Sunday, December 10, 2017

Chương trình tang lễ an táng cho Đức cố GM Dominic Mai Thanh Lương

Giáo phận Orange thông báo: 
Với niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh, chúng tôi thông báo:



Đức Cha Dominic Mai Thanh Lương, Giám Mục Phụ Tá Giáo phận Orange
đã bước vào đời sống vĩnh cửu vào ngày 6 tháng 12 năm 2017. 

Chương trình:
Ngày 12/12/2017: từ 2 g đến 8 giờ chiều: thăm viếng (viếng xác) và cầu nguyện cho Đức Cha Mai Thanh Lương tại Trung Tâm Công Giáo. 
7 giờ chiều: Thánh lễ (có thể ĐC Nguyễn Thái Thành sẽ chủ sự). Xin mời các cha tới đồng tế.

Ngày 13/12/2017: Thăm viếng và cầu nguyện: từ 4:30 - 10:00 giờ tối 
tại Christ Cathedral Arboretum (Nhà thờ Kính) 13280 Chapman Avenue, Garden Grove, CA 92840

Ngày 14/12/2017: Thánh lễ An táng lúc 10 giờ sáng 
tại Nhà thờ Holy Family, 566 S. Glassell Street, Orange, CA 92866 
(Các linh mục muốn đồng tế xin mang alba và giây stola mầu trắng theo).

Sau thánh lễ, sẽ được mai táng an nghỉ tại nghĩa trang Holy Sepulcher 
7845 Santiago Canyon Rd., Orange, CA 92871

Xin nhớ cầu nguyện cho linh hồn Đức Cha Dominic và gia đình của Ngài trong các Thánh lễ.

Các lời chia buồn có thể gửi tới đại diện của gia đình: 
Bà Oanh Mai 
2749 Đường Berman, North Aurora, IL 60542

Thay vì dâng cúng hoa, Đức cố GM Dominic Lương yêu cầu thay ngài tặng Tổ chức Bác Ái: 
Catholic Charities of Orange County, Inc. 
1820 East 16th Street 
Santa Ana, CA 92701

Lạy Chúa, Xin ban ánh sáng vĩnh cửu chiếu sáng trên tôi tớ Chúa. Xin cho Linh hồn Dominicô an nghỉ đời đời.

Cáo Phó của giáo phận Orange http://bishopsoffice.us.newsweaver.com/icfiles/200/1000178/1001044/242538/0d9376cccc034d7314678aa9/deathnotification_bishopluong_6dec2017.pdf

Saturday, December 9, 2017

Đức Cha Đôminicô Mai Thanh Lương đã về Nhà Cha trên Trời

Đức cha Dominic Mai Thanh Lương là Giám mục gốc Việt Nam đầu tiên tại Hoa Kỳ, từng giữ chức Giám Mục Phụ Tá của Giáo phận Orange (California) từ năm 2003 đến năm 2015.

Đức Cha Dominic sinh ngày 20 tháng 12 năm 1940 tại huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, thuộc Giáo phận Bùi Chu. Đức Cha còn có một người anh là linh mục Mai Ngọc Lợi, đã qua đời cách đây hơn 1 năm.

Năm 14 tuổi (1954), gia đình di cư vào miền Nam, cư ngụ tại Giáo phận Ðà Nẵng. Năm 16 tuổi, thầy Lương được cử qua Hoa Kỳ học tại Đại chủng viện giáo phận Buffalo (New York) và chủng viện Thánh Bênarđô thuộc Đại học Canisius ở Buffalo. Ngày 21 tháng 5 năm 1966, Thầy Lương được thụ phong linh mục tại Buffalo cho Giáo phận Đà Nẵng ở Việt Nam vì hoàn cảnh bấy giờ ngài không về nước được.

Sau đó phục vụ mục vụ tại giáo phận Buffalo coi nhiều xứ đạo khác nhau.

Trong thời gian này, ngài cũng nhận trách nhiệm làm Tuyên úy cho sinh viên Việt Nam đang du học tại Hoa Kỳ.

