Sunday, May 20, 2018

Phân biệt Ngôn Sứ giả với Ngôn Sứ thật!

6/26/2012
Thứ Tư sau Chúa Nhật Tuần XII Thường Niên
2 V 22, 8-13 ; 23, 1-3
Tv 118 

Mt 7, 15-20
 

15 Một hôm, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : "Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi.16 Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ?17 Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu.18 Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt.19 Cây nào không sinh quả tốt, thì bị chặt đi và quăng vào lửa. 20 Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai.

Suy niệm

Giáo lý Công Giáo dạy rằng : có hai giống người trên mặt đất :

- Hoặc là dòng giống sinh ra bởi Adam từ đất mà ra.

- Hoặc là dòng giống được tái sinh bởi Chúa Giêsu (Adam cuối cùng), là Thiên Chúa từ trời mà đến.

Ai được tái sinh bởi Chúa Giêsu, thì đều được tham dự vào sứ mệnh ngôn sứ của Ngài.

Nhưng ta phải phân biệt hai loại ngôn sứ: ngôn sứ giả và ngôn sứ thật.

I. NGÔN SỨ GIẢ.

Có ba loại :

* Sinh ra bởi Adam, bởi Eva. 

* Sinh lại bởi Chúa Giêsu, bởi Lời Chúa do Hội Thánh rao giảng, nhưng không thuộc về Hội Thánh Công Giáo.
* Những người mang danh là Công Giáo, nhưng không sống Đức Ái.

1/ Sinh ra bởi Adam, bởi Eva.

Những ai sinh ra bởi Adam, Eva là sinh ra bởi "cây độc" (Mt 7,18). Vì "bởi Adam sự tội đã đột nhập vào thế gian sinh ra sự chết cho cả dòng giống họ" (Rm 5,12t). Đúng như Đức Giêsu đã nói : "Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ? Nên hễ cây tốt lành thì sinh quả tốt lành, cây độc thì sinh quả độc.Cây tốt lành không thể sinh quả độc, cũng như cây độc không thể sinh quả tốt lành. Cây nào không sinh quả tốt, thì bị chặt đi và quăng vào lửa.Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai" (Mt 7,16-19 : Tin Mừng).

2/ Sinh lại bởi Chúa Giêsu (Cv 2,38), bởi Lời Chúa do Hội Thánh rao giảng (Gc 1,18), nhưng không thuộc về Hội Thánh Công Giáo.

Loại người này khác nào như Ismael, con của ông Abraham và nữ tỳ Agar. Dòng giống này Chúa nói cho ông Abraham biết : Nó không được quyền thừa kế, quyền ấy thuộc về Isaac là con chính thức của ông Abraham và bà Sara (x St 15,3-6 : Bài đọc năm lẻ). Vì "Giao Ước đã lập ra muôn đời Chúa nhớ mãi" (Tv 105/104,8a : ĐC năm lẻ).

3/ Những người mang danh là Công Giáo, nhưng không sống Đức Ái.

Loại người này xác nó thuộc về Hội Thánh, hồn ngoài Hội Thánh, vì nó không kiên trì sống Đức Ái, nên không được Chúa cứu độ mà còn bị phạt nghiêm khắc (x HCHT số 14).

Cả ba loại người trên đều bị Chúa Giêsu liệt vào hàng ngôn sứ giả, "nó đã đội lốt chiên mà đến, chúng là sói tham mồi" (Mt 7,15 : Tin Mừng). Tệ nhất là loại ngôn sứ giả thứ ba, vì nó là loại cây độc gấp bảy lần so với hai loại trên (x Mt 12, 43-45).

Thánh Phêrô lưu ý các tín hữu : "Trong dân cũng đã từng xuất hiện những ngôn sứ giả; giữa anh em cũng vậy, sẽ có những thầy dạy giả hiệu, đó là những kẻ sẽ lén lút đưa vào những tà thuyết dẫn tới diệt vong. Vì chối bỏ vị Chúa Tể đã chuộc họ về, họ sẽ mau chóng chuốc lấy hoạ diệt vong. Nhiều người sẽ học đòi các trò dâm đãng của họ, và vì họ, con đường sự thật sẽ bị phỉ báng. Vì tham lam, họ dùng lời lẽ gạt gẫm anh em để trục lợi. Án phạt họ đã sẵn sàng từ lâu, và hoạ diệt vong đã gần kề" (2 Pr 2,1-3). Bởi vì Chúa đã dùng ông Môsê mà lên án những ngôn sứ giả : "Ngôn sứ nào cả gan nhân danh Ta mà nói lời Ta đã không truyền cho nói, hoặc nhân danh những thần khác mà nói, thì ngôn sứ đó phải chết." (Dnl 18,20). Dựa vào lời ấy, ngôn sứ Ezekiel cảnh cáo : "Các thủ lãnh trong xứ này tựa bầy sói xé mồi; chúng gây ra đổ máu, giết người để trục lợi. Các ngôn sứ trong xứ này tô vôi trát phấn lên chúng, cho thấy những thị kiến hão huyền và nói các lời sấm dối trá. Chúng dám nói: "Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này", nhưng thực ra Đức Chúa đã không phán"(Ed 22, 27-28).

Vậy ai tách rời khỏi Chúa Giêsu và Hội Thánh là Thân Thể Mầu Nhiệm của Ngài, thì họ đều là cây độc, là ngôn sứ giả !

