Tuesday, June 16, 2009

Le Hien Phu Noi Chuyen Xung Ho


Lễ Hiền Phụ Nói Chuyện Xưng Hô

§ Lm Ansgar Phạm Tĩnh

Hôm nay nhân dịp ngày lễ Hiền Phụ (Fathers'Day), tôi xin chia sẻ với bạn nội dung lá thư có liên quan đến chuyện xưng hô CHA-CON, mà tôi đã trả lời cho một độc giả nữ, tạm gọi là chị Tiến Lên, người đã nêu lên thắc mắc như thế này: "Thưa linh mục Phạm Tĩnh…Tiến Lên có thắc mắc này: 'Tiến Lên không muốn gọi ai ngoại trừ Thiên Chúa là CHA, và Tiến Lên cảm thấy bối rối khi gặp các linh mục vì không biết xưng hô như thế nào cho phải phép… Tiến Lên sợ xưng hô không đúng thì trở thành người vô lễ và bất kính vì thực ra trong lòng của Tiến Lên không phải vậy!"

Chị Tiến Lên thân mến,

Năm nay tôi đã 41 tuổi, nếu chị lớn hơn dù chỉ là 1 ngày thôi thì tôi cũng xin được gọi bằng chị. Còn nếu chị vẫn còn trẻ hơn cái tuổi 41 của tôi thì tôi cũng gọi chị bằng chị luôn. Chị biết tại sao vậy không? Là bởi vì văn hóa Việt Nam của mình khá rắc rối so với các nền văn hóa của người Tây và của người Tàu… lớn bé, già trẻ gì thì cũng YOU với I, NGỘ với NỊ rất đơn giản, không có nhiều danh xưng đi theo cặp, gắn theo đôi như tiếng Việt.

Những Cặp Từ Xưng Hô Thường Gặp Trong Đời Sống

Ở mỗi một miền (Bắc, Trung, Nam) đều có những lối xưng hô khác nhau, thế nhưng theo phong tục và cách hành xử của người bắc (hay ít là trong gia đình, họ hàng nhà họ Phạm của tôi) thì cách xưng hô phải có thứ tự và lớp lang như sau:

  • Khi gọi một người (có vai vế lớn hơn hay lớn tuổi hơn mình) là ANH hay CHỊ thì phải xưng là EM.
  • Khi gọi một người là ÔNG, BÀ, BÁC, CHÚ, CÔ, DÌ, THÍM, MỢ thì phải xưng là CON hay CHÁU
  • Khi gọi một người là THẦY hay CÔ thì phải xưng là CON hay EM
  • Khi gọi một tu sĩ là THẦY hay SƠ thì phải xưng là EM hay CON
  • Khi gọi CHA hay ĐỨC CHA thì phải xưng là CON

Xưng hô trật một chút hay lệch lạc không đúng cặp, đúng đôi thì sẽ bị xem là người vô giáo dục và phiền toái vô cùng! Người ta sẽ đánh giá, phê phán và thậm chí còn tỏ thái độ khinh thường tôi và cả cha mẹ của tôi nữa nếu tôi không biết cách xưng hô cho đúng phép, đúng kiểu, đúng cách.

Tại Sao Người Việt Nam Cứ Hỏi Tuổi Tác Khi Gặp Nhau Lần Đầu?

Vì cái sự không đơn giản trong nền văn hóa của họ Mít nhà ta như vậy cho nên (không biết chị có để ý hay không?) cứ mỗi lần gặp nhau thì thiên hạ hay hỏi thăm nhau về tuổi tác, tên họ, chức nghiệp, địa vị, thân phận… của nhau lắm ! Không phải là dân Mít nhà mình tò mò, tọc mạch, hay thích xen vào đời tư của kẻ khác đâu! Nhưng là vì bà con nhà mình muốn xưng hô cho đúng cách, đúng kiểu và nhất là không muốn đối tượng mà mình đang nói chuyện hay người ở xung quanh đánh giá mình là một người vô lễ, thô lỗ và…thiếu văn hóa.

Cá nhân tôi, khi xưng hô với anh chị em giáo dân… tôi vẫn luôn ghi nhớ lời của thánh Phaolô dạy trong thư gửi cho ông Timothy khi khuyên nhủ, hãy coi các cụ như cha; hãy coi các thanh niên như anh em, các cụ bà như mẹ, các thiếu nữ như chị em… (1Tm 5:1-2).

Đối với những người tôi không hề biết tuổi, không biết mặt mũi dài ngắn, tròn méo ra sao (anh chị em bà con giáo dân thuộc giáo xứ Internet như chị chẳng hạn) thì khi viết bài chia sẻ, tôi thường kêu BẠN và xưng TÔI. Còn trong những trường hợp biết tuổi tác, vai vế thì tôi sẽ tùy cơ ứng biến, sẽ xưng hô theo đúng danh phận và cấp bậc… ví dụ như:

  • Hễ ai lớn tuổi hơn thân phụ mẫu của tôi thì tôi gọi là CỤ, ÔNG, BÀ, BÁC xưng CON, hay CHÁU.
  • Nếu trẻ tuổi hơn ba mẹ của tôi thì tôi kêu CHÚ, CÔ, THÍM và xưng là CHÁU.
  • Với những anh chị có tuổi đời hơn số 41 thì tôi gọi ANH CHỊ và xưng là EM.
  • Còn với những người dưới hàng 41 thì tùy cơ ứng biến, hễ mặt nhìn giống như ông cụ thì kêu ANH CHỊ xưng TÔI, còn nếu nhìn còn trẻ thì CẬU, MÌNH, MI, TỚ…
  • Đối với các linh mục cao niên thì tôi gọi CHA xưng CON. Nếu còn trẻ cùng lứa tuổi, dễ chịu, không khách sáo, quen thân một chút và trông có vẻ… chịu chơi thì gọi là ANH xưng EM, SƯ HUYNH xưng TIỂU ĐỆ.. Còn nếu vị linh mục trẻ hơn tôi mà thuộc loại cụ non thì tôi gọi CHA xưng CON để gọi là… vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi!
  • Riêng với cái đám nhoi nhoi, choai choai thuộc phái yếu thì tôi gọi chúng nó là CHÚNG MÀY và xưng TAO ráo trọi.

Đừng vội đánh giá tôi là thô lỗ, bất lịch sự, thiếu văn hóa khi tôi gọi đám choai choai bằng MÀY TAO nhé! Sở dĩ tôi gọi chúng nó bằng những danh xưng hơi sống sượng và khó nghe như vậy để bản thân những người trẻ và nhất là những phóng viên của đài FM Con Vịt, hay là những ông, những bà quan tòa bất đắc dĩ khỏi có cơ hội kết án, đóng đinh và đem treo tôi lên thập giá: "Cha xưng tên với tao, chắc ổng có tình ý gì đây ... Bà biết không, chị có thể tin được không… cha gọi con Hợi bằng em và xưng anh với nó đấy ... Cha cụ gì mà nói chuyện với con gái ngọt như đường vậy?... "

Cách Xưng Hô Mang Tính Lịch Sự & Xã Giao

Trong trường hợp xã giao hay gặp gỡ những nhân vật có những tước vị (title) hay có những danh xưng ví dụ như là bác sĩ, luật sư, nha sĩ, dược sĩ, thị trưởng, giám đốc, hiệu trưởng, tổng thống, thủ tướng… thì theo sự thường, tôi sẽ dùng những tước vị hay những danh xưng đó để chào hỏi hay đàm luận, chuyện trò với họ trong office, nơi hội nghị hay trong những buổi họp, tiệc tùng ở nhà hàng... "Thưa bác sĩ Đông… Thưa luật sư Tây… Thưa nha sĩ Nam… Thưa ông (bà) thị trưởng Bắc… Thưa ông thị trưởng Tứ… Thưa bà giám đốc Phương…"

Khi nói chuyện với những người có tước vị (chức tước & vị vọng) như vậy, chị nghĩ là tôi có thể bỏ hết những danh xưng của họ, chỉ cần gọi cái tên cúng cơm của họ như ông Đông, bà Tây, anh Nam, chị Bắc, chú Tứ, cô Phương… được không? Dĩ nhiên là được nhưng tôi chỉ xưng hô như vậy trong những trường hợp sau đây:

  • Thứ nhất: Khi chính họ lên tiếng yêu cầu: "Làm ơn đừng khách sáo như vậy, mình là ngưòi nhà (là bạn bè, là anh em…) cả mà!"
  • Thứ nhì: Họ phải là bạn thân, rất thân của tôi hay của gia đình tôi
  • Thứ ba: Cuộc đàm luận hay truyện trò có tính cách cá nhân, thân thiện ở tư gia hay trong phòng ăn của gia đình với những người thân trong gia đình.