Tháng 11 năm 1971, cha Dominic Mai Thanh Lương cùng một số các linh mục đang du học tại Hoa Kỳ, có cha Phạm Minh Hứa, cha Trần Công Nghị, cha Trần Bình Trọng… lập ra Cộng đồng Giáo sĩ và Tu sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ, là tiền thân của Liên Tu Sĩ và Liên Đòan Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Tháng 7 năm 1976, Cha Dominic Lương được Cha John Trần Công Nghị lúc đó là Giám đốc tiên khởi Trung tâm Mục Vụ Công Giáo TGP New Orleans mời về thay thế làm Giám đốc TTMV New Orleans, vì Cha Nghị lúc đó được Đại học Urbano thuộc Bộ Truyền Giáo cấp học bổng trở lại Roma để hòan thành tiến sĩ thần học bên Roma.

Cha Dominic Lương về New Orleans tiếp tục cùng với các Cha Việt Châu, Phạm Văn Tuệ, Trần Cao Tường, Vũ Hân xây dựng Cộng đồng Công Giáo Việt Nam thành một trong những Trung tâm có các sinh họat tôn giáo và văn hóa qui mô nhất Hoa Kỳ. Đặc biệt nhất là 4 Cộng đòan Công Giáo Việt Nam ngay từ tháng 8 năm 1975 đã có các thánh lễ bằng tiếng Việt mỗi ngày. Sau này các Cộng đòan này đều trở thành các Giáo xứ tòng nhân chuyện phục vụ cho người gốc Việt Nam.

Ngày 15 tháng 12 năm 1986, Cha Lương được ban tước vị Ðức ông. Từ năm 1989 đến năm 2003, Ngài được Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ bổ nhiệm làm Liên Lạc Viên giữa Hội Đồng GMKH với các cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ, đồng thời là cha sở Giáo xứ Ðức Maria Nữ vương Việt Nam, tại New Orleans.

Ngày 25 tháng 4 năm 2003, Giáo hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm ngài làm Giám Mục Phụ Tá Giáo phận Orange, nơi có số lượng người Công Giáo Việt Nam nhất tại hải ngoại. Và ngài là Giám mục gốc Việt Nam đầu tiên tại Hoa Kỳ. Đức Cha Mai Thanh Lương được tấn phong Giám mục tại Nhà thờ Thánh Columban ở Garden Grove, California vào ngày 11 tháng 06 năm 2003.

Ngày 20 tháng 12 năm 2015, văn phòng Toà Thánh loan tin Giáo hoàng Phanxicô chấp thuận đơn từ chức của Đức Cha vì lý do tuổi tác theo Giáo luật.

Từ hơn 1 năm qua sức khỏe của Đức Cha Dominic yếu dần, ra vào nhà thương nhiều lần. Gần đây nhất trong vòng hơn 1 tháng qua, ngài đã phải đi lọc máu 3 ngày một tuần, rất mệt nhọc và đau đớn.

Chiều ngày 4 tháng 12, ngài được chở vào emergency của bệnh viện St. Joseph.

Sáng nay khi nghe tin tình trạng của Đức cha Dominic đã bất tỉnh thì Đức Cha Kevin Vann, giám mục GP Orange và cha thư ký Thần Tài đã ghé thăm Đức Cha Dominic và ban phép lành.

Đức cha Dominic đã qua đời lúc 10:20 sáng nay ngày 6/12/2017. Cha Trịnh Minh Thái đã xức dầu và ban các phép cuối cùng cho ngài với sự hiện diện hai thư ký cũ của ngài là Sr. Catherine Nguyễn và chị Jennifer Phạm và bên cạnh những người thân.

Chiều nay thứ Tư (6/12/2017) sẽ có Thánh lễ (tiếng Việt) cầu nguyện cho Đức cố Giám mục Dominic vào lúc 5:30pm tại Arboretum của nhà thờ chính tòa Christ Cathedral (nhà thờ kiếng), xin mời qúi linh mục, tu sĩ và giáo dân đến tham dự cầu nguyện cho linh hồn Đominicô.

Tòa Giám Mục Orange sẽ ra thông báo về chi tiết Thánh lễ an táng cho Đức cha Dominic dự tính sẽ vào tuần tới.

(http://vietcatholic.net/News/Html/240390.htm)

Đọc thêm bài liên quan: 
MOST REV. DOMINIC MAI LUONG, D.D., AUXILIARY BISHOP EMERITUS OF ORANGE, PASSES INTO ETERNAL LIFE

Friday, December 1, 2017

Vấn đề kinh thánh : Anh hay Em ?

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa
29/Nov/2017
http://www.vietcatholic.net/News/html/240312.htm

Nhiều bản dịch Tân Ước của Việt ngữ trước đây đều gọi Anrê là em của Phêrô. Riêng bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ lại gọi Anrê là anh của Phêrô với chú thích là theo truyền thống lịch sử thánh thì Thiên Chúa thường chọn hoặc ưu ái người em hơn là người anh, chẳng hạn như cặp anh em Cain và Abel, Êsau và Giacóp.