II. NGÔN SỨ THẬT.

Những ai sinh lại bởi Chúa Giêsu (x Cv 2,38), và bởi Lời Chúa do Hội Thánh rao giảng (x Gc 1,18), và kiên trì sống Đức Ái (x HCHT số 14), thì họ luôn sám hối tội mình, trông cậy vào lòng thương xót của Chúa Giêsu và sự bầu cử của Hội Thánh, nhất là của Đức Maria, để được thêm nghị lực thực hành Lời Chúa dạy, dù có lúc họ sống bội ước, đáng phải phanh thây như những con vật bị xẻ đôi khi Thiên Chúa lập Giao Ước với tổ phụ Abraham (x St 15,7-12.17-18 : Bài đọc năm lẻ). Nhưng vào thời Tân Ước, kẻ bội ước không bị phanh thây, mà chính Con Một Thiên Chúa lại bị phanh thây thế mạng cho những kẻ bội ước. Thánh Phaolô trước khi được Chúa Giêsu kêu gọi, ông hết lòng trung thành với Luật Môsê. Thế mà ông lại trở thành ngôn sứ giả, độc ác hơn trái cấm bà Eva ăn, vì ông đã xông về thành Đama để triệt hạ các Kitô hữu (x Cv 9). Nhưng khi ông được Chúa Giêsu thương xót kêu gọi, ông đến học giáo lý nơi môn đệ Ngài và được tái sinh làm con Chúa, gia nhập Hội Thánh, ông được tách khỏi cây độc và tháp vào cây nho tốt lành là Chúa Giêsu, từ đó ông trở thành ngôn sứ tuyệt vời không thua các Tông Đồ thượng đẳng (x 2Cr 11,5). Chúa đã sai ông đi làm ngôn sứ cho muôn dân (x Gl 2,7).

Như thế, nhờ tái sinh bởi Chúa Giêsu (x Cv 2,38), và bởi Lời Chúa do Hội Thánh công bố (x Gc 1,18), và kiên trì sống Đức Ái trong Hội Thánh, mới thực là người Công Giáo chân chính, trở nên ngôn sứ thật của Chúa Giêsu. Vì Chúa chỉ giao sứ mệnh ngôn sứ cho Hội Thánh Ngài lập mà thôi (x Mt 11, 25-26 ; 16, 17 ; Lc 10,16 ; 22, 31-32 ; Ga 18, 19-21 ; Gl 1,8).

Chân lý này đã được tiên báo qua vị thượng tế Khin-ki-gia-hu tìm được Sách Luật trong Nhà Chúa, rồi ông nói với ký lục Sa-phan đệ trình đức vua, vua nghe những lời ghi chép trong Sách Luật, ông xé áo mình ra, tỏ dấu sám hối, vì tiền nhân đã không tuân giữ Luật Chúa, làm Chúa bừng bừng nổi cơn thịnh nộ chống lại dân. Thế nên vua tập họp toàn dân cùng với các kỳ mục Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đến. Vua lên Nhà Chúa đọc cho dân nghe tất cảnhững Lời trong Sách Giao Ước đã tìm thấy trong Nhà Chúa. Hôm đó dân cam kết bước theo Chúa hết lòng hết dạ và tuân giữ các lệnh truyền của Ngài (x 2V 22, 8-13 ; 23,1-3 : Bài đọc năm chẵn).

Như thế,dân tộc Do Thái chỉ tìm thấy Lời trong Nhà Chúa, và đã trở thành mối hiệp thông giữa các thành phần trong dân, để cùng với đức vua tôn vinh Thiên Chúa.Đó là lý do mà hôm nay chúng ta chỉ đón nhận được Lời Chúa chính xác qua Phụng Vụ của Hội Thánh (x Hiến Chế Phụng Vụ số 7, số 24 và số 52), thì còn hơn vị tư tế Khin-ki-gia-hu tìm thấy Sách Luật trong Nhà Đức Chúa.

Vậy ngôn sứ thật của Chúa phải luôn cầu nguyện : "Lạy Chúa, xin dạy con đường lối thánh chỉ" (Tv 119/118,33a : ĐC năm chẵn), để được Chúa ở cùng, vì Chúa Giêsu kêu gọi : "Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em. Ai ở lại trong Thầy thì sinh nhiều hoa trái" (Ga 15,4a.5b : Tung Hô Tin Mừng).

THUỘC LÒNG

Ai liên kết với Adam là cây độc, trở thành kẻ trộm cướp ; ta liên kết với Chúa Giêsu là Adam cuối cùng, là cây nho thật, sinh hoa trái sự sống Phục Sinh (theo Mt 7,17).