Linh Mục Là Một Tước Vị Được Công Nhận Trong Xã Hội

Tôi vẫn thường gặp và giao tiếp với nhiều người chẳng phải là Công Giáo. Họ thường hỏi thăm và chào hỏi tôi: "Anh là linh mục Công Giáo hả? Are you a Catholic priest?… Thưa linh mục, tôi muốn ngài chứng nhận cho con tôi đang theo học ở trường Francis Xavier… Cậu là một linh mục của Giáo Hội Công Giáo, cậu nghĩ gì về những vụ tai tiếng mới xảy ra đây…"

Và cả những vị cao niên đang sống trong căn chung cư ở Vancouver này với tôi bằng tuổi và thậm chí còn lớn hơn tuổi thân phụ mẫu của tôi mà họ vẫn cứ gọi tôi bằng CHA và xưng CON tỉnh bơ. Khi các vị này gọi tôi là CHA và xưng là CON với tôi , chị có nghĩ là tâm tình của họ, hay lòng kính trọng của họ đối với tôi giống y như là đối với cha ruột của họ không? No way! Tôi không nghĩ như vậy! Họ xưng hô như vậy là bởi vì phép lịch sự, là vì khách sáo, là vì họ tôn trọng chức vị và thân phận của tôi là một kẻ tu hành, chỉ có vậy thôi!

Tương tự như thế! Khi tôi tiếp chuyện với một nhà tu hành thuộc các tôn giáo khác, ví dụ như một vị Hoà Thượng chẳng hạn, thì tôi sẽ không ngần ngại gọi vị ấy là THẦY hay SƯ PHỤ và xưng CON. Danh xưng THẦY hay SƯ PHỤ bao hàm ý nghĩa là thầy dạy, "nhất tự vi sư, bán tự vi sư" là vậy! Vị Hòa Thượng ấy đâu có dạy tôi ngày nào, chẳng hề cho tôi dù là nửa chữ… mà tại sao tôi lại gọi là THẦY, là SƯ PHỤ? Chẳng qua là vì tôi tôn trọng cái chức vị của vị Hòa Thượng ấy và tôn trọng những người Phật tử đứng xung quanh tôi.

Bạn nghĩ thử mà xem, những Phật tử (lớn tuổi hơn tôi…) kêu vị tu sĩ ấy là THẦY và xưng CON, còn tôi (trẻ hơn họ) mà lại kêu khác đi thì bạn thấy có lập dị, có kỳ cục không?! Tôi xưng hô lịch sự với vị Hòa Thượng như vậy có mất mát gì không? Thưa không! Trái lại tôi còn gây được tình cảm thân thiện với những người xung quanh nữa. "Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau!" Là như vậy đấy!

Còn dưới con mắt đức tin của những người Công Giáo, như tôi đã chia sẻ trong bài "Những Sự Khác Biệt Giữa Linh Mục và Giáo Dân" thì anh chị em giáo dân tin rằng linh mục là người đại diện cho Thiên Chúa, là hình ảnh của Chúa Kitô, linh mục đóng một vai trò như là một người cha tinh thần của họ bởi vìtrong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ Tin Mừng, [và qua phép Rửa] chính [linh mục] đã sinh ra [họ] (1 Cor 4:15). Như thế khi anh chị em giáo dân mở miệng kêu một vị linh mục (mặt còn búng ra…café sữa… đá như tôi) là CHA thì tôi cam đoan với chị là cái ý nghĩa của từ CHA và những tâm tư tình cảm của bà con hoàn toàn khác khi họ xưng hô với người CHA đẻ ra họ và lẽ dĩ nhiên khác xa với cái từ CHA khi họ cầu nguyện với Chúa khi họ mở miệng đọc kinh LẠY CHA CHÚNG CON Ở TRÊN TRỜI…

Tại sao linh mục lại được gọi là cha? Mời chị cùng với tôi xem qua một số đoạn trong thư của thánh Phaolô gửi cho ông Titus:

Phần anh, hãy dạy những gì phù hợp với giáo lý lành mạnh. Hãy khuyên các cụ ông phải tiết độ, đàng hoàng, chừng mực, vững mạnh trong đức tin, đức mến và đức nhẫn nại. Các cụ bà cũng vậy, phải ăn ở sao cho xứng là người thánh, không nói xấu, không rượu chè say sưa, nhưng biết dạy bảo điều lành. Đó là những điều anh phải nói, phải khuyên, phải sửa dạy với tất cả uy quyền. Chớ gì đừng có ai coi thường anh. (Ti 2:2-3,15).

Chị thấy lạ không? Titus là một người còn trẻ, nhưng lúc đó, ngài đã được giao phó cho trách nhiệm của một người cha đấy!

  • … dạy những gì phù hợp với giáo lý lành mạnh…
  • … khuyên các cụ ông… cụ bà…
  • … phải nói, phải khuyên, phải sửa dạy với tất cả uy quyền…

Nếu giáo dân thời bấy giờ không nhìn nhận rằng Titus là một vị đại diện cho Chúa Kitô, là người cha thiêng liêng, và là người nhận được quyền dạy dỗ từ Thiên Chúa…thì làm sao ông dám thi hành những công việc như răn dạy, khuyên bảo, sửa chữa…những người già và cả những người trẻ được?

Khi giáo dân của Titus gọi ngài là CHA thì chắc chắn trong tâm tư của họ không hề có ý nghĩ ông là THIÊN CHÚA CHA hay là ông thân sinh ra họ đâu! Thật đấy!

Khi gọi một người tu hành là CHA và xưng CON, người giáo dân tỏ ra sự kính trọng MÓN QUÀ của Thiên Chúa là chức LINH MỤC và cũng chứng tỏ rằng họ hiểu thấu lời của Chúa Giêsu: "Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy. Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm" (Mt 23:2). Chức vụ của những người Pha-ri-sêu được coi trọng chứ không phải là con người và hành vi của họ. Chị đồng ý không?

Có thể chị đang thắc mắc là không biết khi tôi nghe người ta xưng hô cha con như vậy với tôi như vậy thì tôi có cảm giác như thế nào chứ gì? Thú thật với chị là chẳng dễ chịu chút nào cả! Nhất là khi gặp những cụ đáng tuổi ông bà nội, ông bà ngoại… của tôi kêu CHA và xưng CON với tôi! Thế nhưng thưa chị, làm sao tôi có thể thay đổi được truyền thống, niềm tin và sự kính trọng của người khác đối với thiên chức linh mục được? Dù muốn, dù không thì khi tôi cử hành bí tích Rửa Tội tôi đã đóng vai trò của một người cha để sinh ra và dưỡng nuôi những người con tinh thần ấy! "Linh Mục phải săn sóc các tín hữu như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh họ cách thiêng liêng nhờ Bí tích Rửa Tội và giáo huấn"(Hiến Chế Tín Lý Về Giáo Hội # 28)

Như vậy, nếu chị không ngại dư luận, không sợ bị người khác phê bình hay chỉ trích thì khi xưng hô với những kẻ đi tu như tôi hay vị linh mục ở giáo xứ của chị… thì chị cứ tùy ý, muốn gọi, muốn xưng làm sao đó cho thoải mái và tiện lợi cho chị, miễn là trong lòng chị vẫn kính trọng cái CHỨC VỤ và ƠN GỌI của các linh mục là tốt rồi! Chứ nếu gọi CHA xưng CON nhưng trong lòng khinh thường hay cảm thấy khó chịu, ấm ức, gò bó, bực bội và không cảm thấy thoải mái chút nào cả thì có khác gì "miệng tụng nam mô mà lòng cả bồ dao găm" thật chẳng có ích gì cả mà còn thêm tội nữa.

Những danh xưng CHA, FATHER, MASTER, TEACHER… chỉ là vấn đề xã giao, lịch sự và lễ giáo mà thôi, chẳng ảnh hưởng gì đến hòa bình của thế giới cả. Tôi tin rằng khi chị xưng hô đúng kiểu đúng cách với những người có chức vị thì chỉ có lợi cho chị thôi chứ những vị ấy chẳng được lợi lộc gì cả, chị nghĩ thử xem có đúng không? Tôi nói thật đấy! Cho dù cho chị có kêu những kẻ tu hành là linh mục, hay là kêu tôi là cha, là father, là shẩn phu, hoặc An-cha, thằng Tĩnh, thằng Tư hay bất cứ danh xưng gì đi chăng nữa thì tôi cũng vẫn là tôi thôi, chẳng béo thêm và cũng chẳng gầy đi tí nào cả! Đó là quyền tự do của mỗi cá nhân, tùy vào lòng tin, nền văn hóa và suy nghĩ cũng như quan niệm riêng của mỗi người.

Chị có quyền và có thể gọi tất cả những người đi tu là LINH MỤC và xưng bằng tên của chị. Nhưng mà tôi nói thật với chị, không phải lúc nào chị cũng dễ dàng như vậy đâu! Ví dụ như khi chị được cử lên thay mặt công đoàn ngỏ lời cám ơn một vị linh mục giảng phòng chẳng hạn! Chị dám phát biểu như thế này không?