Tôi thấy có chút gì không ổn khi dựa vào một tiêu chí nhỏ của thần học Thánh Kinh mà bỏ qua nền văn hóa Do Thái thời bấy giờ vốn tôn trọng tôn ti trật tự khi liệt kê danh sách hay gia phả. Tên của người anh thường được đặt trước người em. Tên của Phêrô thường được kể trước Anrê và tên của Giacôbê được kể trước Gioan.

Ngoài ra xét về lối hành văn thì trong một đoạn ngắn người ta không thể dùng hai kiểu nói khác nhau khi đề cập đến cùng mối liên hệ huyết tộc như nhau (anh em) qua bản tường thuật Chúa gọi bốn môn đệ đầu tiên.

Theo bản dịch của NPDCGKPV “Người đang đi dọc theo biển hồ Galilê, thì thấy hai anh em kia, là ông Simon cũng gọi là Phêrô, và người anh là ông Anrê, đang quăng chài xuống biển….Đi một quãng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dêbêđê, là ông Giacôbê và người em là ông Gioan…” (Mt 4,18-22). “Người đang đi dọc theo biển hồ Galilê, thì thấy ông Simon và người anh là ông Anrê….Đi xa hơn một chút, Người thấy ông Giacôbê, con ông Giêbêđê, và người em là ông Gioan….” (Mc 1,16-20).

Theo bản dịch trong Sách Bài đọc: “…Người thấy hai anh em là Simon, cũng gọi là Phêrô, và Anrê, em ông….Đi xa hơn một đỗi, Người lại thấy hai anh em khác là Giacôbê con ông Giêbêđê, và Gioan em ông đang vá lưới ….”(Mt 4,18-22).

Thánh Công Đồng Vaticanô II dạy, để đọc hiểu Thánh Kinh thì cần chú ý đến nghĩa văn tự cũng như nền văn hóa và phong tục tập quán của bối cảnh lịch sử trước tiên. Vì thế có lẽ việc diễn giải và cả phiên dịch theo ý nghĩa thần học phải đi sau thì mới chuẩn hơn (x. MK số 12).

Xét theo lãnh vực chuyện môn Kinh Thánh, bản thân là “dân ngoại đạo”, vì thế chắc chắn còn nhiều bất cập và sai sót. Tuy nhiên từ bé đến nay vốn quen học và nghe đọc Phêrô là anh của Anrê, bây giờ lại đọc và nghe Anrê là anh của Phêrô thì thấy chút gì hơi khó quen tai vậy thôi.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột

Sunday, November 26, 2017

VỊ GIÁM MỤC CỦA NGƯỜI PHONG CÙI

Nhân lần giỗ thứ 30 của Đức cha Cassaigne 31.10/1973-2003

VỊ GIÁM MỤC CỦA NGƯỜI PHONG CÙI

Lịch sử hình thành giáo phận Đà Lạt luôn gắn liền với tên tuổi của Đức cha Jean Cassaigne- Ngài được mệnh danh là vị Cha hiền của người dân tộc và của những người phong cùi. Hơn nửa cuộc đời Ngài sống ở Việt Nam, phần lớn thời gian ấy Ngài sống với những người phong cùi của miền sơn cước Di Linh. Có thể nói Ngài là người đã khai mở công cuộc truyền giáo cho người bản địa trên cao nguyên hẻo lánh này, mỗi bước chân của Ngài đều để lại dấu ấn yêu thương và đem lại niềm vui hạnh phúc cho những người bất hạnh bị bỏ rơi.