Linh mục GIUSE ĐINH QUANG THỊNH
http://conggiao.info/phan-biet-ngon-su-gia-voi-ngon-su-that-d-8712

Saturday, May 19, 2018

Ngôn sứ thật – ngôn sứ giả

Posted date: Tháng Hai 23, 2013

Từ xa xưa trong đời sống Do thái giáo đã xuất hiện việc phân định thiêng liêng hay biện phân thần khí. Điều này được hiểu như là hành vi mở lòng ra với Thiên Chúa, lắng nghe Ngài, hầu có thể nhận biết và thực thi ý Ngài. Việc làm này càng trở nên cấp thiết vào thời các ngôn sứ khi có nhiều người nhân danh Đức Chúa và nói Lời của Ngài, khiến cho Dân hoang mang vì khó nhận biết đâu là ngôn sứ thật và đâu là ngôn sứ giả.Trong khuôn khổ bài viết này, như một gợi ý cho việc nhận định thiêng liêng trong đời sống đức tin, người viết xin mạn phép trình bày hiện tượng ngôn sứ thật và ngôn sứ giả trong các sách ngôn sứ Isaia, Giêrêmia và Êdêkien.

Do thái giáo chịu ảnh hưởng sâu xa bởi tôn giáo vùng Cận Đông. Từ rất lâu người ta đã tìm thấy nét tương đồng giữa những nền tôn giáo này, mà cụ thể nhất là đặc tính ngôn sứ. Ngay từ thế kỷ thứ VIII (trước Công nguyên), người ta đã tìm thấy nơi thành phố A-mốt, thuộc xứ Ma-ri, những bia đá ghi lại các sinh hoạt ngôn sứ. Khắp vùng Cận Đông hồi ấy, người ta cũng nghe đến các danh xưng như: thầy thị kiến, người thuộc linh… …Chúng được dùng để chỉ những nhân vật mà dân tin là biết và chuyển giao sứ điệp các thần minh. Ngay trong Kinh thánh Do thái giáo cũng thấp thoáng hình bóng của họ (1V 18,19-40 ; 1Sm 10,5 ; Ed 21,26 ; Is 1,10 … …)

Tính cách phổ biến ấy không những giúp giải thích nguồn gốc truyền thống ngôn sứ Israelmà còn làm nổi bật sự khác biệt giữa những ngôn sứ ở trong và các ngôn sứ ngoài truyền thống này.

Hiện tượng nói thay các thần minh trong văn hóa và tôn giáo xứ Canaan đã dẫn đến tình trạng nhiều người trong Israel tự xưng mình là ngôn sứ. Ngôn sứ nào cũng cho mình là thật. Có những ngôn sứ giả biết mình là giả, lại có những ngôn sứ giả nhưng không biết mình là giả. Để hiểu rõ một ngôn sứ là giả hay thật, ta cần trở về với Cựu Ước, đặc biệt là các sách ngôn sứ nêu trên.

Trước hết, các ngôn sứ giả là những người có lối sống lầm lạc. Họ lừa dối kẻ khác bằng những mánh khóe và phán đoán sai lầm:

"Cả bọn này nữa cũng chếnh choáng vì rượu, lảo đảo vì men: tư tế và ngôn sứ đều choáng vì men …, chếnh choáng trong thị kiến, loạng quạng khi xét xử." (Is 28,7)

Nơi họ còn biểu hiện sự lẫn lộn giữa những hứng khởi, ham muốn riêng tư và ý muốn chân thật của Thiên Chúa:

"Chúng kể cho nhau nghe những giấc chiêm bao có ý làm cho dân Ta quên bẵng danh Ta, giống như cha ông chúng đã quên danh ta mà nhớ Ba-al." (Gr 23,27)

"Chúng kể lại những giấc chiêm bao và làm cho dân Ta lầm lạc… … Chính Ta, Ta đã không phái chúng đi, cũng chẳng truyền lệnh cho chúng."  (Gr 23,32)

Ngược lại, những ngôn sứ thật có đời sống ngay thẳng, một lòng phụng sự Thiên Chúa qua sứ mạng được trao phó (Is 61,1; Xp 2,3). Họ là những ngôn sứ thuộc truyền thống mà tiêu biểu là Mô-sê (Đnl 18,9-21).

Tuy nhiên, với quan điểm Cựu Ước hoạt động ngôn sứ giả cách nào đó lại là phương thế Gia-vê thử luyện dân Ngài (Gr 4,10 ; 1V 22,19-23)

Ngôn sứ giả luôn loan báo theo ý riêng, chứ không theo ý muốn Thiên Chúa. Chốn cung đình, họ tìm nói những điều hợp ý vua quan, không can đảm công bố điều Thiên Chúa truyền dạy. Điều này được miêu tả rõ nét trong cuộc tranh luận giữa Khanania và ngôn sứ Giêrêmia (Gr 28). Đứng trước nguy cơ Israel bị Babylon thôn tính, Khanania, mệnh danh là ngôn sứ, xem ra bình thản và có những lời vuốt ve tình cảm yêu nước. Trong khi đó, Giêrêmia lại khuyên nhà vua thần phục Babylon(Gr 27,8). Thực ra, quan điểm trái nghịch của ông không nhằm khẳng định rằng ngôn sứ loan báo bình an thì không đáng tin, và ngôn sứ tuyên sấm tai họa thì khả tín. Nhưng điều làm nên ý nghĩa ở đây là lời sấm của Giêrêmia được đặt trong truyền thống ngôn sứ Israel, nơi đó ý muốn Thiên Chúa được thể hiện:

"Nhưng xin ông lưu ý những điều tôi sắp nói đây: Các ngôn sứ có trước tôi và ông từ ngàn xưa đã tuyên sấm về nhiều xứ sở, vương quốc hùng mạnh, là sẽ có chiến tranh tai ương và ôn dịch. Còn ngôn sứ nào tuyên sấm có bình an, thì chỉ khi nào lời ngôn sứ ấy ứng nghiệm, ông mới được nhìn nhận là ngôn sứ Đức Chúa sai đến thật" (Gr 28,7-9)

Hơn nữa, trong viễn tượng đức tin, Giêrêmia còn cho biết Babylon sẽ nên "roi vọt" Thiên Chúa dùng để sửa phạt dân vì họ phản bội Ngài và phá vỡ Giao ước (Gr 44,3). Và sự thật đã xảy ra như vậy.