"Kính thưa linh mục, Tiến Lên xin thay mặt cho cộng đoàn cám ơn linh mục đã đến dâng thánh lễ cầu nguyện cho cộng đoàn của Tiến Lên, xin Chúa trả công bội hậu cho linh mục…"

Có thể chị dám lắm chứ! Nhưng tôi e rằng khi chị xưng hô như vậy với một linh mục cao niên đáng tuổi cha, chú hay bác của chị nơi nhà thờ thì những khẩu đại bác ở bên dưới nhất là những quả đạn cối của các bậc cao niên sẽ không nằm yên đâu! Những viên đạn đại bác sẽ nhắm vào chị và sẽ…pháo cho mà xem! Cầu chúc chị bình an, vui tươi và khoẻ mạnh trong tình yêu Thiên Chúa.

Lm Ansgar Phạm Tĩnh



Wednesday, June 3, 2009

Chia se Loi Chua trong Thanh Le An Tang cu Phero Nguyen Ba Can

Chia sẻ Lời Chúa trong Thánh Lễ An Táng Cụ Phêrô Nguyễn bá Cẩn

Kính thưa Cụ Bà Elizabeth Nguyễn bá Cẩn và tất cả tang quyến.
Kính thưa quí vị quan khách, quí ông bà và anh chị em giáo hữu thân mến,

Trong bộ Kinh thánh của Giáo hội Công giáo có một cuốn sách với tựa đề là Sách Giảng Viên. Tác giả sách Giảng viên tóm lược tư tưởng chính yếu của ông trong câu 11 đoạn 3 như sau: Thiên chúa đã làm mọi sự hợp thời và đúng lúc. Thiên chúa cũng ban cho con người biết nhận thức về vũ trụ, tuy thế, con người cũng không thể nào hiểu biết hết ý nghĩa công trình của Thiên chúa thực hiện trong vũ trụ. Do đó khi suy nghĩ về cuộc sống và sự chết, tác giả Giảng viên nói rằng:

Ở dưới bầu trời nầy mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời của nó.
Một thời để chào đời. Một thời để lìa cõi thế.
Một thời để trồng cây. Một thời để nhổ cây.
Một thời để giết chết. Một thời để chữa lành.
Một thời để phá đổ. Một thời để xây dựng.
Một thời để khóc lóc. Một thời để vui cười.
Một thời để đánh mất. Một thời để tìm kiếm.
Một thời để giữ lại. Một thời để vất đi.
Một thời để làm thinh. Một thời để lên tiếng.


Kính thưa quí vị.
Thử nhìn lại đời mình, có lẽ không ai trong chúng ta thoát khỏi những điều tác giả sách Giảng viên vừa nói trên đây. Hôm nay chúng ta nhìn vào cuộc đời của Cụ Nguyễn bá Cẩn, một người bạn, một chiến hữu quốc gia, Chủ tịch Quốc hội, Hạ nghị viện, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, người tín hữu Công giáo:

Một thời để chào đời: Cụ Nguyễn bá Cẩn sinh ngày 9 tháng 9 năm 1930 tại tỉnh lỵ Cần thơ, thuộc đồng bằng sông Cửu long, trong một gia đình nông dân. Cậu bé Nguyễn bá Cẫn lớn lên nơi thôn quê ruộng đồng và từ đây bắt đầu 'Một thời để xây dựng': xây dựng cho bản thân; xây dựng cho gia đình; và xây dựng cho tổ quốc dân tộc.

Xây dựng bản thân: với đức tính kiên nhẫn, chí khí mạnh mẽ và trí khôn thông minh trời ban, chàng trai Nguyễn bá Cẩn đã thành đạt tốt đẹp trên con đường học vấn, tốt nghiệp các trường Sĩ Quan Trừ Bị, Trường Quốc Gia Hành Chánh. Kể từ đây ông Nguyễn bá Cẩn đã học hành trong nghề nghiệp và không ngừng xây dựng cho bản thân mình để thành nhân. Có thể nói triết lý nhân sinh của Ông dựa trên nguyên tắc phải thành nhân để thành công.

Xây dựng gia đình: Vào tháng 12 năm 1950, trước khi vào quân trường Thủ đức, chàng trai Nguyễn bá Cẩn xây dựng gia đình với cô Elizabeth Nguyễn thị Tu. Và Chúa thương cho ông bà có ba người con.

Xây dựng tổ quốc dân tộc: Có thể nói việc xây dựng tổ quốc dân tộc là lý tưởng cao đẹp mà Cụ Nguyễn bá Cẩn luôn ấp ủ và sống lý tưởng nầy cho đến giờ phút cuối cuộc đời của Cụ. Kể từ năm 1951, sau khi tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh, Cụ Nguyễn bá Cẩn đã xây dựng tổ quốc qua việc phục vụ đất nước trong các chức vụ: Quận trưởng, Phó Tỉnh trưởng, Dân biểu Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội, Hạ viện, và sau cùng là Thủ tướng Chính phủ.

Thưa quí vị và anh chị em thân mến,
Lịch sử của mỗi người chúng ta ai cũng có những biến cố lớn nhỏ xảy ra trong đời mình, có những biến cố lớn mà chúng ta thường coi là những biến cố đổi đời. Lịch sử dân tộc Việt nam năm 1975 đưa đến cho nhiều người trong chúng ta đây một cuộc đổi đời, đổi lớn, đổi dữ dội, đổi khủng khiếp. Cũng như tất cả những người tỵ nạn từ năm 1975, Cụ Thủ tướng Nguyễn bá Cẩn phải qua một cuộc đổi đời không kém phần dữ dội. Cụ phải lập lại cuộc đời từ con số không. Nhìn thấy trước sự phát triển khoa học kỷ thuật của xã hội Hoa kỳ, Cụ theo học computer science programmer, và đã thành đạt trong việc học cũng như việc làm.

Ngoài những biến cố đổi đời trong cuộc sống vật chất, Cụ Nguyễn bá Cẩn còn có một biến cố đổi đời khác, mạnh mẽ hơn, sâu đậm hơn, đó là biến cố Cụ được ơn chữa lành đôi mắt qua sự bầu cử của Ðức Trinh Nữ Maria, nhân chuyến hành hương Ðức Mẹ Lộ đức ở Pháp. Và cũng từ đây hạt giống đức tin nẩy mầm trong Cụ. Ðầu năm 1996 Cụ Thủ tướng xin tôi giúp Cụ tìm hiểu giáo lý của Chúa. Suốt gần một năm, cứ mỗi ngày Thứ Bảy, Cụ lái xe lên nhà thờ của tôi ở Saratoga học giáo lý. Chúng tôi thỏa thuận với nhau mỗi lần học là 2 tiếng đồng hồ, nhưng có nhiều lần kéo dài hơn 3 tiếng, vì Cụ muốn tìm hiểu cặn kẽ về giáo lý và cuộc sống của người Kitô hữu, nhất là gương sống của các thánh trong giáo hội. Tôi cung cấp sách cho Cụ đọc, thế là cả trò lẫn thầy đào sâu nhiều vấn đề đạo cũng như đời. Cụ Nguyễn bá Cẩn có kiến thức rất rộng về chính trị, kinh tế, quân sự và xã hội. Ðiều quan trọng là Cụ dùng cái học của mình để phục vụ Tổ Quốc và Dân Tộc. Ðến cuối năm 1996, vào ngày 7 tháng 12 tôi cử hành Bí tích Thánh tẩy cho Cụ. Khi chọn thánh bổn mạng Cụ chọn Thánh Phêrô và nói: cha chọn Thánh Phaolô cho nên con phải chọn Thánh Phêrô, vì Phêrô và Phaolô thường đi đôi với nhau. Tôi nói: Cụ có tài lãnh đạo, Cụ điều khiển chính phủ, Cụ chọn Phêrô hợp lắm, mà Cụ biết không Phêrô là boss của Phaolô đó, như vậy là 'con hơn cha...'

Kính thưa quí vị,
Khi chọn bài đọc Phúc âm cho Thánh lễ An táng Cụ Thủ tướng Nguyễn bá Cẩn hôm nay, tôi đã trở lại môt trong những bài giáo lý tôi hướng dẫn Cụ đó là đoạn Phúc âm Thánh Matthêu về bài giảng trên núi của Chúa Giêsu: Tám Mối Phúc Thật.

Chúa nói: Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước trời là của họ. Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Ðất hứa làm gia nghiệp. Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên chúa ủi an. Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên chúa cho thỏa lòng. Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên chúa xót thương. Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên chúa. Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên chúa. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước trời là của họ. Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta xỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em trên trời thật lớn lao. Ở phần cắt nghĩa và thảo luận, tôi nói với Cụ: đây là bản hiến chương Nước Trời, sống đúng theo hiến chương nầy chúng ta được bảo đảm hạnh phúc Thiên đàng.