NGƯỜI GIEO GIỐNG TỐT

Đức cha Jean Cassaigne sinh ngày 30.01.1895 tại Toi Urgons-Grenade nước Pháp; thụ phong Linh mục ngày 19.12.1925 thuộc Hội thừa sai Paris; ngày 06.04.1926 Ngài xung phong lên đường sang Đông Dương truyền giáo, sau một tháng lênh đênh trên biển cả Ngài mới cặp bến cảng Sài Gòn , sau đó về Cái Mơn với cha Delignon để học tiếng Việt. Chỉ 5 tháng sau khi đến Việt Nam Ngài được bổ nhiệm làm cha xứ Di Linh, một vùng đất còn hoang sơ của Cao nguyên Trung phần, nơi mà dân cư toàn là người dân tộc thiểu số, cuộc sống thiếu thốn khó khăn mọi bề. Giáo xứ của cha Cassaigne đầu tiên chỉ có 5 giáo dân gồm 3 người Việt , một “anh nuôi” và chú giúp việc. Đến với miền đất mới cha Cassaigne tiếp cận ngay với người dân tộc bản địa; nhưng để có thể trò chuyện thân mật với họ Ngài tức tốc học tiếng, lúc ấy tiếng dân tộc ở miền này chỉ mới là ngôn ngữ để nói chứ chưa có chữ viết. Ngài phải thường xuyên tiếp xúc, lần mò từ từ, và sáng tạo ra cách phiên âm, chẳng lâu sau đó Ngài đã hiểu , nói thông thạo tiếng bản địa, Ngài còn dịch được một số kinh, bài hát ra tiếng dân tộc; độc đáo hơn, ngày 28.12.1929 lần đầu tiên một cuốn tự điển tiếng K’Ho do Ngài biên soạn được xuất bản trước sự thán phục của nhiều người.

Buổi đầu về nhận xứ Ngài bận bịu với biết bao công việc, một mặt lo truyền đạo, dạy đạo, mặt khác là nâng cao đời sống, dân trí cho bà con, ban ngày Ngài qui tụ trẻ em để dạy chữ, chiều đến phải lo cho các lớp giáo lý tân tòng, sau giờ cơm tối lại dạy học cho người lớn. Đâu chỉ có thế, lúc ấy Ngài còn có biệt danh”Oâng lớn làm thuốc”, bất cứ ai đau ốm đều tìm đến Ngài để được chữa trị hoặc được phát thuốc, mọi người qúi mến Ngài, xem Ngài như vị cha chung. Sự tận tâm tận lực của Ngài đối với những người nghèo, người phong cùi cùng với sự tác động của Thánh thần chiều ngày 7.12.1927 một người phong cùi trong cơn nguy tử đã xin Cha Cassaigne rửa tội. Ngài sung sướng thốt lên:” Đây là niềm vui vĩ đại đầu tiên từ sau ngày mình được chịu chức và dâng lễ mở tay”.Kể từ đó số giáo dân bắt đầu tăng lên, một năm sau giáo xứ Di Linh đã có 48 tín hữu, và cứ tăng dần theo thời gian, bao lao nhọc , vất vả của “người gieo giống” nay đã tới mùa gặt hái…

CHA CỦA NHỮNG NGƯỜI BỊ XUA ĐUỔI

Dù bận bịu trăm công nghìn việc nhưng Cha Cassaigne vẫn dành nhiều thời gian để tìm đến với những người phong cuì bị gia đình, dòng họ ruồng rẫy, xua đuổi vào chốn rừng sâu mặc cho bệnh tật, đói lạnh, có khi họ còn làm mồi cho thú rừng. Sau những lần băng rừng lội suối đem lương thực, thuốc men đến cho họ, Ngài càng cảm thương trước những số phận hẩm hỉu ấy. Một lần cuối mùa thu năm 1928, , khi đang một mình băng qua đường rừng vắng đến thăm một buôn làng ở xa, thì một đoàn 10 người phong cùi rách rưới, dơ bẩn nằm la liệt trên đường kêu gào thảm thiết, họ sụp lạy dưới chân Ngài và xin Ngài cứu giúp họ. Ngài không cầm được nước mắt, hình ảnh những người xấu số cứ ám ảnh tâm trí, nhiều đêm trằn trọc không ngủ được vì Ngài luôn nghĩ đến những thân phận bị ruồng bỏ, bị loại trừ. Tình yêu thương đã thôi thúc Ngài lập làng cùi, những chòi nhà sàn đơn sơ được dựng lên ở khu đất trống dưới chân đồi gần mé ruộng cách nhà xứ KaLa gần 1km. Có nhà rồi ,Ngài lại băng rừng , kiếm tìm và đưa họ về chung sống, để chăm sóc và chữa trị bệnh tật trước sự “ghê tởm” của không ít người. Thật may mắn ngày 11.04.1929 làng cùi chính thức được công nhận và được trợ cấp của chính quyền, lúc ấy đã qui tụ được 21 người, họ yên tâm vui sống bên cạnh người cha hiền, không còn sợ sự nghi kỵ, xa lánh của người thân, họ hàng… Một thánh lễ đầu tiên được cử hành trong một nhà nguyện nhỏ ngay tại làng cùi ngày 15.03.1936 thật đầm ấm và dạt dào yêu thương. để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp trong những người phong cùi.