Điều tương tự cũng diễn ra khi Êdêkiel phi bác nhũng lời sấm của những ngôn sứ giả về sự bình an giả tạo (Ed 13,10). Đó chỉ là lời hứa hão huyền nhằm ru ngủ dân. Bình an đích thực không đơn giản hệ tại ở những an toàn bên ngoài, nhưng còn là sự trao hiến hạnh phúc cho đồng loại nhờ mối tương quan tốt đẹp với Thiên Chúa và tha nhân:

"Chúng bô bô bình an vô sự, để xoa dịu những thương tích của dân ta, trong khi chẳng có bình an chi cả. Việc chúng làm thật kinh tởm biết bao, lẽ ra chúng phải xấu hổ, nhưng chúng nào có xấu hổ gì đâu……" (Gr 6,14.15)

Sở dĩ các ngôn sứ loan báo cách lầm lạc như vậy cốt để tìm tư lợi:

"Các ngươi xúc phạm đến Ta nơi dân Ta chỉ vì những nắm lúa mạch, những mẫu bánh …" (Ed 13,19)

Ngoài ra, còn có một đặc tính quan trọng góp phần làm nên phong cách cao đẹp của vị ngôn sứ thật: kinh nghiệm thâm sâu về Lời Thiên Chúa. Chính Lời chạm đến nơi sâu thẳm tâm hồn các ngài, tạo nên rung động và hòa nhịp. Từ đó các ngài đáp trả cách mạnh mẽ, can đảm chịu mọi thử thách và dám sống chết cho Lời:

"Nhưng Lời ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt. Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được." (Gr 20,9)

Trước những đau khổ, các ngài vẫn cậy trông vào Chúa:

"Nhưng Đức Chúa hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng." (Gr 20,11)

Nói tóm lại, từ việc phân tích trên, chúng ta có thể rút ra nguyên tắc nhận biết ngôn sứ giả hay thật. Ngôn sứ thật là người mà trọn đời sống và lời loan báo của họ giúp dân yêu mến Thiên Chúa và thực thi lề luật của Ngài. Trái lại, ngôn sứ giả là kẻ, qua cách sống và sấm ngôn lầm lạc, chỉ dẫn dân rời xa Thiên Chúa:

"Nếu ở giữa anh em xuất hiện một ngôn sứ… …, và nó bảo chúng ta hãy theo và phụng thờ các thần khác, những thần mà anh em không biết, thì anh em đừng nghe những lời của ngôn sứ hay những kẻ chuyên nghề chiêm bao ấy, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, thử thách anh em cho biết anh em có yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ không. Chính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, là Đấng anh em phải theo; chính Người là Đấng anh em phải kính sợ; anh em phải giữ các mệnh lệnh của Người, phải nghe tiếng Người; chính Người là Đấng anh em phải phụng thờ; anh em phải gắn bó với người" (Đnl 13, 2-5)

Từ việc tìm hiểu hiện tượng ngôn sứ thật, ngôn sứ giả trên đây, chúng ta có thể rút ra nguyên tắc nhận định thiêng liêng cho đời sống đức tin hôm nay: Điều nào giúp tôi kết hợp với Chúa thì khởi đi từ Ngài; điều nào khiến tôi xa Ngài thì xuất phát từ quyền lực tăm tối, thế gian. Ước mong việc tìm hiểu này góp phần giúp ích cho người tín hữu lắng nghe, nhận biết, yêu mến và thực thi ý Chúa như giá trị duy nhất và chân thật đem lại sự sống cho chính mình, giữa biết bao những giá trị khác vốn đã và đang được cổ súy mạnh mẽ bởi những trào lưu sống khác nhau./.

Lm. Anrê Phạm Hòa Lạc

http://daichungvienvinhthanh.com/ngon-su-that-ngon-su-gia/

Sunday, May 13, 2018

“Thưa cha, con không đi nhà thờ nữa!”