Hôm nay cùng với Cụ Bà Elizabeth và các con, chúng ta cám ơn Thượng đế, cám ơn Thiên chúa đã cho chúng ta một món quà quí giá một gương mẫu sống như lời Cụ tâm sự: "Tổng kết cuộc đời, tôi đã lãm việc gần 30 năm cho VNCH và 20 năm cho đại tư bản Hoa Kỳ. Suốt 50 năm không nghỉ ngơi! Tại vùng Vịnh của San Francisco này, mỗi ngày tôi phải lái xe trên 100 miles để đi làm... về nhà thì giặt giũ, phụ giúp việc nội trợ, vệ sinh... tôi làm mọi việc mà vẫn thấy yêu đời, yêu cuộc sống, bởi lương tâm tôi thanh thản vì đã phụng sự cho Tổ Quốc mà chưa hề làm gì tổn hại cho Tổ Quốc và đồng bào. Ðối với gia đình thì tôi vẫn luôn luôn là người chồng, người cha nhân ái và gương mẫu…"

Xin Chúa ban phần thưởng hạnh phúc Nước Trời cho Cụ. Tạm biệt Cụ.
LM Phaolô Lưu Đình Dương

http://vietcatholic.net/News/Html/67637.htm

Tuesday, May 19, 2009

Bước đi trong thần khí

Bước đi trong Thần Khí (Galata 5,16)

Bài giảng của Đức cha Nguyễn văn Khảm ngày lễ phong chức giám mục cho Đức cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản tại Nhà thờ Chính tòa Giáo phận Ban Mê Thuột ngày 12.5.2009

"Thần Khí Chúa ngự trên tôi vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi,
để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
Người đã sai tôi đi
công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha,
cho người mù biết họ được sáng mắt,
trả lại tự do cho người bị áp bức,
công bố năm hồng ân của Chúa."

Chúa Giêsu đã dõng dạc đọc những lời này trong hội đường Nagiarét và sau đó, Người công bố: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe" (Lc 4,18-21).

Thế nhưng tôi tự hỏi, có thực sự là lời Kinh Thánh đã được ứng nghiệm? Có thực sự là mọi người mù được sáng mắt? Dĩ nhiên không thể phủ nhận rằng Chúa Giêsu đã chữa lành một vài người mù như Phúc Âm kể lại, nhưng chẳng nhẽ trên cả đất nước Israel lúc ấy, chỉ có vài người mù đó thôi sao? Còn cả trăm cả ngàn người mù khác nữa, liệu họ có được sáng mắt không? Mà nếu chưa được thì sao có thể gọi là ứng nghiệm?

Thế rồi, có thực sự là mọi kẻ giam cầm đều được tha và mọi kẻ bị áp bức đều được trả lại tự do? Ngay cả Gioan Tẩy giả, người thân của Chúa Giêsu, lúc ấy đang ngồi tù, cũng đã phải sai các môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến hay chúng tôi còn phải đợi ai khác?" (Mt 11,2-3). Nghe trong câu hỏi có nỗi nghi ngờ, nghi ngờ vì đợi mãi vẫn không được tha, nghi ngờ vì chờ hoài vẫn không thấy tự do! Đã thế, liệu có thể nói là lời Kinh Thánh đã ứng nghiệm không?

Đi xa hơn nữa đến cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, khi chính Người bị bắt, bị giam cầm, bị áp bức… liệu chính Người có khả năng thoát khỏi xiềng xích ngục tù, khỏi bàn tay áp bức chăng? Các sách Tin Mừng kể lại rằng Chúa Giêsu đã bị đánh đập dã man, bị vác khổ giá và cuối cùng bị đóng đinh trên thập giá. Đến chính bản thân Chúa Giêsu cũng không thoát khỏi ngục tù thì lấy đâu ra tự do để ban tặng cho các tù nhân? Đến chính Chúa Giêsu cũng bị áp bức thì lấy đâu ra sức mạnh để giải thoát những người bị áp bức?

Nêu lên những vấn nạn như thế không nhằm khước từ lời khẳng định của Chúa Giêsu, "Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh anh chị em vừa nghe", nhưng là để đọc lại những lời này trong một ánh sáng mới.

Mù loà không chỉ đơn thuần là khuyết tật thể lý nhưng có thể còn là khuyết tật tri thức, tâm lý và tâm linh. Có những khi ta nhìn một sự kiện, một biến cố mà không rõ ngọn nguồn sự việc vì thiếu hiểu biết, nghĩa là mù loà về mặt tri thức. Có những khi ta mở mắt thật to để nhìn mà vẫn không thấy được cái tốt của người khác chỉ vì ta cố chấp, đó là một thứ mù loà về tâm lý. Và nhiều khi ta nhìn rõ thế giới vật chất này nhưng lại không thấy mối tương quan giữa thế giới này và Đấng tạo dựng nên nó, tức là một thứ khuyết tật tâm linh, cho nên mới có lời cầu nguyện: "Xin mở cho con đôi mắt, để thấy tình yêu Chúa khắp nơi".

Cũng thế, có nhiều thứ ngục tù. Có những thứ ngục tù không giam hãm nổi tự do của con người, và ngược lại, có những thứ tự do biến con người thành tù nhân. Những nhà tù với hàng rào kẽm gai vây bọc chỉ có thể giam hãm thân xác con người chứ không thể giam hãm tự do hiểu như một giá trị tinh thần, không thể giam hãm suy tư và cảm xúc, tắt một lời, đời sống tinh thần của con người. Ngược lại, có những hành động được gọi là tự do nhưng thực ra chỉ là cái vỏ bên ngoài che đậy tình trạng nô lệ sâu xa bên trong, nô lệ những đam mê và ham muốn trần tục, nô lệ những tính toán quyền lực và phe nhóm…

Hiểu về sự mù loà và ngục tù như thế, mỗi người – kể cả giám mục và linh mục – bỗng khám phá ra mình cũng có những lúc sống trong tình trạng mù loà và mất tự do. Và cũng hiểu rõ hơn lời Kinh Thánh ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu như thế nào. Chúa Kitô và chỉ có Chúa Kitô là ánh sáng để trong ánh sáng đó, ta có thể nhìn thấy chân tướng của sự vật và của đời người. Ánh sáng đó là ánh sáng chân lý và chỉ khi sống trong chân lý, ta mới có tự do đích thực. Kinh nghiệm lịch sử nói với ta rằng có những người bị giam giữ trong nhà tù với hàng rào kẽm gai vây bọc, và chỉ mong được tự do. Nhưng khi đã được tự do rồi thì chính họ lại dựng lên những nhà tù khác để giam giữ đồng loại của mình và để bảo vệ cái gọi là tự do của mình. Ấy là vì họ mới chỉ được giải thoát khỏi thứ nhà tù vật chất mà chưa được giải thoát khỏi ngục tù của những đam mê và ham muốn quyền lực, của hận thù và ích kỷ. Nelson Mandela đã hiểu ra được điều đó nên khi bước chân ra khỏi nhà tù đã giam giữ ông suốt 30 năm, ông tự nhủ: nếu tôi còn giữ lòng hận thù với những tên cai ngục, thì tôi vẫn còn bị giam giữ, chưa trở thành người tự do thực sự. Và chính điều đó khiến cho mọi người kính nể ông.

Chúa Kitô đến không phải để giải thoát con người khỏi những ngục tù bằng hàng rào kẽm gai nhưng giải thoát con người khỏi tình trạng nô lệ và tha hoá sâu xa nhất, và chúng ta cần đến ơn giải thoát đó. Chúng ta cần đến ơn giải thoát đó ngay giữa lòng một thế giới tưởng chừng rất đỗi tự do. Chúng ta cần đến ánh sáng đó ngay giữa một thời đại phát triển tri thức khoa học đến mức cao nhất. Và giám mục cũng như linh mục là những người được trao cho trách nhiệm loan báo ơn giải thoát đó, trách nhiệm tiếp nối sứ mạng của Chúa Kitô, sứ mạng "loan báo Tin Mừng cho người nghèo, cho người mù được sáng mắt, cho kẻ bị giam cầm được tha, trả tự do cho người bị áp bức".

Thế nhưng chính ở đây lại xuất hiện một nghịch lý: xét như là con người, bản thân giám mục và linh mục cũng có thể ở trong tình trạng mù loà và bị giam giữ trong những ngục thất vô hình. Vậy làm sao có thể làm cho người khác sáng mắt khi chính mình đang ở trong tình trạng mù loà? Làm sao loan báo tự do khi chính mình đang bị giam trong ngục thất? Henri Nowen đã có lý khi gọi các thừa tác viên trong Giáo Hội là wounded healer, nghĩa là những người có sứ mạng chữa lành cho người khác nhưng chính mình lại đang mang thương tích. Tuy nhiên, chính nghịch lý này thúc đẩy các giám mục và linh mục thi hành sứ vụ trong khiêm tốn và cậy trông vào quyền năng của Thánh Thần. Khiêm tốn vì nhận biết rằng tự thân mình không phải là ánh sáng và chân lý, nhưng chỉ đón nhận ánh sáng và chân lý từ một Đấng khác. Cậy trông vì xác tín rằng mình không thể chu toàn sứ vụ với sức riêng mình nhưng chỉ có thể chu toàn nhờ quyền năng của Thánh Thần. Chính vì thế, nghi thức chính yếu trong việc phong chức giám mục là việc đặt tay và lời nguyện phong chức. Đặt tay chính là cử chỉ nói lên việc thông ban Thánh Thần, cùng với lời cầu nguyện xin Chúa ban Thánh Thần thủ lãnh xuống trên vị tân giám mục.

