôn nghĩ và lo cho bệnh nhân. Hài lòng, thích, cười hả hê và vui khi thấy con cái được chăm sóc chu đáo. Biết ý, nên người phụ trách nhà bếp khi mua được cá hay thịt đều báo cho người hay. Vì quanh năm, trong trại chỉ được ăn cá khô, muối. Năm 1968, hồi Tết Mậu Thân, thiếu gạo, chạy mãi mới mua được 15 bao, ngài mừng và vui cười cả ngày, mặc dầu trong người đang sốt nặng. Các dịp lễ lớn, tết, cả làng được ăn thịt trâu, thịt heo, một loại thực phẩm hiếm. Cha con vui, nhảy múa tưng bừng, như đại hội. Bên cạnh phòng Đức Cha là trại trẻ em. Ngài thường để dành bánh kẹo cho các em, để các em nô đùa ngay trước cửa phòng. Có lần Ngài bị đau nặng, các em chơi to tiếng, các sơ đến la rầy chúng để Ngài nghỉ ngơi. Ngài biết và nói với sơ : Con hãy để chúng vui tự nhiên. Trông chúng vui vẻ là cha đủ nghỉ ngơi rồi. Hãy để chúng đến gần để cha được an ủi. Đức Cha nói tiếp : Nơi nào có trẻ là có Chúa. Không giống như chúng không vào được Nước Chúa. Nếu Chúa tha hình phạt cho thế gian, phần lớn là nhờ sự có mặt của những linh hồn thơ ấu như vậy. Già yếu cần sữa, nhưng mỗi tuần Ngài chỉ dùng một hộp sữa, mà bao giờ cũng để lại một phần cho cậu bé kéo chuông vào cuối tuần. Cứ chiều thứ bảy, cha để sẵn phần sữa ngoài hiên nhà, chú bé kéo chuông đến lấy. Ngài vui khi thấy cậu húp phần sữa này. Một hôm Ngài đi hớt tóc trên Di Linh, để phòng trống. Sơ dọn phòng đã thấy phòng sạch không cần làm gì, vì ngài tự làm lấy hết. Sơ đã thay cái mền quá cũ rách. Trở về, thấy vậy, Đức Cha bảo cất mền mới, để cho bệnh nhân, và phảt trả lại mền cũ cho Ngài.

Về đời sống thiêng liêng. Ngài là gương sáng về lòng sùng kính Đức Mẹ, Thánh Giuse và Thánh Têrêsa. Về tinh thần phó thác cho Đức Mẹ, Ngài nói : Tình tôi yêu mến Đức Mẹ là một tình vô tả, Mẹ chưa bao giờ từ chối một điều gì tôi xin. Năm 12 tuổi, sau khi mẹ chết, Đức Cha kể lại : Lúc ấy tôi đau xót vô lường, rồi nước mắt ngưng khô, vì đã được Đức Mẹ lau sạch. Vì Mẹ đã ''xuống'' ở với tôi thay thế cho mẹ. Đức Cha kể tiếp : Vào buổi chiều mùa Thu trên đất Pháp, Gioan nhớ mẹ quá, mới chạy đến qùi dưới núi Đức Mẹ khóc và kêu gào : Mẹ đứng đó làm gì. Mẹ hãy bỏ núi về nhà con, sống với con. Con mất mẹ và đang cần đến Mẹ thay thế. Đức Cha luôn lần chuỗi Mân Côi. Ba kỷ vật Đức Cha để lại làm kỷ niệm là : một Thánh Giá bằng gỗ qúi, quyển Manuale Christianum, và chuỗi Mân Côi. Trong sách có kẹp câu kinh : Lạy Chúa, là Chúa Trời con, từ bây giờ con bằng lòng và sẵn sàng nhận lãnh bởi tay Chúa cái chết bất cứ cách nào tùy theo Thánh ý Chúa, với nỗi bồi hồi, khốn bức và trần phiền đau đớn nữa. Amen.

Đức Cha có lòng sùng kính đặc biệt thánh Giuse. Ngài thường gọi thánh Giuse là ''Cha Thánh Giuse'', để thay người cha trần gian. Ngài nói : Cha tôi là ông Joseph Cassaigne thương tôi vô cùng, cho tôi tất cả. Nhưng tôi còn một Cha Giuse khác, Cha này thương tôi nhiều hơn. Một nữ tu kể lại : Đức Cha luôn chạy đến với Thánh Cả Giuse. Mỗi khi thấy làng cùi thiếu hụt lương thực, Ngài lại xin với Thánh Giuse. Và không lần nào xin mà không được. Khi nào báo hết gạo, Ngài đáp : Không sao đâu, để cha xin. Rồi Ngài chạy đến khấn xin dưới chân Thánh Giuse. Vài hôm sau là được như ý.