"Một thanh niên trẻ đến gặp một linh mục và nói:
– Thưa cha, con không đi nhà thờ nữa!
Linh mục hỏi:
– Vậy à, con có thể cho cha biết lý do không?
Người thanh niên trả lời:
– Lạy Chúa tôi, ở đây con thấy cô này nói xấu cô kia; anh đọc Sách Thánh đọc dở; ca đoàn vừa chia rẽ vừa hát sai; người đi xem lễ chỉ chăm chăm nhìn điện thoại, đó là không nói đến ngoài nhà thờ họ là những người ích kỷ, cao ngạo…
Linh mục nói với anh:
– Con có lý. Nhưng trước khi dứt khoát rời nhà thờ, con có thể làm cho cha việc này: con rót một ly nước đầy, rồi đi quanh nhà thờ ba vòng mà không làm đổ một giọt. Sau đó, con có thể bỏ nhà thờ.
Người thanh niên tự nhủ: quá dễ!
Và anh đi ba vòng như cha xứ dặn. Đi xong, anh về nói với cha:
– Rồi, con đi xong rồi.
Linh mục hỏi:
– Khi con đi, con có thấy cô này nói xấu cô kia không?
Người thanh niên trả lời:
– Thưa cha không.
–  Con có thấy người này người kia thờ ơ với nhau không?
Người thanh niên:
– Thưa cha không.
– Con có thấy người này người kia chúi mũi vào điện thoại không?
Người thanh niên:
– Không, con không thấy.
– Con có biết vì sao không con không thấy không: vì con tập trung để ly nước không bị đổ. Con biết… cuộc đời cũng vậy. Khi tâm hồn chúng ta tập trung vào Chúa Kitô, thì chúng ta không có thì giờ để nhìn các sai lầm của người khác. Ai ra khỏi nhà thờ vì các kitô hữu đạo đức giả thì chắc chắn họ cũng không vào nhà thờ vì Chúa Giêsu".

(Nguồn: FB)

Sunday, May 6, 2018

Lẽ Sống - Khác Biệt Giữa Ngày Và Ðêm

(Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu Radio Veritas Asia)

6 Tháng Năm

Một vị đạo sĩ Ấn Giáo nọ hỏi các đệ tử của ông như sau: "Làm thế nào để biết được đêm đã tàn và ngày bắt đầu?"

Một người đệ tử trả lời như sau: "Khi ta trông thấy một con thú từ đằng xa và ta có thể nói: đó là con bò hay con ngựa".

Câu trả lời trên đây đã không làm cho nhà đạo sĩ ưng ý chút nào...

Người đệ tử thứ hai mới lên tiếng nói: "Khi ta thấy một cây lớn từ đằng xa và ta có thể nói nó là cây xoài hay cây mít".

Vị đạo sĩ cũng lắc đầu không đồng ý. Khi các đệ tử nhao nhao muốn biết câu giải đáp, ông mới ôn tồn nói như sau: "Khi ta nhìn vào gương mặt của bất cứ người nào và nhận ra người anh em của ta trong người đó thì đó là lúc đêm tàn và ngày mới bắt đầu. Nếu ta không phân biệt được như thế, thì cho dù đêm có tàn, ngày có bắt đầu, tất cả mọi sự không có gì thay đổi".

Ngày 25 tháng 12, lễ Thần Mặt Trời của dân ngoại đã được Giáo Hội chọn làm ngày sinh của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu quả thực là Mặt Trời Công Chính. Ngài xuất hiện để báo hiệu Ðêm đã tàn và Ngày Mới bắt đầu.

Nhân loại đã chìm ngập trong đêm tối của tội lỗi, đêm tối của trốn chạy khỏi Thiên Chúa và chối bỏ lẫn nhau giữa người với người. Chúa Giêsu đã đến để xóa tan đêm tối ấy và khai mở ngày mới trong đó người nhận ra người, người trở về với Thiên Chúa.

Quả thực, chỉ trong Ðức Giêsu Kitô, mầu nhiệm con người mới được sáng tỏ. Trong đêm tối âm u của khước từ Thiên Chúa và chóii bỏ lẫn nhau, con người đã không biết mình là ai, mình sẽ đi về đâu. Trong ánh sáng của Chúa Giêsu Kitô, con người nhận dạng được chính mình cũng như nhìn thấy người anh em của mình.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó chính là nhìn thấy hình ảnh của Thiên Chúa nơi mọi người cũng như phẩm giá vô cùng cao quý của người đó.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó là nhìn thấy niềm vui, nỗi khổ, sự bất hạnh và ngay cả lỗi lầm của người đso như của chính mình.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó chính là sẵn sàng tha thứ cho người đó ngay cả khi người đó xúc phạm đến ta và không muốn nhìn mặt ta.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó cũng có nghĩa là không thất vọng về khả năng hướng thiện của người đó.

Nhận ra người anh em nơi một người nào đó cũng có nghĩa là muốn nói với người đó rằng, cách này hay cách khác, ta cần người đó để được sống xứng với ơn gọi làm người hơn.

(Nguồn: http://vntaiwan.catholic.org.tw/lesong/06lesong5.htm)

Sunday, April 29, 2018

Chúa Nhật - Chủ Nhật...

15/07/2016 

Có nhiều bạn hỏi tôi rằng, tại sao những người đạo Thiên Chúa (Công giáo) cứ cố tình kêu nhang nhảng cái chữ "Chúa Nhật" mà không phải gọi chữ "Chủ Nhật" như người ta thường gọi, có phải họ cố tình truyền đạo hay tôn vinh Đạo của họ lên trước mặt mọi người chăng?!