Hơn ai hết, Đức Tân Giám mục xác tín điều đó, cho nên đã chọn khẩu hiệu cho đời giám mục của mình là "Bước đi trong Thần Khí" (Spiritu ambulate) (Galata 5,16), đồng thời ngài giải thích "bước theo Thần Khí" là "sống trong sự tự do mà Đức Kitô đem lại chứ không quá lệ thuộc vào cách suy nghĩ của người đời… là sống theo sự hướng dẫn của Thần Khí chứ không theo quan điểm của xác thịt". Chỉ khi giám mục bước đi trong Thần Khí và hoạt động trong quyền năng của Thánh Thần thì ngài mới có thể chu toàn sứ vụ giám mục hết sức cao cả nhưng cũng rất nặng nề đã được trao phó.

Quyền năng của Thánh Thần chính là quyền năng của tình yêu, là sức mạnh thúc đẩy vị giám mục bước theo Chúa Giêsu Mục Tử, hiến thân trọn vẹn cho đoàn chiên đã được trao phó cho mình. Đây cũng là tâm tình của Đức Tân Giám mục. Nhớ lại khi vừa nghe tin Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI bổ nhiệm cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản làm giám mục giáo phận Ban Mê Thuột, trang web của HĐGMVN đã lập tức phỏng vấn ngài, và khi được hỏi "Lời đầu tiên Đức Cha muốn gửi đến cộng đồng Dân Chúa Ban Mê Thuột là gì?", ngài đã trả lời, "Tôi muốn nói với cộng đồng Dân Chúa Ban Mê Thuột rằng tôi thuộc trọn về giáo phận và từ hôm nay, giáo phận Ban Mê Thuột, từng cộng đoàn, từng người Kitô hữu trong giáo phận là chính cuộc sống của tôi." "Kể từ hôm nay, tôi thuộc trọn về giáo phận." Nghe thật "mùi mẫn"! Cứ như là chú rể đang nói với cô dâu, "Kể từ nay, anh thuộc trọn về em"!

Mà đúng như thế, lát nữa đây, sau lời nguyện phong chức, vị chủ sự sẽ xỏ nhẫn vào tay của đức tân giám mục cùng với lời nhắn nhủ, "Hãy nhận chiếc nhẫn này như ấn tín đức tin… hãy gìn giữ hiền thê của Chúa là Hội Thánh được vẹn toàn." Nhẫn cưới đấy! Theo một nghĩa nào đó, lễ phong chức hôm nay chính là lễ cưới, cử hành cuộc hôn nhân thánh thiêng giữa Đức tân giám mục Vinh sơn Nguyễn Văn Bản và Giáo Hội tại Ban Mê Thuột. Thế thì theo truyền thống văn hoá Việt Nam, xin cầu chúc cho đôi tân hôn được trăm năm hạnh phúc.

+ Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Friday, May 8, 2009

Cau Cho Cha Me

Cau Cho Cha Me
Artist: Le Hang
Album: Loi Kinh Tam Biet

Cau cho cha me - Le Hang

Monday, May 4, 2009

THE VIETNAM WESTERN HIGHLAND AND THE BAUXITE DISASTER, S.O.S !

The first Reading of Easter Sunday III-year B extracted from The Acts of Apostles makes us really stunned. Peter was among his Jewish people, spoke to them firmly, reminded them of Jesus' case and accused them, "You rejected this holy, righteous one and instead demanded the release of a murderer. You killed the author of life, but God raised him from the dead. And we are witnesses of this fact ! You killed the author of life" ( cf. Acts 3, 15 )

Peter did not grumble or blame anyone, but it seems to us that Peter was sorrowfully talking to everyone, even to himself, because Peter was a confederate in the injustice Death of Jesus. In that way, Peter not only talked to the Jewish two thousand years ago, but also to each of us nowadays.

We really appreciate the way Peter refers to Jesus "The Author of Life". We would like to use this term when we mention the hot problem, bauxite exploitation, in Vietnam, our country these days.

Never in the past has the world talked about the environment as they do today. The problem is no longer a gossip or a story that does not have any influences on us. Our Earth has become a "bitter fruit", Our Green Planet has become a grey planet. Our natural environment has become a death-causing environment. After many years of prudence, the Catholic Church nows determines that destruction of the environment is a serious sin.

Facing Bauxite problem, we read in the Social Doctrine of the Church, a work cordially contributed by Cardinal Francis Xavier Nguyen Van Thuan:

"Man must not "make arbitrary use of the earth, subjecting it without restraint to his will, as though it did not have its own requisites and a prior God-given purpose, which man can indeed develop but must not betray". When he acts in this way, "instead of carrying out his role as a co-operator with God in the work of creation, man sets himself up in place of God and thus ends up provoking a rebellion on the part of nature, which is more tyrannized than governed by him". ( Article 461 )

In fact, the destruction of the environment is a crime to the world and a serious sin to God, according to the Catholicism. The serious sin is the trespass against God, against Life, killing "The Author of Life".

In Vietnam, for many years they have had an annoyingly insisent propaganda, instilling into the heads of several generations after the Vietnam war: "Our country is still in poverty; all of us have to try our best to gradually overcome the results of the war".

Then they try to exploit the soil by planting too many crops, putting a burden on the soil year after year. They overcrop the fields which supply us with rice, precious pearls for our life.

They turn thousands of hectares of agricultural land which supports poor farmers into big golf courses surrounded by B40 nets, reserving for foreigners and government officials only.

They encourage destroying dikes preventing salt water in order to get water for shrimp farming. Finally, shrimps are dead, and the vast fields have to be fertilized at least 50 years before rice can be grown again.

They allow state-owned ships to fish everywhere in the sea, catch fish of all sizes with various kinds of equipment in such a way that finally the sea has to cry because fish nearly extinct!

They have built luxurious expensive highways along our country without thinking carefully, and spend billions of Vietnamese Dong, which destroys forest belt and makes the lower impoverished fields suffer from hoorible floods and droughts.

They turn the deaf ears and blind eyes to foreign companies exhausting poisonous air and waste water, polluting the river where the poor earn their living everyday. As a result, dust makes the sky grey, birds are dead, plants become withered, children and elders suffer from acute lung diseases.

And for two years now, they have become so inconsiderate that they have eagerly sold off the Western Highland, the rooftop of Indochina for bauxite exploitation. Poor ethnic minorities were dazed to move to other areas giving places to thousands of imported Chinese laborers. Not only is the soil of the Western Highland producing red viscid watercourse but the Vietnamese also are bleeding when fighting against their so-called neighbors who are really robbers.

In their articles and papers, many authors have analyzed the scientific, living, cultural tragedies and territorial sovereignty threat if the bauxite exploitation starts. We do not need to discuss more. However, as Catholics enlightened by Gospel, we would like to give some warnings.

Yes, we would like to repeat what we mention above: this is warning, now and here, for the very Vietnamese Catholic Church, that "They are killing "the Author of Life".

Why can we dare to say so ? When people are atheistic – they do not believe in God, they can do everything bad and harmful. They do not have any criteria to base on to distinguish good and evil or bad. For them, conscience is a strange term; compassion is rarely seen. And it is even said that you will be considered to be crazy if you are honest in this age.

When we do the Pro-life ministry, we recognize that when they legalize abortion in our country, there is nothing else to say. When they calmly kill a fetus, they can commit any other crimes.

In the same way, when they repudiate freedom of religion and try their best to persecute religions, of course they do not believe in God, "the Author of Life", who they owe their life to. And now they are protesting against God. Thus all decisions on economy, politics, culture and education in this country gradually become messy, immoral and conscienceless.

These days the Redemptorist Order in Thai Ha, Hanoi, are being buzzed about the Ba Giang Lake having been violated. It is not the ownership of a lake or a land, but the requirement for Justice and Truth to exist. No one can be greedy to rob the land crazily and cruelly, even though he is supported by violence, weapons and army. Fortunately, the Catholics in Hanoi are also sensitively alert to the bauxite problem. Their "Prayer for Peace" is "Where there is hatred, let me sow love" ( Saint Francis ). The small candles in their hands were not only enlighting the Ba Giang Lake but also have become the torches glowing in the Vietnam Western Highland which is being covered with the obscurity and the dust of the violence.

At the time, it is so late, but we would like to appeal to our Catholic Church, to our Bishops, Priests, Religious Orders and all of the Catholics in our country. We are Catholics, we cannot stand by our country's life with our fear and hesitation. We cannot wait for one another without courageously making any practical decisions. It is unreasonable if we fear something illusive when we do not fear our conscience, the Holy Spirit's Voice.