Đường nên thánh của Đức Cha là sống bằng ba tinh thần ''dâng hiến, chấp nhận và phó thác'' của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, quan thầy truyền giáo.

Con đường tu thân tích đức của Thánh Phanxico Xavie là mẫu mực thánh thiện của vị tông đồ người cùi xứ thượng VN. Hàng năm tới ngày lễ Thánh Phanxico, Đức Cha cũng dành một ngày tĩnh tâm và cầu nguyện.

Từ 1972, Đức Cha không còn đủ sức để làm việc vì các căn bệnh hoành hành Cha từ lâu : bệnh sốt rét (từ 1929), cùi (1943), lao xương (1957) và lao phổi (1964). Đời Đức Cha đã bắt chước và hay kể lại gương của thánh Gioan : Một hôm, Thánh Gioan gặp một người cùi lở loét đầy mình, thối tha ghê tởm, Thánh nhân liền ghé lưng cõng anh về nhà riêng, chăm sóc băng bó vết thương. Sáng ra, người cùi biến mất. Thánh nhân cho đó là Chúa Giêsu.

Đức Cha rất quí mến Việt Nam và nói : ‘‘Quê hương Việt Nam chính là quê hương tôi’’ (La patrie Vietnamienne, c’est ma patrie à moi). Vì Chúa đã định như vậy... Tại quê hương này, Cha sung sướng sống giữa các con cái Việt Nam của Cha, dầu cha phải chấp nhận tất cả cực hình về thể xác như hiện giờ. Ngài hay nói : Cha yêu con cái Việt Nam, nhất là người Việt đau khổ. Cha lần chuỗi cho các con. Cha cầu nguyện mỗi ngày cho Việt Nam chúng con. Cha cầu nguyện luôn mãi như vậy. Suốt 48 năm dài, cha đã sống tại Việt Nam, cha đã sống giữa các con và đã dâng hiến tất cả ! Giờ đây, Cha không tiếc một điều gì về sự dâng hiến toàn diện này’’

Đức Cha gửi lại cả tâm tình cho ngườI VN khi nói : "Đời tôi có 3 ước nguyện : Tôi ao ước được đau khổ vì Chúa và vì người anh em. Tôi ao ước được đau khổ như vậy lâu dài, suốt đời và được vững lòng chịu đựng. Tôi ao ước được an nghỉ giữa con cái người cùi của tôi." Đối với người VN Đức Cha hứa :"Trên Thiên đàng, Cha sẽ được biết nhiều. Sẽ rõ hơn về những nhu cầu hồn xác chúng con. Khi ấy Cha sẽ cầu nguyện đắc lực gấp bội cho chúng con."

Di chúc ngày 24-9-1968, để lại có ghi : Khi cha qua đời, hãy chôn cất cha như một người cùi đã được chôn tại đây. Không được tốn kém thêm, nếu đơn giản hơn thì càng tốt. Cha ao ước nằm giữa con cái của cha. Mộ phần bằng đất đỏ của miền Thượng mến yêu này sẽ là phần mộ mà cha đã hằng mong ước từ bấy lâu, từ khi nhận lãnh chức vị Tông Đồ Truyền Giáo, từ ngày cha phải bỏ tất cả mọi người quyến thuộc và cả quê hương. Thánh Giá cắm nơi mộ phần của cha sẽ là một Thập Gía bằng gỗ thô sơ, như Thánh Gíá Chúa Giêsu đã phải vác lấy ngày xưa. Hãy dành mọi chi phí an táng cha để nuôi nấng các con cái của cha. Họ rất đáng thương, họ đang túng thiếu và cần sống. Về nghi thức Giáo Hội dành cho cha khi qua đời cha muốn thật đơn giản.

Vào tháng 3-1973, sau một cơn đau mê, ngài tỉnh và nói lời trối cuối cùng: "Chúng tôi rất nghèo và rất cần sự giúp đỡ của những người có trái tim. Cha hiện đau đớn tột cùng của thể xác. Nhưng cha vui mừng được đau đớn như vậy bởi vì Chúa muốn. Cha xin dâng tất cả sự đau đớn đó để Chúa ban cho con cái cha bớt đau đớn và sớm được phục hồi, để Chúa ban cho chúng mãi mãi được no ấm. Cha cám ơn tất cả những ân nhân của làng cùi, cám ơn hết lòng, lòng của một vị thừa sai."