Xin cắt nghĩa thế này, dù bạn gọi Chúa Nhật hay Chủ Nhật cũng là ngày của Chúa chúng tôi. Vì nguồn gốc của tên gọi Chúa Nhật (Chủ Nhật) trong tiếng Việt xuất phát từ đạo Công Giáo. Tên gọi gốc là "Chúa Nhật", Nhật có nghĩa là ngày, Chúa Nhật có nghĩa là "ngày của Chúa". Chữ Chúa và Chủ đều bắt nguồn từ chữ zhǔ (主) trong tiếng Hán, vì lúc Thiên Chúa Giáo truyền vào Trung Hoa, người Tàu dịch là Thiên Chủ, sau đời Mãn Thanh mới đổi thành Thiên Chúa cho trang trọng. Chúa và Chủ đều giống nhau. Nên có thể gọi là Chúa Nhật hoặc Chủ Nhật đều như nhau. Người theo đạo Công giáo buộc phải đi lễ nhà thờ, giữ tâm tịnh và kiêng việc xác thịt vào ngày này.

Trước năm 1975, hầu hết trong văn bản hành chánh, văn chương sách vở, âm nhạc, truyền thông... đều kêu là ngày "Chúa Nhật" chớ không ai kêu Chủ Nhật cả. Sau năm 1975, chính quyền Đảng Cộng Sản không muốn cho dân chúng kêu bất cứ tên gọi nào có "mùi" Tôn Giáo nên kêu từ "Chủ Nhật" nghe cho nó nhẹ, riết rồi quen miệng hơn mấy chục năm nay.

Ví dụ, từ trong Âm Nhạc, nó chẳng phải Thánh Ca ca ngợi Chúa -tôn giáo gì cả, nhưng người ta vẫn quen gọi Chúa Nhựt.

"Hôm chia tay chiều Chúa Nhật, anh bảo rằng tuần sau anh đến, hái một nụ hoa xinh xin màu tim tím anh cài lên mái tóc thề..." (Hoa Mười Giờ - Đài Phương Trang.)

"Hôm nay ngày Chúa Nhật vườn tao ngộ em đến thăm anh, đường Quan Trung nắng đổ xa xôi mà em đâu có ngại khi tình yêu ngun ngút cao lên rồi..." (Vườn Tao Ngộ- Khánh Băng)

"Chiều Chúa Nhựt lối năm giờ, cô Lý giấu chồng để dành tiền được hai trăm đồng bạc, cô đi qua Mỹ Tho vay thêm một trăm đồng bạc nữa để hùn hạp làm tiệm lúa cho Kỳ Tâm làm Tổng Lý..." (Tiểu thuyết Tỉnh Mộng - Hồ Biểu Chánh).

Ngày xưa, không ai kêu Chủ Nhật, cho nên đừng nghĩ những người đạo Thiên Chúa truyền đạo mà kêu tên Chúa, mà phải biết ngày "Chúa Nhật" nguồn gốc nó từ đâu.

(Petrus Trần)
http://daminhvn.net/phung-vu/chua-nhat---chu-nhat-12267.html

Friday, April 20, 2018

Thánh Phêrô là anh hay em của thánh Anrê

Tạp bút của Lm. Piô Ngô Phúc Hậu

Một ma-sơ thất tuần chống gậy lọc cọc đến gặp cha xứ. Lưng còng như lưng tôm, nhưng cặp mắt vẫn còn hấp háy chứng tỏ đang có chuyện cay cú.

- Ông cố ơi, Thánh Phêrô là anh hay em của Thánh Anrê?

- Ủa, tại sao bà ngoại hỏi kỳ vậy?

- Từ xưa tới nay, ai cũng biểu Thánh Phêrô là anh. Thế mà bỗng dưng trong sách Tân ước mới in, ông Thánh Phêrô lại tuột xuống làm em. Bộ từ trước tới nay, thì giáo hội mình hiểu sai hả?

- Bà ngoại lớn tuổi rồi, mà vẫn còn tỉnh trí quá ta?

- Con già rồi, nhưng chưa lẫn đâu. Ăn hiếp con là không được ạ.

- Nếu từ trước tới nay, tôi có ăn hiếp bà ngoại, thì bà ngoại tha cho tôi. Còn từ giờ phút này, tôi xin trao đổi nghiêm túc với bà ngoại. Được chưa?

- Ông cố lúc nào cũng khôn như… quỷ vậy.

- Từ trước tới giờ, tôi vẫn coi Thánh Phêrô là anh của Thánh Anrê. Còn từ nay trở đi, miệng tôi cứ đọc rằng “Thánh Phêrô là em của Thánh Anrê”. Nhưng lòng trí của tôi thì Thánh Phêrô vẫn là anh. Đành phải vậy thôi. Còn tại sao lại thế, thì đây là lý luận của tôi. Tôi không phải là chuyên viên Thánh Kinh nhưng cứ thử chơi hèo một cái xem sao.

1. Người chủ trương Thánh Phêrô là em thì lý luận như sau. Theo truyền thống Thánh Kinh, thì người em luôn luôn xuất sắc hơn và được Chúa trao trách nhiệm quan trọng hơn.

* Abel là em, nên vượt trội Cain về đạo đức.

* Esau là anh, thì phải thua em là Giacóp. Giacóp thừa kế sự nghiệp của cha và trở nên tổ phụ thứ hai của Dân Do Thái.

* Ruben là con cả của tổ phụ Giacóp, nhưng quyền trưởng nam lại lọt vào tay Giuđa, người em thứ tư.

* Giuse là con thứ mười một của tổ phụ Giacóp, nhưng lại được trở thành vị cứu tinh của dòng tộc và được các anh quỳ lạy như tế sao.
* Cô Lêa là chị của cô Raken. Cả hai đều là vợ của tổ phụ Giacóp. Nhưng cô em Raken qua mặt chị cả về nhan sắc lẫn chỗ đứng trong gia đình.