We all know that more and more crimes have been rampant in our country. Millions of abortion cases have been committed per year for a long time. But we have kept quiet. Now we have read, heard and understood how bauxite exploitation does harm to the human life, so if we continue keeping silent, it means we are on the same boat with evils killing "the Author of life"

The intellectuals in Hanoi together with Professor Nguyen Hue Chi have written a petition, sent to the government with the signatures of hundreds of engineers, doctors, professors, writers, poets, journalists to ask them to stop what is happening in Daknong and Lam Dong provinces.

It is time for Our Catholic Church to send petition, although we know however we recommend, they will not accept or change their mind. But at least we should raise the voice of our conscience, because we trust in God, "the Author of Life" so that the sacred life is not longer destroyed in our country. It also means that the Vietnam Catholics are always sympathethic and considerate in the heart of the country.

We wish everybody to respond our appeal "PLEASE HELP ! BAUXITE DISASTER, S.O.S". Please send your information to our websites: www.trungtammucvudcct.com, www.dcctvn.net or send emails to ttmvcssr@gmail.com.

We would like other websites to upload this article for readers' attention.

Saturday, 25 April 2009
Rev. Joseph LE QUANG UY CSsR

( Translate by YEN VY – LE VINH )

N.B: When signing this petion, please send us your: Christian name ( if any ), full name, career, address (city), nation

Thank you for your kindness. May God bless you.

Source: http://www.trungtammucvudcct.com/web/news.php?mode=chitiet&no=436&cid=13&id=4546

Wednesday, April 29, 2009

“HÃY CỨU LẤY TÂY NGUYÊN KHỎI THẢM HOẠ BAUXITE ĐỎ”

Lm. Lê Quang Uy - 24/04/2009

Sách Công Vụ Tông Đồ, bài đọc thứ nhất Chúa Nhật thứ 3 Mùa Phục Sinh năm B này có một đoạn làm chúng tôi bàng hoàng. Ông Phêrô một hôm đang ở giữa đám đông đồng bào Do Thái của mình, đã lên tiếng rất mạnh, lật lại vụ án Chúa Giêsu, cật vấn dân Do Thái: "...Anh em đã chối bỏ Đấng Thánh và Đấng Công Chính, mà lại xin ân xá cho một tên sát nhân. Anh em đã giết chính Đấng khơi nguồn Sự Sống..." ( x. Cv 3, 15 ).

Không phải đay nghiến chì chiết, nhưng xét ra, lại là một lời da diết với mọi người, với cả chính Phêrô, như thể bản thân Phêrô cũng đã gián tiếp đồng loã trong cái chết oan ức bi thảm của Chúa Giêsu. Mà như thế, Phêrô đâu chỉ nói với dân Do Thái ngày xưa cách đây gần hai ngàn năm, nói với cả chúng ta hôm nay nữa đấy chứ !

Chúng tôi đặc biệt thấm thía cái cách ông Phêrô nói về Chúa Giêsu: "Đấng khơi nguồn Sự Sống". Và chúng tôi xin vận dụng luôn cụm từ này để đặt vấn đề nóng hổi ngày hôm nay, ngay trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta, liên quan đến "Bauxite Đỏ".

Không lúc nào thế giới nói nhiều đến môi trường như lúc này. Chẳng phải chuyện đùa hay xa vời viển vông nữa rồi: Trái đất của chúng ta đang trở thành một... trái đắng ! Hành tinh xanh của chúng ta đang bị đổi thành hành tinh xám ! Môi trường sinh thái thân thiện của chúng ta đang biến thành một môi trường gây tử vong. Hội Thánh Công Giáo sau nhiều năm thận trọng cũng đã lên tiếng chỉ rõ việc phá hoại môi trường chính là một tội trọng.

Trước vấn nạn "Bauxite đỏ", chúng tôi đọc được trong Học Thuyết Xã Hội của Hội Thánh Công Giáo, một công trình có rất nhiều tâm huyết của Đức cố Hồng Y PX. Nguyễn Văn Thuận, rằng:

"…Con người không được sử dụng trái đất cách tùy tiện, bắt nó tùng phục ý muốn của mình một cách không giới hạn, như thể nó không có những yêu cầu riêng và không có một mục tiêu mà Chúa đã ban cho từ trước, một mục tiêu mà con người thật sự có thể triển khai ra nhưng không được phép phản bội. Khi hành động như thế, con người thay vì thi hành vai trò của người cộng tác với Chúa trong công trình sáng tạo, sẽ tự đặt mình thay thế Chúa và rốt cuộc làm cho thiên nhiên phản lại, vì đã hành hạ hơn là cai trị thiên nhiên" ( trang 319 ).

Quả như thế, phá huỷ môi trường, đối với cộng đồng thế giới là một tội ác, đối với người Công Giáo là một tội trọng. Mà tội trọng chính là tội chống lại Thiên Chúa, chống lại Sự Sống, tội giết chính "Đấng đã khơi nguồn Sự Sống".

Ở Việt Nam, bao nhiêu năm nay người ta cứ lải nhải tuyên truyền, ấn vào đầu óc mấy thế hệ liên tiếp thời hậu chiến cái luận điệu rằng thì là: đất nước mình còn nghèo, còn đang phải ra sức và từng bước khắc phục hậu quả chiến tranh.

Thế là người ta "tranh thủ" bóc lột đất đai với những kiểu xen canh, thâm canh tăng vụ hết năm này đến năm khác, làm bạc màu, làm kiệt sức biết bao nhiêu ruộng đất tự bao đời vẫn hào phóng dâng hiến cho chúng ta những hạt ngọc, những hoa trái quý giá.

Người ta biến hàng vạn mẫu thổ canh đang nuôi sống người nông dân nghèo thành những sân golf khổng lồ, rồi rào lưới B40 lại, chỉ dành riêng cho khách ngoại quốc và giới quan chức giàu có đến mà chơi trò học làm sang.

Người ta khuyến khích phá đê ngăn mặn để lấy nước vào hồ nuôi tôm tăng lãi suất để rồi tôm thì chết mà cả một vùng đồng bằng bao la ngày xưa phải khắc phục "ngọt hoá" 50 năm nữa may ra mới trồng lại được cây lúa.

Người ta cho các đội tàu thuyền lớn nhỏ của quốc doanh tung hoành khắp các vùng lãnh hải gần bờ xa khơi, đánh bắt các loại cá vô tội vạ bằng đủ thứ phương tiện, đủ thứ phương cách đến nỗi biển... cạn, biển... khóc, cá thì tuyệt chủng !

Người ta mở ra những xa lộ hiện đại dọc theo chiều dài đất nước bằng một đầu óc duy ý chí, đã tốn kém tỷ tỷ, không ngờ còn phá huỷ vành đai rừng phòng hộ đầu nguồn, khiến những vùng đất bên dưới vốn đã cằn cỗi nay lại phải chịu thêm hết lũ đá lại đến hạn hán kinh hoàng.

Người ta nhắm mắt làm ngơ cho những Công ty nước ngoài tha hồ xả nước thải khí độc, gây ô nhiễm những con sông dài đang là cơ may mưu sinh cho người dân nghèo, gây bụi mù xám xịt cả một vùng trời, chết chim, héo cây và ngộ độc phổi cấp cho trẻ em và người già.

Và hai năm nay thì người ta đã ngang nhiên háo hức, hồ hởi bán đứng Tây Nguyên – nóc nhà Đông Dương – cho việc khai thác Bauxite Đỏ. Người dân tộc thiểu số khốn khổ đã phải ngơ ngác thiên di đi nơi khác, nhường chỗ cho hàng ngàn công nhân Trung Quốc được nhập khẩu ồ ạt. Đất Tây Nguyên đang chảy những dòng nước lầy nhầy đất đỏ, mà dân Việt cũng bắt đầu chảy máu đỏ sau những cuộc xô xát với kẻ cướp đội lốt anh em láng giềng.

Nhiều bài viết đã phân tích những thảm kịch về khoa học, về đời sống, về văn hoá, cả về chủ quyền lãnh thổ... Chúng tôi không dám lạm bàn thêm, nhưng xin được đứng ở góc độ một người Công Giáo, lấy ánh sáng Tin Mừng rọi vào, làm bật lên những lời cảnh báo.


( Ảnh minh hoạ một hồ chứa bùn đỏ khai thác Bauxite tại Ấn Độ )

Vâng, chúng tôi xin được lập lại điều đã nêu từ đầu, đây là một lời cảnh báo, bây giờ và nơi đây ( now and here ) cho chính Hội Thánh Công Giáo Việt Nam chúng ta, chính là: "Người ta đang giết Đấng đã khơi nguồn Sự Sống".

Tại sao chúng tôi lại dám nói như thế ? Thưa, vì khi người ta vô thần, không chịu tin vào Thiên Chúa thì người ta có thể làm đủ thứ chuyện bậy bạ tồi tệ. Người ta đâu còn tiêu chuẩn nào để lượng định thiện – ác, tốt – xấu. Lương tâm trở thành từ ngữ xa lạ. Lòng thương xót trở thành điều hiếm hoi, thậm chí... có điên mới nói chuyện thật thà lương thiện vào thời buổi này !