Thời điểm này các nữ tu dòng Nữ tử bác ái Vinh Sơn được mời đến để cùng cha Cassaigne chăm sóc người phong cùi.Các nữ tu kể lại rằng cha Cassaigne sống rất đơn sơ, nghèo khó, hễ ai biếu tặng gì Ngài đều chia sẻ , phân phát cho người phong cùi không giữa riêng cho mình bất cứ gì, từ thức ăn, thức uống, quần áo, thuốc men… nhiều năm Ngài sống trong nghèo khó, bệnh tật; có những lần bệnh sốt rét hành hạ, Ngài nằm li bì cả tuần lễ không ăn uống gì, không hề phàn nan hay kêu trách… sức khỏe Ngài suy sụp mau lẹ, nhưng khi khỏe lại Ngài lại tìm đến ngay với những người phong cùi,người nghèo ở khắp các buôn làng.

ĐẾN VỊ GIÁM MỤC CỦA LÀNG CÙI!

Ngày lễ kính thánh Gioan Baotixita 24.06.1941 một sự kiện trọng đại đã đến với vị Cha hiền của người dân tộc và những người phong cùi ,khi Ngài được tấn phong Giám mục và là Giám quản Tông tòa Giáo phận sài Gòn . Nhưng sau 14 năm,khi bước vào tuổi 60 (cuối năm 1955) Ngài xin từ chức để nghỉ hưu và tình nguyện về lại Di Linh để phục vụ làng cùi. Tại sao Ngài làm như vậy? Thật đơn giản, vì suốt 14 năm làm Giám quản một Giáo phận lớn nhưng dường như tâm trí và trái tim của Ngài phần lớn vẫn dành cho những bệnh nhân phong, những người bị ruồng bỏ nơi chốn rừng sâu hoang vắng trên cao nguyên Di Linh. Không thể diễn tả hết niềm vui của những người con cái sống tại làng cùi khi biết người cha hiền trở về để chung sống với họ trong tuổi gìa. Những tháng ngày “ hưu dưỡng” do tuổi cao và bệnh tật nên sức khoẻ của Ngài càng yếu dần, nhưng ngược lại tình yêu thương bao la của vị mục tử nhân lành lại càng triển nở, Ngài chính là chỗ dựa vững chắc cho những mảnh đời bất hạnh ,xấu số ,bị bỏ rơi…Ngài còn là mẫu gương tuyệt vời của đời sống chứng nhân , chính cách sống giản dị, tận tuỵ hy sinh, quan tâm và yêu thương hết thảy mọi người đã và đang dẫn lối cho biết bao người nhận ra ánh sáng của Tin Mừng. Ngài ra đi ở tuổi 78, để lại bao niềm thương tiếc. Nữ tu Mai Thị Mậu kể lại rằng: Ngày lễ an tang của Ngài tất cả bệnh nhân phong, bà con giáo dân, và đông đảo người lương quanh vùng đều để tang, khóc lóc thảm thiết đưa tiễn người Cha nhân lành đến nơi an nghỉ cuối cùng. Theo nguyện vọng lúc còn sống, Ngài được an táng cạnh nhà thờ, gần tháp chuông, để luôn luôn hiện diện giữa đoàn con đáng thương của mình. Tuy Ngài ra đi đã 30 năm, nhưng hình ảnh của Ngài chưa một lần phai nhòa trong tâm trí những người phong cùi và bà con giáo dân, ngày ngày họ đi lễ không quên ghé lại phần mộ của Ngài để đọc kinh, dâng nén nhang, cắm lên một nhành hoa rừng để tỏ lòng kính yêu và biết ơn vô vàn.

Hôm nay có dịp đến với Khu điều trị bệnh nhân phong Di Linh mọi người có thể gặp lại hình ảnh của vị mục tử nhân lành ngay trong phòng lưu niệm cạnh nhà thờ. Những gì Đức Giám mục Cassaigne làm cho Giáo phận Đà Lạt noí riêng , cho Giáo hội nói chung đến nay vẫn còn nguyên vẹn gía trị và đang được nhiều người khác tiếp nối.