* Aaron là anh, Môsê là em. Nhưng ông anh chỉ là bóng mờ bên cạnh ông em rực sáng.

* Giuđa là nhân vật nổi cộm của gia đình Macabê. Nhưng xét về vai vế, thì ông chỉ là cậu em không đáng quan tâm.

* Trong gia đình của ông Ixai, thì Đavít chỉ là thằng cu tí, thế nhưng lại được Samuen xức dầu và sau này trở nên tổ phụ của Đấng Cứu Thế.

Từ đó mà suy ra, thì phải kết luận rằng Phêrô là em. Đó là truyền thống của Thánh Kinh.

2. Tôi không phải là chuyên viên Thánh Kinh, nhưng lại cứ chủ trương rằng Thánh Phêrô phải là anh, còn Thánh Anrê phải là em. Đây là lý luận của tôi.

* Nói rằng theo truyền thống Thánh Kinh, thì Chúa chỉ chọn người em để trao sứ mạng lớn, thì chưa có sức thuyết phục. Bằng chứng là trong gia đình của ông Noe, thì ông em là Cam lại quá tệ so với ông anh là Xem. Cái gọi là truyền thống Thánh Kinh ấy, chỉ là chuyện thông thường của đời người.

* Trường đời minh chứng rằng người em vẫn xuất sắc hơn anh chị. Lý do vì em ra đời sau. Ra đời sau thì được hưởng hai cái lợi: Cái lợi thứ nhất là được học hỏi với anh chị; cái lợi thứ hai là lúc ấy cha mẹ có kinh nghiệm hơn, từng trải hơn.

* Ông Nguyễn Huệ là em, nhưng vượt trội muôn phần hơn hai ông anh là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ. Nguyễn Huệ chết thì nhà Tây Sơn sụp đổ, vô phương cứu chữa.

* Nhận xét các em thiếu nhi trong họ đạo, thì tôi cũng thấy rằng: anh chị thì hiền; cậu em và cô em lại khôn lanh.

* Đức Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình có một cô em làm dì phước, tên là dì Sinh. Ngài nói đùa trước mặt nhiều người rằng: “Tên tôi là Bình, có nghĩa là bình an. Tên nó là Sinh, có nghĩa là sinh sự”. Ta có thể giải thích ý câu nói đó như sau: “Tôi hiền, vì tôi là anh. Nó lanh, vì nó là em”. Có lẽ đúng thế thật.

* Quả thật, Anrê lanh hơn Phêrô. Chính Anrê theo Chúa trước, rồi đi kiếm anh, đem đến giới thiệu với Chúa.

Tạp bút của Lm. Piô Ngô Phúc Hậu

(Theo Báo Công giáo và Dân tộc, website: cgvdt.vn, http://www.cgvdt.vn/ngo-phuc-hau/nhu-trai-mam/thanh-phero-la-anh-hay-em-cua-thanh-anre_a1323)


Saturday, April 7, 2018

CHÚT TÂM TÌNH

+ GB. Bùi Tuần

Hồi tâm lần này, tôi cũng xin chia sẻ trước mọi người thân yêu đôi chút tâm tình thân mật của tôi.

1. Mỗi năm, gần đến 30 tháng 4, tôi thường hồi tâm. Hồi tâm này có đặc điểm riêng. Bởi vì 30 tháng 4 năm 1975 là ngày lịch sử Đất Nước sang trang. Cũng chính ngày đó, tôi được thụ phong Giám mục, nhận trọng trách làm giám mục phó giáo phận Long Xuyên.

2. Năm nay, tôi cũng hồi tâm. Cái chết đột ngột của Đức Cố TGM Phaolô Bùi Văn Đọc khiến tôi nghĩ biết đâu hồi tâm của tôi lần này sẽ là lần cuối.

Dù sao, hồi tâm lần này, tôi cũng xin chia sẻ trước mọi người thân yêu đôi chút tâm tình thân mật của tôi.

3. Tâm tình thứ nhất là tôi coi trách vụ đứng đầu giáo phận là một chén đắng làm tôi rất sợ.

Hồi đó, tôi biết Đức Cha Micae sẽ trao hết cho tôi. Thế mà tôi thì quá yếu về mọi phương diện. Tôi sợ lắm.

4. Ở chức vụ đó, tôi phải hiệp thông mật thiết với Chúa Giêsu, nhất là trong cuộc thương khó của Người và trong giới luật yêu thương, mà Người đã trối lại. Trọng trách thì quá lớn, còn tôi thì quá yếu đuối hèn mọn, tội lỗi. Tôi quá sợ.

5. Ở chức vụ đó, tôi phải hiệp nhất trọn vẹn với Đức Giáo Hoàng. Đức Giáo Hoàng muốn tôi làm gì, trong một giai đoạn Đất Nước tôi rất cần hòa giải một cách khôn ngoan? Trọng trách thì quá lớn, còn tôi thì quá nhỏ bé, xa xôi, vụng về. Tôi rất sợ.