Khi lo Mục Vụ Bảo Vệ Sự Sống, chúng tôi từng nhận ra: khi người ta chủ trương hợp pháp hoá phá thai thì không còn gì để nói nữa, đã thản nhiên giết chết các bé thai nhi thì người ta cũng có thể phạm bất cứ tội ác kinh hoàng nào trên đời.


( Ảnh xe cơ giới Trung Quốc đang khai thác Bauxite tại tỉnh Đaknông)

Thì ở đây cũng vậy, một khi người ta đã không chấp nhận tự do tín ngưỡng, tìm mọi cách trù giập các tôn giáo tử tế, thì làm gì còn có chỗ cho Lòng Tin vào một Thượng Đế, một Thiên Chúa, Đấng khơi nguồn Sự Sống cho chính bản thân họ đang được sống, đang sử dụng chính Sự Sống ấy mà chống lại Thiên Chúa. Và từ đó, mọi quyết định vận hành kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục của đất nước này dần dần trở nên hỗn loạn, vô đạo đức, mất tích lương tri !

DCCT Thái Hà mấy ngày nay xôn xao chuyện Hồ Ba Giang lại đang bị ngang nhiên xâm phạm. Vẫn chẳng phải chuyện giành lại sở hữu một cái ao, một vuông đất, mà chính yếu vẫn là đòi Công Lý và Sự Thật phải sáng tỏ cho bằng được, đừng có ai tham lam mờ mắt mà dại dột thò tay vào xà xẻo, chia chác, tư túi, cho dù hậu thuẫn phía sau là đủ loại binh chủng khủng bố và vũ khí bạo lực. Và, may quá, nhạy cảm quá, người Công Giáo Hà Nội cũng đã thức tỉnh trong cả chuyện "Bauxite Đỏ", lời ca Kinh Hoà Bình của họ cũng đang đòi "đem an hoà vào nơi tranh chấp".ngọn nến nhỏ xíu trên tay họ không chỉ rọi vào khu Hồ Ba Giang mà còn trở thành những ngọn đuốc rực sáng cả vùng Tây Nguyên đang mịt mù tối tăm vì bụi đỏ cường quyền.

Lúc này đây, tuy đã chậm trễ lắm rồi, chúng tôi vẫn muốn kêu to lên với phía Công Giáo chúng ta, với các vị Giám Mục, các Linh Mục, các Tu Sĩ các Dòng và nhất là với tất cả anh chị em Giáo Dân thân yêu của mọi miền đất nước. Chúng ta là người Công Giáo, chúng ta không thể cứ mãi ở bên lề cuộc sống quê hương trong sự e ngại, do dự. Chúng ta không thể cứ mãi chờ đợi lẫn nhau mà không ai dám quyết định một việc gì thiết thực và can đảm. Chẳng lẽ chỉ vì sợ bóng sợ vía một cái gì đấy mà chúng ta lại không sợ điều đáng phải sợ hơn cả, đó là tiếng lương tâm, tiếng nói của Chúa Thánh Thần.

( Dự án khai thác Bauxite tiềm ẩn nhiều nguy cơ ô nhiễm nguồn nước, không khí và biến đổi môi trường, khí hậu. Ảnh lấy từ nguồn http://vietnamnet.vn/xahoi/2008/10/810281/ )

Chúng ta biết nhiều tội ác đã và đang hoành hành trên quê hương chúng ta. Phá thai mấy triệu ca một năm suốt nhiều năm qua. Chúng ta đã im lặng. Nay Bauxite Đỏ có tác hại đến Sự Sống con người ra sao, chúng ta đọc và nghe hết, hiểu hết. Chúng ta lại vẫn im lặng. Và như thế chúng ta cũng sẽ rơi vào bi kịch đồng loã với thế gian độc ác, với những kẻ muốn giết chính "Đấng đã khơi nguồn Sự Sống" !

Chúng tôi thấy các nhà trí thức, đa số ở Hà Nội, đã cùng với giáo sư Nguyễn Huệ Chi, viết một kiến nghị, lấy chữ ký mấy trăm kỹ sư, bác sĩ, giáo sư, nhà văn, nhà thơ, nhà báo để gửi cho nhà cầm quyền, đòi ngưng lại mọi sự đang diễn ra ở hai tỉnh Đăknông và Lâm Đồng.

Phải có một kiến nghị của phía Hội Thánh Công Giáo nữa chứ, mặc dù chúng ta dư biết có "kiến" cách mấy thì người ta cũng chẳng thèm "nghị" đâu, nhưng ít ra đây sẽ là tiếng nói của chính lương tâm chúng ta, những người đang tin vào "Đấng đã khơi nguồn Sự Sống" để Sự Sống thiêng liêng ấy không bị làm cho tổn thương trên quê hương Việt Nam thân yêu của chúng ta. Nó cho thấy người Công Giáo Việt Nam cùng trăn trở xót xa với vận mệnh của quê hương và dân tộc.

Chúng tôi kính mong, tiếng kêu này của chúng tôi được mọi người mạnh dạn hưởng ứng. Xin quý Đức Cha, quý Cha, quý nam nữ Tu Sĩ và anh chị em Giáo Dân gần xa, đừng vì chúng tôi chỉ là một Linh Mục quèn của một Hội Dòng thường bị cho là cấp tiến, mà đành bỏ qua không muốn nghe tiếng kêu của chúng tôi.

Chúng tôi chọn cách nói: "HÃY CỨU LẤY TÂY NGUYÊN KHỎI THẢM HOẠ BAUXITE ĐỎ". Xin gửi ngay về địa chỉ Mail: ttmvcssr@gmail.com chúng tôi sẽ cập nhật liên tục trên các websites của chúng tôi như www.trungtammucvudcct.comwww.dcctvn.net và mời gọi các websites khác có thể đăng tải lại cho rộng đường dư luận.

Lm. QUANG UY, DCCT, thứ bảy 25.4.2009

Tái bút:
Sau hơn 8 giờ đồng hồ gửi lời kêu gọi qua Mail và Blog, chúng tôi đã nhận được hơn 60 ghi danh hưởng ứng từ khắp mọi miền đất nước và cả các quốc gia khác nữa. Chúng tôi đã bắt đầu gửi lên các websites để đánh động được dư luận mạnh hơn và rộng hơn. Thật bất ngờ và xúc động, chúng tôi cũng nhận được một số phản hồi muốn vấn đề được lan nhanh đến cả những anh chị em không Công Giáo nữa. Xin chân thành biết ơn sự hiệp thông quý giá này. Vậy chúng tôi xin đưa ra mẫu ghi danh đầy đủ các chi tiết như sau:
Tên Thánh ( nếu có ) – Họ và tên – Nghề nghiệp – Nơi đang sống hoặc quê quán – Quốc gia


BẢNG GHI DANH “HÃY CỨÚ LẤY TÂY NGUYÊN KHỎI THẢM HOẠ BAUXITE ĐỎ”

Thư gửi bạn bè: Khởi Hành Chậm Từ Mỏ Bauxite

Lm Matthêu Vũ Khởi Phụng

Các bạn thân mến,

Từ hơn một năm nay, tôi đa đoan với những vấn đề ở Thái Hà, Hà Nội, nên có phần lơ là với những chuyện xảy ra ở những địa phương khác. Đến khi những cơ quan truyền thông nước ngoài và các trang mạng loan tin việc Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên tiếng báo động công khai về các hiểm hoạ tiềm tàng trong vụ khai thác bauxite ở Tây Nguyên, tôi mới giật mình. Việc quân sự và quốc phòng thì tôi không dám lạm bàn, nhưng tôi trăn trở về vấn đề môi trường và thân phận của anh chị em đồng bào Thượng ở Tây Nguyên.

Ngày xưa, tôi đã từng biết cả một vùng từ Đà Lạt xuống Lâm Đồng, thiên nhiên đẹp như mơ, như một cõi địa đàng. Vẻ đẹp ấy đã tàn tạ nhiều phần do tác động của con người. Nhưng chưa bao giờ Tây Nguyên và Lâm Đồng bị đe doạ tàn khốc như trong viễn ảnh mỏ bauxite. Hơn nữa, nếu Đại tướng và nhiều nhà chuyên môn về môi trường dự đoán đúng, thì không chỉ Cao Nguyên mà cả vùng xuôi miền Nam cũng bị vạ lây ở mức độ chưa từng có.

Tôi lại nối những cảnh báo ấy với những gì thấy được ở gần Hà Nội, những làng mắc bệnh ung thư bên Bắc Ninh, những vùng nước ngầm bị nhiễm độc, những dòng sông cá chết ở Hà Nam… Rồi một vụ to lớn là vụ xí nghiệp Vedan đầu độc cả một vùng sông nước và nông nghiệp ở miền Nam. Ở nơi nào cũng nổ ra những vụ ô nhiễm như thế, và cứ trầm trọng thêm mãi, thì chúng ta và các thế hệ mai sau sẽ ra thế nào? Tôi tin rằng giữa sự huỷ hoại thiên nhiên và tâm thể lý con người có mối tương tác. Đây là một vấn đề nghiêm trọng, tôi xin khoan bàn ở đây.