HOÀI NHÂN
(http://www.simonhoadalat.com/DIAPHAN/TRUYENGIAO/GMNguoiCui.htm)

Friday, November 24, 2017

Lc 19,11-28 Dụ Ngôn Mười Nén Bạc

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán thêm một dụ ngôn nữa, vì Người đã đến gần Giêrusalem, mà dân chúng lại cứ tưởng là Nước Thiên Chúa sắp xuất hiện trong giây lát. Vậy Người phán rằng:

"Có người quý tộc kia đi phương xa để được phong vương rồi trở về. Ông cho gọi mười người tôi tớ đến, giao cho họ mười nén bạc và dặn rằng: 'Hãy làm lợi cho đến khi ta trở về'. Nhưng các người dân của ông ấy ghét ông, sai người đi theo mà rằng: 'Chúng tôi không muốn ông ấy làm vua chúng tôi'. Được phong vương rồi ông trở về, cho gọi các tôi tớ mà trước kia ông đã giao tiền cho, để biết mỗi người đã làm lợi được bao nhiêu.

"Người thứ nhất đến và thưa: 'Tâu vua, nén bạc của vua đã sinh lợi được mười nén'. Nhà vua bảo: 'Được, hỡi người tôi tớ tốt lành, ngươi đã trung tín trong điều nhỏ mọn, ngươi sẽ được quyền cai trị mười thành'. Người thứ hai đến thưa: 'Tâu vua, nén bạc của vua đã sinh lợi được năm nén'. Nhà vua đáp: 'Ngươi cũng vậy, hãy cai quản năm thành'.

"Người thứ ba đến thưa: 'Tâu vua, đây nén bạc của vua, tôi còn giữ trong khăn, vì tôi sợ ngài: ngài là người hà khắc, và lấy cái ngài không gửi, gặt cái ngài không gieo'. Vua phán rằng: 'Hỡi đầy tớ bất lương, ta cứ lời ngươi mà xử ngươi. Ngươi đã biết ta là người hà khắc, lấy cái ta không gửi, gặt cái ta không gieo, sao ngươi không gửi bạc ta ở ngân hàng, để rồi khi ta trở về, ta có thể lấy cả vốn lẫn lời'.

"Vua liền bảo những người đứng đó rằng: 'Hãy lấy nén bạc của nó mà trao cho người đã có mười nén'. Họ tâu rằng: 'Tâu vua, người ấy đã có mười nén rồi'. Vua đáp: 'Ta nói cùng các ngươi: Ai có sẽ cho thêm, và người đó sẽ được dư dật; còn ai không có, người ta sẽ lấy đi cả cái nó đang có. Còn những kẻ nghịch cùng ta, không muốn ta làm vua, hãy đem chúng ra đây và giết chúng trước mặt ta". Nói thế rồi Chúa liền dẫn họ lên Giêrusalem. 

Đó là lời Chúa.

Sunday, November 19, 2017

Mátthêu 25,14-30 Dụ Ngôn Các Nén Bạc

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ dụ ngôn này rằng: "Có một người kia sắp đi xa, liền gọi các đầy tớ đến mà giao phó tài sản của ông. Ông trao cho người này năm nén bạc, người kia hai nén, người khác nữa một nén, tuỳ theo khả năng của mỗi người, đoạn ông ra đi.

"Người lãnh năm nén bạc, ra đi và dùng tiền ấy buôn bán làm lợi được năm nén khác. Người lãnh hai nén cũng đi làm lợi được hai nén khác. Còn người lãnh một nén, thì đi đào lỗ chôn giấu tiền của chủ mình.

"Sau một thời gian lâu dài, ông chủ các đầy tớ ấy trở về và đòi họ tính sổ. Vậy người lãnh năm nén bạc đến, mang theo năm nén khác mà nói rằng: 'Thưa ông, ông trao cho tôi năm nén bạc, đây tôi làm lợi được năm nén khác'. Ông chủ bảo người ấy rằng: 'Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi làm những việc lớn, ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi'. Người đã lãnh hai nén bạc cũng đến và nói: 'Thưa ông, ông đã trao cho tôi hai nén bạc; đây tôi đã làm lợi được hai nén khác'. Ông chủ bảo người ấy rằng: 'Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi làm những việc lớn, ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi'.