6.  Ở chức vụ đó, tôi phải sống liên đới chân thành với Quê Hương, với đồng bào. Tôi sẽ làm gì, khi thấy nhiều đồng bào rơi vào sợ hãi, thất vọng, đau khổ. Tôi sẽ làm gì, khi thấy Đất Nước gặp bao khó khăn trên đường dựng Nước và giữ Nước.

7. Tôi bùi ngùi thao thức. Thao thức nhiều càng thêm lo sợ. Lo sợ làm tôi coi chức vụ được trao là chén đắng.

Xưa Chúa Giêsu đã có lần nói với Đức Chúa Cha: “Nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén đắng này. Nhưng đừng theo ý con, xin chỉ theo ý Cha mà thôi” (Mt 26, 39).

Tôi cũng đã nhiều lần nói với Chúa như vậy.

8. Từ khi được về hưu, tôi được nhẹ vơi nhiều gánh nặng. Nhưng trách nhiệm yêu thương, trách nhiệm làm chứng cho Chúa vẫn còn đó, đôi khi còn nặng hơn trước. Tuy nặng, mà ngọt ngào, và cũng không khỏi sợ: Tôi có làm đủ, làm đúng không? Càng sợ, tôi càng kêu cầu Chúa.

9. Tâm tình thứ hai là tôi đã được đỡ nâng rất nhiều, nên được sức mạnh để sống ơn gọi.

Chúa nhân từ đã đỡ nâng tôi bằng nhiều cách. Lúc thì Chúa trực tiếp an ủi tôi trong tâm hồn. Lúc thì Chúa gián tiếp an ủi tôi qua những con người có tấm lòng, có trái tim. Đặc biệt Chúa đỡ nâng tôi qua cộng đoàn giáo phận.

Tôi coi mỗi người nâng đỡ tôi như một lá thư Chúa gửi cho tôi. Trong từng lá thư đó, tôi đọc được tình thương, sự bao dung, sự tha thứ, sự bén nhạy, sự tế nhị, sự khiêm nhường.

10. Cách riêng, tôi được đỡ nâng nơi Đức Mẹ Maria. Mẹ đỡ nâng tôi bằng cách dẫn tôi đến với Chúa Giêsu đang gần gũi những người khổ đau, tội lỗi, yếu đuối, hèn mọn. Gặp Chúa Giêsu nơi họ, tôi được Mẹ mở lòng tôi ra, để tôi thấy “Chính lúc cho đi là khi được nhận lãnh”.

11. Được đỡ nâng, đó là bài học dạy tôi hãy nâng đỡ những người khác. Có lửa yêu thương thực sự trong lòng, thì dù chỉ với một lời nói đơn sơ, một việc làm nhỏ, cũng có sức gửi đến người đau khổ một đỡ nâng cần thiết có sức cứu họ.

12. Ở đây, tôi xin gửi lời cảm ơn nồng nhiệt tới mọi người đã đỡ nâng tôi hoặc cách này hoặc cách khác. Họ thuộc mọi tầng lớp, trong Hội Thánh và ngoài Hội Thánh. Họ ở gần và họ ở xa. Xin cảm tạ Chúa đã gửi đến tôi những người tốt đó.

13. Tâm tình thứ ba là cậy tin ở lòng thương xót Chúa.

Suốt 43 năm qua, đối với tôi, chức giám mục luôn là một tiếng Chúa gọi “Hãy cậy tin vào tình yêu thương xót Chúa”

Gánh nặng của tôi là chức vụ. Gánh nặng của tôi là sự yếu đuối của chính tôi. Tôi thường sợ hãi. Sợ hãi là điểm yếu của tôi mà quỉ Satan thường tấn công dữ dội.

Chúa thương giúp tôi đối phó, bằng cách luôn kéo tôi gắn bó chặt chẽ với tình yêu thương xót Chúa. Tôi cậy tin ở lòng thương xót Chúa một cách tuyệt đối, một cách đơn sơ, một cách bền bỉ, một cách thường xuyên, từng giờ, từng phút, tầng giây. Thành ra chính sự sợ hãi của tôi lại là cơ hội tốt, để tôi ký thác mình cho Chúa. Đúng như lời Thánh Phaolô nói: “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12, 12). Tôi được tha thứ, được sửa lại và được ơn trở về với Chúa. Tôi cảm nhận thấm thía Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế rất nhân lành.

14. Hằng ngày, tôi tạ ơn Chúa một cách đặc biệt vì ơn được tin cậy ở tình yêu thương xót Chúa.

15. Đối với tôi, bất cứ ai tin vào tình yêu thương xót Chúa đều được Chúa nhận là đã bắt đầu thuộc về Chúa. Vì thế, giờ đây tôi rất vui, vì nhận thấy tại Việt Nam hôm nay, ngay tại địa phương này, số người tin vào tình yêu thương xót Chúa là rất đông.

Với những tâm tình trên đây, chúng ta hãy khiêm nhường tạ ơn Chúa và để mình chìm sâu vào tình yêu thương xót Chúa. Trong tình yêu thương xót Chúa, chúng ta sẽ đi về tương lai. Cho dù tương lai sẽ có những chén đắng mới, nhưng có Chúa, chúng ta vẫn có quyền lạc quan.

Long Xuyên, ngày 05.4.2018
+ Gm. Gioan Baotixita Bùi Tuần
(http://gplongxuyen.org/NewsDetail.aspx?ID=20180405092741)