Với đồng bào Thượng, tôi không có duyên được sống nhiều với anh chị em để phục vụ, nhưng được sống trong Giáo Hội, tôi cũng có nhiều dịp thăm viếng, khi thì Kontum, Pleiku, khi thì Đà Lạt, Lâm Đồng. Tôi đã được đến thăm Tân Rai, nay chính là địa điểm khai thác bauxite, khi Tân Rai còn hoang sơ. Tôi được gặp cả các vị thừa sai miền Thượng lẫn bà con giáo dân, và các bạn sinh viên người dân tộc về học hành ở các thành phố. Qua những tiếp cận, bên cạnh những điều phấn khởi, tôi được chia sẻ những lo âu, bức xúc, có khi là những tâm trạng bế tắc không lối thoát nơi các cộng đồng dân tộc. Trong các cộng đồng ấy, người Kinh khó có ai tự đồng hoá được với bà con dân tộc, và được bà con thân tình chấp nhận như các vị thừa sai.

Xét bề ngoài, ta có cảm tường như bà con dân tộc đã tiến một bước dài, từ những ngày Cao Nguyên còn đẹp như mơ, nhưng cuộc sống trong xã hội là một điều hết sức phức tạp, không thể chỉ lượng giá bằng một chút ngoại diện, mà phải tính đến những tương quan vật chất và tinh thần. Và chính từ những tương quan ấy đã nảy ra những bóc lột, đau buồn, đôi khi vô vọng mà tôi đề cập sơ qua trên đây. Vả chăng, ở nhiều nước và nhiều lúc, sự đụng chạm giữa các dân tộc ít người với những nhóm người phát triển hơn đã gây ra những hậu quả điêu đứng thế nào cho người yếu thế là một vấn đề đã từng được nghiên cứu; chỉ có điều những bài học kinh nghiệm ấy hình như chưa bao giờ được ứng dụng một cách rốt ráo trong thực tế phát triển của Tây Nguyên.

"Phát triển toàn diện" là một ý niệm được nhắc tới trong Giáo Hội từ ngày Đức Giáo Hoàng Phaolô VI công bố thông điệp "Các dân tộc đồng tiến" (Populorum Progressio). Nhưng làm thế nào để "phát triển toàn diện" thì xem ra chưa tìm được công thức cụ thể. Có vẻ như những người thiết tha với vấn đề thì không thực hiện được, hoặc không được thực hiện. Còn những người đang chủ động phát triển, thì chẳng quan tâm đến cái "toàn diện", hoặc nếu có thì chắp vá một cách hời hợt. Nếu chương trình khai thác bauxite tiến hành đúng kế hoạch, với sự hiện diện ồ ạt của công nhân Trung Quốc, thì vấn đề chỉ càng thêm khó khăn trầm trọng mà thôi. Và như thế anh chị em dân tộc có nguy cơ còn nghèo đói triền miên về vật chất, kéo theo một sự xâm hại tương đương về mặt tinh thần và tâm linh.

Những trăn trở về môi trường và cuộc sống "toàn diện" của anh chị em dân tộc khiến tôi không an tâm về dự án bauxite. Tôi mong có thể làm một cái gì để đóng góp cho thiện ích chung, mà không biết phải làm thế nào. Thế rồi Tuần Thánh và lễ Phục Sinh đến, nhà thờ ngày nào cũng đông đúc, bộn bề. Mối lo toan bauxite chỉ biết nằm yên một chỗ trong tâm trí, chứ không sinh sôi được cái gì cả. Nhưng tôi có một niềm an ủi nho nhỏ, ấy là dư luận xã hội bắt đầu chuyển động. Sau lễ Phục sinh, đã thấy dấy lên một phong trào góp ý. Các bậc thức giả, trong đó có nhiều vị rất có uy tín trong xã hội, đã lên tiếng một cách khá sôi nổi và sâu sắc. Như thế đúng là một biến chuyển tích cực, hiếm thấy trong xã hội chúng ta.

Tuy nhiên, vẫn còn đó một nỗi ưu tư: các nhà chính trị, quân sự, các học giả, các nhà trí thức, các chuyên viên, một vài nhân vật tôn giáo đều đã có tiếng nói. Về phần chúng ta, những tín hữu Chúa Kitô, có cần nói gì, bày tỏ gì không? Hoặc không nói gì cũng là nói chăng? Nhưng đó là nói cái gì? Bát Nhật Phục Sinh qua đi, nhà thờ vẫn như bặt vô âm tín về vụ bauxite. Thật ra, trên mấy trang mạng có một vài ý kiến của mấy bạn giáo dân, nhưng e rằng những ý kiến đơn lẻ đó có thể bị mất hút giữa bao nhiêu sự ồn ào thì sao? Tôi lại thấy các vị bên Phật Giáo báo động vụ khoét núi khai thác than ở danh thắng Yên Tử, nhờ vậy đã bảo vệ được một môi trường thiên nhiên, văn hoá, và tâm linh quý giá. Nhân Cơ hay Tân Rai không phải là danh thắng, nhưng chứng ta cũng có một điều rất quý: đó là tình liên đới với các bà con dân tộc nghèo nói chung, với các đồng đạo ở Tân Rai nói riêng. Cuối cùng ở Thái Hà, chúng tôi quyết định thắp nến cầu nguyện. Trước sau chúng tôi vẫn tin vào sự cầu nguyện.

Đúng vào ngày chúng tôi cầu nguyện, lại có một diễn biến mới. Đó là lá thư của linh mục Lê Quang Uy được phổ biến trên mạng. Cha Uy có những tâm trạng như tức nước vỡ bờ. Cha thống thiết kêu gọi mọi người ký tên vào kiến nghị yêu cầu xét lại các dự án khai thác bauxite. Chỉ trong vài tiếng đồng hồ, hằng mấy trăm người thuộc đủ mọi thành phần, trong nước và ngoài nước, đã hưởng ứng. Thế ra đằng sau cái vỏ bề ngoài lặng lẽ, cộng đồng dân Chúa vẫn canh cánh ưu tư chuyện môi trường, và liên đới với anh chị em nghèo. Tiềm năng ấy thật khích lệ. Rồi đến tối buổi cầu nguyện ở Thái Hà đông nghịt người thắp nến. Như vậy, chúng ta vào cuộc hơi chậm, nhưng cũng có khí thế.

Sự thể mới này khiến cho tôi hiểu rằng từ nay những điều Giáo Hội Công Giáo nói về vấn đề bảo vệ môi trường và công bình xã hội sẽ có một tập thể tín hữu đông đảo lắng nghe. Tôi muốn được đóng góp một phần nhỏ vào nhiệm vụ chung bằng cách ôn lại đạo lý của Giáo Hội. Những đạo lý này không mới, vì đã có sẵn nhiều năm nay rồi. Nhưng có lẽ những lo toan hàng ngày có thể làm cho ta quên lãng ít nhiều. Chúa Giêsu dạy: "Khi Thánh Thần đến, Ngài sẽ làm cho anh em nhớ lại những điều Thầy dạy" (x. Ga 14,26). Phải chăng trong những chuyển biến gần đây trong xã hội, cũng có một hơi gió của Thánh Thần làm cho ta "nhớ lại" các điều Hội Thánh dạy? Vả lại, nhiệm vụ không phải chỉ là ký tên vào một kiến nghị, tham gia một buổi cầu nguyện, hay phát biểu một vài câu. Nhiệm vụ là kiên trì đi theo định hướng bảo vệ môi trường sống và cảm thông liên đới với anh chị em nghèo, đặc biệt nơi các vùng dân tộc. Những giáo huấn của Hội Thánh là một "của ăn đường" cho một quá trình xây dựng lâu dài.

Trước mắt, trong bối cảnh bauxite Tây Nguyên, tôi xin giới thiệu những tuyên bố của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II về mối quan hệ của các sắc dân bản địa với đất đai và tài nguyên của họ và những đoạn sứ điệp hoà bình của Đức Bênêđictô XVI trong ba năm gần đây liên quan đến nghĩa vụ bảo vệ môi trường.

Tôi biết có nhiều anh chị em đang nghiên cứu về đạo lý của Hội Thánh. Xin anh chị em tiếp tay tiếp sức để càng ngày càng làm rõ con đường ta đi.

Với nhiều anh chị em tuy không cùng một niềm tin tôn giáo với chúng tôi, nhưng vẫn thân tình với chúng tôi trên con đường phục vụ con người, chúng tôi hy vọng đạo lý Công Giáo sẽ củng cố thêm sự cảm thông và đoàn kết.

Xin cám ơn tất cả anh chị em.

24/04/2009

Lm Matthêu Vũ Khởi Phụng
http://danchuausa.net/hiep-thong/thu-gui-ban-be-khoi-hanh-cham-tu-mo-bauxite/