"Còn người lãnh một nén bạc đến và nói: 'Thưa ông, tôi biết ông là người keo kiệt, gặt nơi không gieo và thu nơi ông không phát: nên tôi khiếp sợ (mà) đi chôn giấu nén bạc của ông dưới đất. Đây của ông, xin trả lại cho ông'. Ông chủ trả lời người ấy rằng: 'Hỡi đầy tớ hư thân và biếng nhác, người đã biết ta gặt chỗ không gieo, thu nơi không phát: vậy lẽ ra người phải giao bạc của ta cho người đổi tiền, và khi ta trở về, ta sẽ thu cả vốn lẫn lời. Bởi thế, các ngươi hãy lấy nén bạc lại mà trao cho người có mười nén. Vì người có sẽ cho thêm và sẽ được dư dật, còn kẻ chẳng có, thì vật gì coi như của nó, cũng lấy đi. Còn tên đầy tớ vô dụng, các ngươi hãy ném nó ra ngoài vào nơi tối tăm, ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng'".

Sunday, November 12, 2017

VÀO GIỜ ẤY CHÚNG TA TRONG TÌNH TRẠNG NÀO?

Suy niệm Chúa Nhật XXXII thường niên của Lm. Mark Link, S.J.

Chủ đề: “Ngày cuối cùng sẽ đến bất ngờ, vì vậy hãy sẵn sàng.”

1900 năm trước đây, núi lửa Vesuvius đã phun lên ở Italy. Khi núi lửa ngưng phun lửa, thành phố Pompél đã bị chôn dưới lớp phún thạch dầy tới 18 bộ (gần 6mét). Thành phố vẫn giữ nguyên dạng như thế mãi đến thời gian gần đây, khi các nhà khảo cổ khai quật nó lên. Mọi người ai cũng phải ngạc nhiên về những điều họ khám phá được. Có những ổ bánh mì cháy thành than, trái cây vẫn còn bốc mùi, những trái ô liu vẫn còn nổi trong chảo dầu. Tuy nhiên, có những khám phá khiến người ta còn sửng sốt hơn. Phún thạch đã làm đông cứng mọi người ngay trong tư thế họ đang có khi cơn đại hoạ đổ xuống. Các thân xác người ta đều bị hư hoại. Trong khi hư hoại, chúng để lại những lỗ trống trong lớp tro cứng. Dùng cách đổ dung dịch thạch cao vào những lỗ trống, các nhà khảo cổ học có thể khôi phục lại hình các nạn nhân. Một số nạn nhân này đã gây xúc động. Chẳng hạn có một thiếu phụ đang quấn chặt đứa con trong đôi tay mình, hoặc một lính gác Roma đang đứng thẳng người tại trạm gác, trên người trang bị vũ khí đầy đủ. Anh ta vẫn trầm lặng trung tín với phận sự tới phút cuối cùng. Nạn nhân thứ ba là một người đàn ông tay cầm gươm đứng trong tư thế thẳng tắp, chân anh ta đang đặt trên một đống vàng và bạc Rải rác quanh anh ta là năm xác khác có lẽ là những kẻ dự định cướp của đã bị anh ta giết chết.

Những khuôn thạch cao trên minh hoạ sống động cho hai chủ đề trong các bài đọc hôm nay. Chủ đề thứ nhất là ngày tận thế và cuộc giáng lâm lần thứ hai của Chúa Giêsu sẽ xẩy đến bất ngờ. Hai biến có này sẽ đến mà không hề báo trước. "Như một tên trộm viếng vào ban đêm". (1 Tx 5: 2). Hai biến cố ấy đến bất chấp những kẻ được ái mộ, bất chấp chúng ta giàu hay nghèo, trẻ hay già, nổi danh hay vô danh, da trắng, da vàng, da đen hay da nâu.

Hai biến cố ấy sẽ xảy đến thình lình với tất cả mọi người. Ðiều đó dẫn chúng ta đến chủ đề thứ hai của bài đọc hôm nay là chúng ta hãy sẵn sàng đón ngày cuối đời mình. Khi giờ chết đến, chúng ta có sẵn sàng như các cô phù dâu khôn ngoan kia không? Hay giờ chúng ta chẳng chuẩn bị gì cả giống như các cô phù dâu khờ dại? Liệu chúng ta có sẽ phải nghe những lời kinh khiếp: "Ta không biết các ngươi". Như đám phù dâu khờ dại này đã được nghe khi họ gõ cửa không?


Hay vào giờ cuối cùng chúng ta có giống anh chàng ở thành Poméi đang nắm chặt cây gươm đứng trên đống vàng bạc vô dụng không?

Hay giờ ấy chúng ta sẽ giống như bà mẹ đang ôm chặt con mình một cách yêu thương chăng?