Đức Cha qua đời ngày 31-10-1973. Thánh lễ an táng ngày 5-11-1973 do Đức TGM Nguyễn Văn Bình chủ lễ với sự hiện diện của Ông Phụ Tá đặc biệt đại diện Tổng Thống VNCH, Đức Khâm sứ Tòa Thánh, cha Bề Trên miền Hội Thừa Sai Paris, một số giám mục, đông linh mục và tu sỹ và khoảng 3.000 người. Linh cữu để trong nhà thờ 5 ngày cho mọi người kính viếng. Dân làng Kala già trẻ đều chít khăn tang trắng. Trong bài tiễn biệt thay cho bệnh nhân, có nói : Gần hai năm đau liệt giường, người kêu lên sự đau đớn thể xác, đau đớn tột cùng. Nhưng tiếng kêu đó lúc nào cũng được xướng lên trong ‘‘niềm vui đức tin’’ và hòa cùng hai câu ‘‘ngợi khen Chúa’’ (Magnificat) và ‘‘Xin vâng ý Chúa’’ (Fiat). Ngài không còn đứng lên được, để cùng con cái dâng thánh lễ thường nhựt, thánh lễ hiến dâng (offectoire) của người không chỉ diễn ra trong vài mươi phút mà đã thực sự kéo dài suốt gần nửa thế kỷ, trong cực hình thể xác mà, người đã diễm phúc dâng hòa cùng khổ hình Thập Giá của Chúa Giêsu xưa kia, trên đồi Golgotha vì phần rỗi thế gian. Những cực hình thể xác đó, bút phàm khó mô tả. Dầu vậy, Đức Cha Gioan luôn luôn vui và vững lòng chấp nhận.

Theo di chúc trên, Đức Cha Gioan Sanh ‘‘Mong được an nghỉ dưới tháp chuông người phung. Phần mộ ngài còn ở Di linh, dưới chân tháp làng cùi Kala. Trên mộ ghi : JEAN CASSAIGNE. 1895-1973. Caritas et Amor.

Những năm sau khi Ngài qua đời, trẻ em cắp sách đi hoc, hay bất cứ ai qua lại phần mộ Ngài, đều dừng chân đọc kinh nguyện cầu. Như tất cả các vị Thừa Sai, Ngài muốn gửi thân xác mình bên cạnh đoàn chiên yêu dấu của mình.

Ðức Cha Gioan Sanh xứng đáng với danh hiệu “Tông đồ người cùi”’ (Apôtre des Lépreux) như Linh Mục Damien de Veuster (Bỉ, 1840-1889), ở Molokai, được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong Chân Phước 1995. Ngày 12-01-1972, trên giường bệnh, Chính phủ VNCH đã tặng Ngài huy chương cao nhất là Đệ Tứ Bảo Quốc Huân Chương. Trong bản văn trao tặng huy chương có viết : Tông đồ bác ái. Đức Giám Mục Jean Cassaigne thuộc hàng Giáo Phẩm Công Giáo. Ngay từ khi đặt chân tới VN đã quan tâm phục vụ lớp người nghèo khó, giúp đỡ tinh thần và vật chất cho các sắc dân thiểu số... Sau 14 năm làm giám mục Sàigòn ... Ngài trở về băng bó vết thương tinh thần và vật chất cho những người con của Ngài ở làng Kala... Công nghiệp, gương sáng và chí lớn của Đức Giám Mục Jean Cassaigne xứng đáng được dân VN tri ơn và ghi nhớ mãi mãi. Hôm ấy Đức Cha vui vẻ, tỉnh táo đón nhận và nói : Tôi chỉ biết đáp ơn bằng lời cầu nguyện mà thôi.

Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình (1919-1995) đã nói về Ngài : Đức Cha Gioan Cassaigne hoàn toàn hy sinh đời mình vì Chúa và người anh em. Ngài là gương sáng phản chiếu trung thực cuộc đời Chúa Cứu Thế. Chớ gì mọi Kitô hữu nhìn vào gương sáng ấy để sống chứng nhân của Thầy Chí Thánh (9-6-1973). Đức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền khi thấy người Cùi Thượng vui tươi, đã xác nhận công trạng của người có công vun trồng : Họ đói thì Đức Cha Gioan cho ăn. Bi bệnh thì Đức Cha băng bó, cho thuốc và chăm sóc. Khi chết được về Trời. Còn gì họ sung sướng bằng.

Từ năm 1972, ở cuối nhà thờ Đức Mẹ Fatima Bình Triệu người ta thấy có bức tượng ‘‘Một giám mục tay trái cầm Thánh Giá, tay phải ôm ngang vai một người cùi, dưới chân trái có em bé khỏe mạnh, cả ba đều ngước mắt lên trời cao’’. Dưới bệ tượng có ghi : Đức Cha Gioan Cassaigne. Ngày nay, bức tượng không còn nữa. Nhưng trên bức tường ngoài hiên của nhà thờ, có gắn nhiều bảng ghi ‘‘Tạ ơn Đức Giám Mục Gioan Sanh’’. Như vậy, chứng tỏ Đức Cha Gioan Cassaigne Sanh còn sống mãi trong lòng từng người Việt Nam. 

Thi Chương
http://giaoxuvnparis.org/bai-viet/164-%C3%90uc-cha-cassaigne-sanh-giam-muc-nguoi-cui-viet-nam.html