Hay giờ ấy chúng ta giống như anh lính gác Roma đang trong tư thế trung thành với bổn phận của mình?

Hai chủ đề của các bài đọc hôm nay: một là ngày cuối cùng đến bất ngờ, và hai là bổn phận chúng ta phải sẵn sàng cho ngày ấy là hai chủ đề nghiêm chỉnh, đòi chúng ta phải đưa ra quyết định bởi vì đây là những chủ đề có thể đổi thay cuộc sống chúng ta. Ðây không phải là những chủ đề mà chúng ta có thể lắng nghe một cách vô tư, cũng chẳng phải là những chủ đề mà chúng ta có thể tuỳ tiện bỏ mặc. Những chủ đề này hàm chứa sức mạnh của gươm hai lưỡi mà thư gởi tín hữu Do Thái đã đề cập tới; "Lời Chúa sắc bén hơn bất kỳ gươm hai lưỡi nào. Lời Ngài phân chia hồn, linh, cốt, tuỷ, xem xét tư tưởng và ý muốn trong lòng người. Chẳng có vật nào giấu kín được trước mặt Chúa, mọi sự đều trần trụi và phơi bày ra trước mặt Ðấng mà chúng ta phải tự mình trả lẽ" (Dt 4: 12-13).

Các chủ đề hôm nay nói về sự bất ngờ và sự sẵn sàng là những chủ đề thích hợp mà Hội Thánh trình bày cho chúng ta vào những ngày cuối năm phụng vụ. Ðây cũng là chính là hai chủ đề Chúa Giêsu đặt ra cho các môn đệ vào lúc cuối đời Người. Các chủ đề hôm nay nói về sự bất ngờ và sự sẵn sàng để mời gọi chúng ta hãy tự vấn về lối sống của mình xem có giống như đám phù dâu khờ dại hay giống đám phù dâu khôn ngoan.

Nếu giống đám phù dâu khờ dại thì chúng ta không nên ngã lòng bởi vì vẫn còn thời gian để sửa đổi tình cảnh. Còn nếu giống đám phù dâu khôn ngoan thì chúng ta hãy cảm tạ Chúa về ân sủng và sự khôn ngoan đã giúp chúng ta nghe theo lời Người.

Chúng ta hãy kết thúc với mẫu chuyện sau. Mẫu chuyện này sẽ giúp minh hoạ cho những gì các bài đọc hôm nay đang mời gọi chúng ta thực hiện.

Cách đây nhiều năm, nghệ sĩ William Gargan khám phá mình mắc bệnh ung thư. Khôi hài thay, ngay vào lúc đó, chàng lại đang thủ vai một nạn nhân bị ung thư trong vở The Best Man (người giỏi nhất). 36 tiếng đồng hồ sau khi phát hiện ra ung thư, Gargan đã được đem đi giải phẫu. Khi nhìn lại 36 tiếng đồng hồ này, Gargan nói rằng chàng đã học được hai điều quan trọng về chính mình: thứ nhất chàng nhận thấy mình không hề sợ chết. Chàng đã chuẩn bị cho giờ chết đang khi còn sống bình thường. Thứ hai, chàng biết được Chúa Giêsu là bạn mình. Ngay từ hồi còn trẻ, Gargan đã có quen thưa chuyện với Chúa Giêsu hàng ngày. Chàng đã quen xử dụng những lời cầu nguyện đã thuộc nằm lòng. Giờ đây, trong giờ phút quan yếu này, những lời cầu nguyện ấy khiến chàng ý thức được mối thân tình với Chúa Giêsu mà những lời cầu nguyện ấy đã tạo cho chàng. Ðó là những lời cầu nguyện quen thuộc mà có thể một số anh chị em vẫn đọc. Ðó là "Lời cầu nguyện dâng lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh" thường đọc sau rước lễ:

Lạy Ðức Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường. Này con đang quì gối trước mặt Chúa, và hết lòng gắn bó nài xin Chúa: ban cho được lòng tin cho mạnh, lòng cậy cho bền, lòng kính mến cho sốt sắng, lòng ăn năn tội cho thật, lòng chừa cải cho vững. Ðang khi con lo buồn đau đớn mà suy gẫm 5 dấu thánh Chúa, thì lòng con hằng nhớ lời vua thánh Ðavid phán tiên tri về Chúa con rằng: "Quân dữ đã đâm thủng chân tay của tôi và phơi bày các xương tôi ra".

Amen.